MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong sự phát triển của mình, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào cũng đều kế
thừa những truyền thống tốt đẹp mà thế hệ trước để lại để vươn tới trình độ
mới cao hơn, đó chính là biện chứng của sự phát triển. Từ lịch sử dựng nước
và giữ nước hàng nghìn năm, ông cha ta đã rút ra nhiều bài học quý báu, cả
trong đối nội và đối ngoại. Ví như, trong quan hệ cộng đồng, mặc dù đất nước
có nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau, nhưng tinh thần chung là: “Bầu ơi
thương nấy bí cùng / Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”; thái độ đối
với những người mắc lỗi lầm nhưng biết ăn năn hối cải thì: “đánh kẻ chạy đi
không ai đánh người chạy lại”; còn đối với kẻ thù xâm lược khi đã đầu hàng:
“Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng / Ta lấy toàn quân là hơn để
nhân dân nghỉ sức”… Nhờ thực hiện những tinh thần ấy, toàn dân tộc đã đoàn
kết, thống nhất, đồng sức, đồng lòng chống thiên tai, giặc ngoại xâm, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế, do chú ý phát huy truyền
thống khoan dung, tăng cường đồng thuận xã hội nên sự nghiệp cách mạng
nước ta đã đạt những thành tựu to lớn: chính trị ổn định, an ninh - quốc phòng
được giữ vững, các vấn đề văn hóa – xã hội bức xúc từng bước được giải
quyết, khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được mở rộng, củng cố
vững chắc, đi vào chiều sâu. Đúng như nhận định của Văn kiện Đại hội XI:
“Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục
được mở rộng và tăng cường trên cơ sở thống nhất về mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [27, tr.158].
1
Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phấn đấu đưa nước ta
đến năm 2020 về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, một
trong những động lực quan trọng để đạt mục tiêu trên được Đảng ta xác định
là xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Muốn vậy, phải tìm ra điểm tương
đồng, “mẫu số chung” để quy tụ tất cả các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn
làm thế nào để các ý kiến khác nhau được tôn trọng nhưng vẫn giữ vững được
vai trò lãnh đạo của Đảng, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa ?
Năm là, những diễn biến phức tạp trên biển Đông gần đây đòi hỏi cả dân
tộc phải đoàn kết, thống nhất để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc. Nhưng, một bộ phận nhỏ quần chúng nhân nhân, vì bất bình
trước các hành vi ngang ngược của Trung Quốc đã có những hành động tự
phát, thiếu kiềm chế với một số doanh nghiệp, doanh nhân, công nhân người
nước ngoài. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến truyền thống yêu
chuộng hòa bình, hòa hiếu, sức mạnh chính nghĩa của dân tộc trong con mắt
bạn bè quốc tế.
Những yếu tố trên đang tác động bất lợi đến quy tụ sức mạnh toàn dân tộc
để thúc đẩy quá trình đổi mới tiến lên. Trong bối cảnh đó, phát huy truyền
thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội càng trở thành vấn đề
có tính chất quyết định. Có thể nói rằng: chưa bao giờ sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phải phát huy tối đa sức mạnh toàn dân tộc gắt gao
như hiện nay. Cũng chưa bao giờ sức mạnh dân tộc đòi hỏi nhất thiết phải
được xác lập trên cơ sở phát huy sự giác ngộ và khả năng cống hiến của từng
thành viên trong cộng đồng dân tộc như hiện nay. Điều này có nghĩa: dưới sự
lãnh đạo của Đảng, phát huy cho được truyền thống khoan dung nhằm tăng
3
cường đồng thuận xã hội phải được xem là yếu tố chiến lược, quyết định sự
thành bại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và cả tương lai.
Với những lý do đó, chúng tôi chọn vấn đề: “Phát huy truyền thống
khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở Việt Nam hiện nay” làm
đề tài cho luận án Tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học của mình.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ
2.1. Mục tiêu: trên cơ sở nghiên cứu truyền thống và thực trạng thực hiện
khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội của dân tộc, luận án đề xuất
một số quan điểm, giải pháp chủ yếu để tiếp tục phát huy truyền thống này ở
Việt Nam hiện nay.
