MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân
ta, người anh hùng dân tộc vĩ đại, người cha kính yêu của các lực lượng vũ trang
nhân dân ta đã dạy: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con
người xã hội chủ nghĩa" [67, tr.310]. Sinh thời Người rất quan tâm đến giáo dục,
bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho các thế hệ thanh niên cách mạng Việt Nam,
trước lúc đi xa Người còn căn dặn Đảng ta:"Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo
đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa
xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" [76, tr.510].
Ngay từ những ngày đầu đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới, tại Đại hội
VI, Đảng ta đã chỉ rõ: "Vấn đề đạo đức xã hội đang được đặt ra một cách cấp
bách" [17, tr.127]. Trong công cuộc đổi mới đất nước, bên cạnh các thành tựu to
lớn đã đạt được, tình hình xã hội nước ta hiện nay "còn nhiều tiêu cực và nhiều vấn
đề phải giải quyết" [21, tr.64]. Trong những tiêu cực và các vấn đề cần giải quyết
đó nổi lên là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận trong xã hội và trong
thanh niên rất đáng lo ngại. Thực trạng đó đang là cản trở to lớn đối với công cuộc
đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, cần phải được đấu tranh khắc phục kịp thời.
Bởi vậy, phát triển đạo đức cách mạng cho thanh niên nói chung, thanh niên quân
đội nói nói riêng trong tình hình hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng và cấp
bách để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, giai đoạn
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thực hiện thắng lợi hai nhiệm
vụ chiến lược của cách mạng nước ta, đó là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Đạo đức là thành tố cơ bản trong phẩm chất tinh thần chiến đấu của quân đội
ta và trong nhân cách của người quân nhân cách mạng. Là một bộ phận của thanh
niên cả nước, thanh niên quân đội có vai trò rất to lớn trong sự nghiệp bảo vệ và
xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây là lực lượng đông đảo đang xung kích, đi
đầu trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Họ là nguồn nhân lực rất quan
biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức", Phó Giáo sư Thành Duy chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1996... Các công trình trên đã nghiên cứu một cách sâu sắc và có hệ thống về
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, khẳng định vai trò và giá trị to lớn của nó trong sự
nghiệp cách mạng của đất nước. Mặc dù nghiên cứu từ những góc độ khác nhau,
song các tác giả đều thống nhất trong cách khái quát nội dung đạo đức cách mạng
và vai trò của nó theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong các năm qua, đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về tác động của
cơ chế thị trường đến sự biến đổi giá trị và thang giá trị đạo đức ở nước ta, trong
đó có các công trình tiêu biểu như: "Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc
định hướng các giá trị đạo đức hiện nay", Tiến sĩ Nguyễn Thế Kiệt, Tạp chí Triết
học, Số 6, 12/1996; "Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị
trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay", Phó
giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chí Mỳ chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội 1999... Các công trình trên đi tìm hiểu tác động của cơ chế thị trường đến đời
sống đạo đức ở nước ta hiện nay và đều thống nhất cho rằng, sự biến đổi của hệ
thống giá trị, thang giá trị đạo đức ở nước ta hiện nay là một tất yếu. Tác giả của
các công trình trên cho rằng, định hướng giá trị đạo đức trong điều kiện hiện nay là
cần thiết và cấp bách trong xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay.
Một số tác giả khác nghiên cứu đạo đức cách mạng ở các đối tượng cụ thể và
có phạm vi nghiên cứu khác nhau, như: Tác giả Nguyễn Tiến Bình, "Tự giác hoá
quá trình hình thành, phát triển đạo đức cộng sản trong Quân đội nhân dân Việt
Nam hiện nay", Luận án phó tiến sĩ khoa học quân sự, Học viện Chính trị Quân sự,
Hà Nội 1990; Tác giả Hà Huy Thông, "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của
người cán bộ quân sự", Luận án phó tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội 1995... Công trình của tác giả Nguyễn Tiến Bình đã luận
chứng một cách sâu sắc vai trò ngày càng tăng của nhân tố đạo đức trong sức mạnh
chiến đấu quân đội và các đặc điểm tác động đến sự hình thành, phát triển đạo đức
cộng sản trong quân đội; tác giả đã đề xuất các giải pháp cơ bản trong tự giác hoá
và đạo đức cách mạng. Tác giả có vận dụng, kế thừa kết quả của các công trình
khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Cơ sở thực tiễn của luận án là tình hình đời sống xã hội, đời sống của quân
đội nói chung và đời sống đạo đức của thanh niên quân đội nói riêng, đặc biệt là
trong thời kỳ đổi mới đất nước. Luận án còn dựa vào các văn kiện và báo cáo tổng
kết về công tác thanh niên của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, của Ban Thanh niên quân đội và của các quân khu, quân đoàn, đơn vị trong
toàn quân.
Luận án còn dựa vào các số liệu điều tra, khảo sát về thanh niên của một số
công trình khoa học có liên quan và các số liệu điều tra, khảo sát của tác giả về
thực trạng tình hình phát triển đạo đức cách mạng ở thanh niên quân đội trong một
số đơn vị và nhà trường quân đội.
- Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận án vận dụng trực tiếp những vấn đề phương pháp luận
của phép biện chứng duy vật, mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức
xã hội vào nghiên cứu quá trình phát triển đạo đức cách mạng ở thanh niên quân
đội. Luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, trong đó chủ yếu là
phương pháp tiếp cận giá trị; lịch sử và lô gíc; phân tích và tổng hợp; trừu tượng
hoá và khái quát hoá; phương pháp điều tra xã hội học; phương pháp chuyên gia.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
1) Luận án phân tích, làm rõ những đặc trưng bản chất và một số vấn đề có
tính quy luật trong quá trình phát triển đạo đức cách mạng ở thanh niên quân đội.
2) Phân tích đánh giá về thực trạng và đề xuất một số giải pháp cơ bản để phát
triển đạo đức cách mạng ở thanh niên quân đội trong tình hình hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án cung cấp một số vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận trong phát triển
đạo đức cách mạng ở thanh niên quân đội, để góp phần vào phát triển, hoàn thiện
nhân cách của họ và đáp ứng phần nào của thực tiễn nâng cao chất lượng toàn diện
chuẩn mực và quy tắc này được củng cố trong các phong tục, truyền thống khác
nhau của mỗi cộng đồng. Với sự ra đời của xã hội chiếm hữu nô lệ, ý thức đạo đức
được hình thành và phát triển với tính cách là một hình thái riêng của ý thức xã
hội. Cũng từ đây, trong lịch sử nhân loại đã xuất hiện nhiều học thuyết về đạo đức,
với nhiều quan niệm khác nhau. Nhưng do hạn chế về lập trường giai cấp và thế
giới quan, các quan niệm trước Mác đều đi giải thích một cách sai lầm về nguồn
gốc, bản chất, vai trò cũng như quá trình hình thành và phát triển của đạo đức trong
lịch sử.
Trong dòng chảy của lịch sử tư tưởng nhân loại, C. Mác và Ph. Ăng ghen đã
thực hiện cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức. Trên cơ sở thế giới quan duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, C. Mác và Ph. Ăng ghen đã đánh giá lại toàn bộ
những tư tưởng đạo đức đã có từ xưa đến nay, tổng kết và đưa ra những luận điểm
khoa học của