Bốn là, luận án đã đề xuất sáu quan điểm, bốn nhóm giải pháp phát huy truyền
thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận: luận án góp phần phát triển thêm một bước nhận
thức về khoan dung, đồng thuận xã hội; vai trò của khoan dung đối với xây
dựng đồng thuận xã hội; từ đó, tổng kết thực tiễn lịch sử dân tộc trong việc
phát huy tinh thần khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội, đoàn kết
dân tộc trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu, giảng dạy các nội dung có liên quan mà luận án đã trình bày;
5
cung cấp cơ sở lý luận cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách về khoan
dung, đồng thuận xã hội; phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường
đồng thuận xã hội ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác
giả đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương, 11 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Những công trình nghiên cứu về khoan dung
6
Khoan dung là một trong những vấn đề xuất hiện khá sớm trong lịch sử
và tư tưởng nhân loại; đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
nhau: triết học, tôn giáo học, đạo đức học, văn hóa học, chính trị học…Trong
thời gian gần đây, khi trên thế giới xuất hiện nhiều cuộc chiến tranh, xung đột
liên quan đến các vấn đề dân tộc, sắc tộc, tôn giáo thì khoan dung lại càng được
quan tâm nghiên cứu với mong muốn đưa nó thành một giải pháp để tránh
xung đột, mang lại hòa bình cho nhân loại. Một số công trình tiêu biểu gần đây:
Avery Patricia, Phát triển khoan dung chính trị [54]; trên phương diện
khoan dung trong giai đoạn hiện nay: “toàn cầu hóa dẫn tới sự giao lưu, tiếp
xúc giữa các dân tộc, tôn giáo, các nền văn hóa khác nhau. Trong khi đó, cả
nhân loại đều có mục tiêu chung là duy trì hòa bình để tồn tại và phát triển.
Do vậy, chấp nhận sự khác nhau để cùng tồn tại, phát triển là yêu cầu tất yếu
của thời đại hiện nay [83, tr.110-117]. Về khoan dung Việt Nam, tác giả cho
rằng: “Đối với dân tộc ta, khoan dung là nhằm xây dựng đoàn kết dân tộc,
hướng đến bảo vệ, phát triển nền văn hóa của dân tộc. Đồng thời, nó thể hiện
rằng, mục đích cao nhất của khoan dung là nhằm xây dựng cuộc sống hòa
bình cho đất nước” [83, tr.139-140]. Về các giải pháp nâng cao chất lượng
khoan dung ở Việt Nam, tác giả đề xuất: “để cho việc bảo vệ và phát huy giá
trị đạo đức khoan dung truyền thống có hiệu quả hơn thì công tác giáo dục
trong và ngoài nhà trường cần được coi trọng hơn” [83, tr.142].
Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuấn, Bàn về khoan dung trong
văn hóa [151]; đây là công trình nghiên cứu khoan dung dưới phương diện văn
hóa học. Quan niệm về khoan dung, các tác giả cho rằng đó là thái độ: “phê
phán cái sai, lên án cái xấu, cái ác để cùng nhau hướng tới các giá trị chân,
thiện, mỹ” [151, tr.13]. Về lịch sử hình thành, phát triển tư tưởng khoan dung,
8
các tác giả đã chỉ rõ: “Những nội dung chính của khoan dung đã có trong các
nền văn hóa Đông – Tây từ thời cổ đại” [151, tr.9]. Về khoan dung Việt Nam,
theo các tác giả, cơ sở hình thành khoan dung Việt Nam bao gồm bốn yếu tố:
cơ tầng văn hóa Đông Nam Á, văn hóa lúa – văn hóa xóm làng; truyền thống
tiếp xúc, giao lưu, tích hợp của văn hóa; ý thức và tình cảm tự tôn dân tộc –
quốc gia; nền phong hóa thuần hậu [151, tr.197-231]. Về phương hướng và giải
pháp cơ bản để phát huy truyền thống khoan dung Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hóa, các tác giả đề xuất ba giải pháp lớn: từ thích nghi đến khoan
dung, từ giải phóng cá nhân đến khoan hòa giữa cá nhân và cộng đồng; xây
dựng môi trường văn hóa cho sự khoan dung; xây dựng gia đình văn hóa mới
[151, 297].
Đỗ Lan Hiền, Khoan dung tôn giáo với dân chủ, đoàn kết và đồng
sáng Pháp. Tác giả chỉ ra một số đặc điểm nổi bật của tư tưởng khoan dung
giai đoạn này là: khuynh hướng đa thần, đấu tranh cho các quyền tự do cá
nhân, chấp nhận sự đa dạng văn hóa thế giới Tác giả đi đến kết luận: “Tư
tưởng khoan dung trong triết học Khai sáng Pháp đã bao chứa phần lớn những
nội dung quan trọng của quan điểm khoan dung được áp dụng trong thời đại
toàn cầu hoá, thời đại mà con người ngày càng nhận thấy – rõ rệt hơn nhiều
so với thời kỳ Khai sáng ở thế kỷ XVIII – rằng, thế giới là một tổng hợp
những sự khác biệt về văn hoá, về niềm tin, về tư tưởng…” [142, tr.62].
Trần Nguyên Việt, Tư tưởng khoan dung của Khổng Tử và sự thể hiện nó
ở Nguyễn Trãi [149]; trong bài viết, tác giả đã làm rõ quan điểm khoan dung
của Khổng Tử và so sánh với quan điểm khoan dung của Nguyễn Trãi. Theo tác
giả, mặc dù chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, song, tư tưởng khoan dung
của Nguyễn Trãi có ý nghĩa nhân văn, rộng mở hơn, thể hiện ở đạo lý nhân
10
nghĩa, tư tưởng vì dân và theo dân, sự chấp nhận các học thuyết ngoài Nho
giáo.
Đỗ Minh Hợp, Đối thoại giữa các nền văn minh theo tinh thần khoan
dung – Nhân tố quyết định sự sống còn và thịnh vượng của nhân loại [50]; bài
viết đề cập đến một vấn đề thời sự liên quan đến toàn cầu hóa đó là đối thoại
giữa các nền văn minh. Trên cơ sở làm rõ sự cần thiết của đối thoại trên tinh
thần khoan dung – một chủ đề đang được thảo luận sôi nổi trên diễn đàn triết
học thế giới, tác giả bài viết đã đi đến khẳng định: Đối thoại giữa các nền văn
minh theo tinh thần khoan dung sẽ góp phần tạo ra một thế giới thống nhất
trong đa dạng, một thế giới được cấu thành từ nhiều nền văn minh độc đáo
đang tương tác với nhau, và đó sẽ là một thế giới hòa bình, hợp tác, hữu nghị
và thịnh vượng. Trong đó, đối thoại trên tinh thần khoan dung trở thành hình
thức giao tiếp phổ biến, nhân tố đảm bảo sự sống còn và thịnh vượng cho mỗi
con người và cả cộng đồng nhân loại.
Phạm Xuân Nam, Đối thoại văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa [89];
trong bài viết này, thông qua việc phân tích bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay,
Nguyễn Đức Lữ, Tính khoan dung của tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam
[75, tr. 563-570], trên phương diện tôn giáo học, tác giả đã làm rõ cơ sở hình
thành, biểu hiện cụ thể của tính khoan dung trong tôn giáo, tín ngưỡng người
Việt. Khoan dung tôn giáo Việt Nam, biểu hiện ở sự tiếp nhận hòa bình các tôn
giáo bên ngoài, sự kết hợp, dung hòa các giáo lý tôn giáo, đối tượng thờ phụng.
Theo tác giả, biểu hiện rõ nhất khoan dung tôn giáo ở Việt Nam là mặc dù có
nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng Việt Nam không hề có chiến tranh tôn giáo.
12
Hoàng Thị Thơ, Khoan dung trong lịch sử phật giáo Ấn Độ và phật
giáo Việt Nam [118, tr.571-581], trong bài viết này, tác giả đã phân tích
những biểu hiện cụ thể của tính khoan dung trong Phật giáo nguyên thủy Ấn
Độ và Phật giáo Việt Nam. Qua đó, luận chứng cho vai trò của Phật giáo
trong bối cảnh toàn cầu hóa, tìm kiếm một gợi mở về khoan dung và khoan
dung tôn giáo đối với đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc để có thể đóng
góp cho Việt Nam nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng hiện nay.
Đỗ Thị Hòa Hới, Tính khoan dung của văn hóa truyền thống dân tộc và
sự kế thừa, phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh [48, tr.545-555]. Trong bài
viết, tác giả đã chỉ ra một số biểu hiện của tính khoan dung trong văn hóa
truyền thống Việt Nam như: sự tiếp biến các giá trị văn hóa bên ngoài làm
phong phú thêm giá trị văn hóa dân tộc, sự tha thứ cho kẻ thù xâm lược khi
chúng đã quy hàng. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã kế thừa và phát triển
tính khoan dung của văn hóa truyền thống lên tầm cao mới: “Trong văn hóa
truyền thống Việt Nam, khoan dung vừa là một phẩm chất, một đặc điểm, vừa
là hệ quả của quá trình hình thành và phát triển văn hóa truyền thống dân tộc
Hồ Chí Minh là người đã kế thừa và phát triển những nội hàm mới của tính
khoan dung trong văn hóa truyền thống dân tộc lên tầm cao mới, đưa nó trở
thành một nhân tố của đòi sống thực tiễn cách mạng Việt Nam” [48, tr. 555].
Gần đây, một số công trình đã tiếp cận truyền thống khoan dung Việt Nam
trên phương diện chính trị; biểu hiện rõ nhất là tư tưởng “khoan thư sức dân”.
Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh, Bước đầu
gia, dân tộc xích lại gần nhau, nhưng vẫn còn đó những khác biệt về thể chế
chính trị, văn hóa, tôn giáo
14
Bốn là, về khoan dung Việt Nam, các tác giả có chung nhận định:
khoan dung là truyền thống của người Việt; nó thể hiện trên mọi phương diện:
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Điểm khác biệt trong tư tưởng khoan dung
Việt Nam là coi khoan dung như một hình thức cai trị: “chính sự cốt chuộng
khoan dung, giản dị”; động lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “khoan thư
sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.
Tuy nhiên, trong các công trình kể trên, chưa có công trình nào nghiên
cứu khoan dung dưới phương diện chính trị - xã hội (thuộc phạm vi chuyên
ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học).
1.2. Những công trình nghiên cứu về đồng thuận xã hội
Đồng thuận xã hội là một khái niệm mới xuất hiện trong thời gian gần đây
ở nước ta. Đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề này ở nhiều phương
diện khác nhau. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu gần đây:
Phạm Ngọc Quang, Quan điểm, định hướng và giải pháp thực hành dân
chủ, đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thuận xã hội [102]; trong công trình này,
các tác giả đã bước đầu đưa ra khái niệm đồng thuận xã hội, mối quan hệ giữa
phát huy dân chủ, đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thuận xã hội. Trình bày
thực trạng đồng thuận xã hội nước ta hiện nay trên các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, xã hội, tư tưởng. Công trình cũng đã đề xuất một số quan điểm, định
hướng, giải pháp thực hiện dân chủ, đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thuận xã
hội nước ta hiện nay.
Đỗ Lan Hiền, Khoan dung tôn giáo với dân chủ, đoàn kết và đồng thuận
xã hội – Trường hợp Việt Nam [45]. Về đồng thuận xã hội, tác giả cho rằng:
“là phương thức tập hợp lực lượng dựa trên những tiêu chí mà các giai cấp,
tầng lớp, các lực lượng xã hội dù có lợi ích khác nhau những vẫn có thể gắn
15
kết ở mức độ nhất định mà vẫn bảo tồn được những đặc thù riêng của mình,
đã tập trung làm sáng tỏ bốn vấn đề chính sau: một là, trình bày quan điểm
của tác giả về khái niệm đồng thuận xã hội; hai là, phân tích các đặc điểm và
bản chất của đồng thuận xã hội; ba là, phân tích vai trò của đồng thuận xã hội
với tư cách vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội; bốn là,
làm rõ những cơ sở chủ yếu để xây dựng đồng thuận xã hội. Về khái niệm
đồng thuận xã hội, tác giả cho rằng: Đồng thuận xã hội là sự đồng tình, nhất
trí hay tán thành, ủng hộ một cách rõ ràng hay ngầm định của đa số các thành
viên trong xã hội đối với một vấn đề nào đó (chẳng hạn một quan điểm, một
chủ trương, đường lối, chính sách, quyết định ) trên cơ sở những điểm tương
đồng và cùng chung mục đích” [141, tr.26].
Hoàng Chí Bảo, Dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội trong phát triển
bền vững [10, tr. 426-444]. Trong bài viết, trên cơ sở làm rõ mối quan hệ giữa
văn hóa và phát triển bền vững, tác giả đã luận chứng cho quan điểm: dân chủ,
đoàn kết, đồng thuận – là những giá trị văn hóa của phát triển bền vững trong
giai đoạn hiện nay. Theo tác giả: “dân chủ, đoàn kết và đồng thuận là những
giá trị cơ bản của xã hội, là những động lực chủ yếu của phát triển, đồng thời
cũng là những tiêu chí không bao giờ được xem nhẹ, càng không thể lãng quên
trong đánh giá về tiến bộ xã hội” [10, tr.430]. Về mối quan hệ giữa dân chủ,
đoàn kết và đồng thuận xã hội, tác giả cho rằng: “Dân chủ là cơ sở, là điều kiện
và tiền đề của đoàn kết và đồng thuận xã hội. Chỉ khi nào dân chủ là thực chất
(chứ không phải hình thức, giả hiệu, mị dân – mà những biểu hiện này vẫn
thường thấy xuất hiện trong đời sống, nó đi liền với sự vi phạm dân chủ, đối
lập với dân chủ) thì khi đó, mới có đoàn kết thực sự, thực chất, mới tăng cường
17
được đồng thuận” [10, tr.442]. Ở Việt Nam hiện nay, theo tác giả, Đảng Cộng
sản Việt Nam cần thực hiện, phát huy dân chủ trên mọi lĩnh vực, phải làm cho
mọi chủ trường đường lối, chính sách hợp lòng dân, thuận ý dân, được dân ủng
hộ, tin tưởng như thế tất xây dựng được đồng thuận xã hội.
Đặng Hữu Toàn, Đoàn kết dân tộc trên cơ sở đồng thuận xã hội [134, tr.
445-456]. Trong bài viết, qua nhiều chứng cứ lịch sử tác giả đã cho rằng, lịch
Lê Bá Trình, Phát huy những điểm tương đồng giữa mục tiêu của chủ nghĩa
xã hội và khát vọng giải phóng con người của các tôn giáo để xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc [136, tr. 519-530]. Trong bài viết, tác giả đã làm rõ quan
điểm Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng tất cả các tôn giáo
đều có mục đích chung là giải phóng con người, cho nên các tôn giáo đều đoàn
kết với nhau: “dù có hệ thống giáo lý, giáo luật và phương thức hành đạo khác
nhau nhưng mục tiêu, khát vọng chung của các tôn giáo là giải phóng con người
khỏi sự khổ ải, cầu mong một cuộc sống tốt đẹp ở thiên đàng. Với truyền thống
yêu nước, thương nòi và ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, các chức sắc và
tín đồ tôn giáo ở Việt Nam đã có sự chọn lọc, thích nghi hóa và hòa nhập những
giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo cuộc sống” [136, tr.522].
Trần Tuấn Phong, Đoàn kết xã hội – nhìn từ góc độ truyền thống văn hóa [99,
tr. 483-494]. Trong bài viết, tác giả đã luận chứng cho quan điểm: truyền thống
văn hóa là một trong những cơ sở để gắn kết các cá nhân trong xã hội. Theo tác
giả: “Truyền thống văn hóa chính là nền tảng chung mà mọi người trong một
cộng đồng, một xã hội cùng chia sẻ Trên cơ sở hòa nhập với truyền thống văn
hóa, con người hình thành những giá trị mới cũng như những nỗi ưu tư chung đối
với các vấn đề môi trường, xã hội và cuộc sống cộng đồng. Tất cả những cái
chung đó là cơ sở quan trọng nhất để liên kết con người với nhau” [99, tr.494].
19
Cù Xuân Trường, Chữ “đồng” trong tinh thần Việt [138], trong bài viết
này, tác giả đã làm rõ truyền thống đoàn kết, đồng thuận của dân tộc ta từ
truyền thuyết “Âu cơ - Lạc Long Quân”. Đặc biệt, sự thể hiện và phát triển tư
tưởng đoàn kết, đồng thuận của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo tác giả: “chữ
đồng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một triết lý tư duy, vừa hội tụ các giá trị
truyền thống vừa mang giá trị hiện đại”. Trong giai đoạn hiện nay, theo tác
giả cần phải tiếp tục phát huy những điểm tương đồng để xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, nhất là với một bộ phận bà con xa xứ.
Tương Lai, Vấn đề ý thức hệ và đồng thuận xã hội [68], trong bài viết này
tác giả đã chỉ ra những sai lầm, hạn chế nhất định trong quan điểm tuyệt đối
đường lối, chính sách phải phù hợp với ý chí, nguyện vọng của đông đảo nhân
dân; trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa, phải nâng cao dân trí, phát huy truyền
thống đoàn kết, nhân ái, khoan dung…
1.3. Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa khoan dung
và đồng thuận xã hội
Trong các công trình nghiên cứu về khoan dung, đồng thuận xã hội, một số
công trình bước đầu cũng đã chỉ ra mối quan hệ nhân - quả giữa khoan dung
và đồng thuận xã hội; coi thực hiện khoan dung là một biện pháp để xây
dựng đồng thuận xã hội.
Nguyễn Thị Phương Mai, Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời của
nó [83], trong công trình này tác giả đã giành một phần để trình bày mối
quan hệ giữa thực hiện khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội
(từ trang 127-129). Trong đó, tác giả đã luận chứng cho quan điểm thực
21
hiện khoan dung là một nhân tố xây dựng đồng thuận xã hội. Bởi, khoan
dung là sự tôn trọng các khác biệt, trong thế giới đa dạng như hiện nay,
nếu các khác biệt được tôn trọng thì các lực lượng xã hội sẽ dễ dàng đi
đến tôn trọng nhau và thực hiện mục tiêu chung hay thiết lập sự đồng
thuận xã hội.
Nguyễn Thị Lan, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc xây dựng đồng
thuận xã hội ở nước ta hiện nay [69], trong công trình này, tác giả trình
bày truyền thống khoan dung nhằm xây dựng đồng thuận xã hội của dân
tộc Việt Nam. Tác giả cho rằng, khoan dung trong lịch sử Việt Nam thể
hiện trên các phương diện: đối nội, đối ngoại, dân tộc, tôn giáo, văn hóa
Nhờ thực hiện khoan dung, cha ông ta đã đoàn kết dân tộc để đấu tranh
chống giặc ngoại xâm, thiên tai để bảo vệ, phát triển đất nước. Trong giai
đoạn hiện nay, theo tác giả, Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiếp tục phát
huy truyền thống khoan dung để xây dựng đồng thuận xã hội ở nước ta
[69, tr.38-55].
Đỗ Lan Hiền, Khoan dung tôn giáo với dân chủ, đoàn kết và đồng thuận
Song Thành, Đồng thuận xã hội và tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh,
một nhân tố để xây dựng đại đoàn kết toàn dân tộc [114], trong bài viết, tác
giả đã làm rõ đồng thuận xã hội chính là một nội dung mới của đoàn kết
dân tộc. Tác giả cũng phân tích quá trình thực hiện đồng thuận xã hội của
Đảng ta, trong đấu tranh giải phóng dân tộc thì lấy mục tiêu giải phóng dân
tộc làm điểm tương đồng, trong thời kỳ đổi mới thì lấy “sự tôn trọng lợi ích
chính đáng” mỗi thành viên làm điểm tương đồng. Khoan dung trong tư
tưởng Hồ Chí Minh trước hết là tôn trọng các khác biệt. Chính nhờ thực
hiện chủ trương tôn trọng các khác biệt (cả về đạo đức, tôn giáo, văn hóa,
23
chính kiến…) mà Người đã đoàn kết được dân tộc. Trong giai đoạn hiện
nay, theo tác giả, bồi dưỡng tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh là một
nhân tố góp phần xây dựng đồng thuận xã hội ở nước ta.
Nguyễn Tấn Hưng, Kế thừa và phát huy tinh thần khoan dung Hồ Chí
Minh trong xây dựng đồng thuận xã hội và đại đoàn kết toàn dân tộc [59],
trong bài viết này tác giả cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa phát huy tinh
thần khoan dung Hồ Chí Minh với xây dựng đoàn kết, đồng thuận xã hội
ở nước ta. Theo tác giả, biểu hiện khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí
Minh trên nhiều phương diện như: lòng yêu thương con người, tôn trọng
sự khác biệt, sự tha thứ cho những người mắc lỗi lầm biết ăn năn hối
cải…Chính nhờ tinh thần khoan dung ấy, Người đã đoàn kết được tất cả
các giai cấp, dân tộc, đảng phái… cùng tham gia đấu tranh giành độc lập
dân tộc. Ở nước ta hiện nay, theo tác giả, bồi dưỡng, phát huy tinh thần
khoan dung cũng là một nhân tố góp phần xây dựng đồng thuận xã hội.
Từ những sự phân tích trên cho thấy, hầu hết các tác giả đều thừa nhận
rằng thực hiện khoan dung là một phương thức để xác lập đồng thuận xã
hội. Trong lịch sử, ông cha ta cũng đã thực hiện khoan dung và xây dựng
được khối đại đoàn kết dân tộc để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong giai
đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta cần tiếp tục phát huy truyền thống
này nhằm xây dựng Việt Nam thành nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ,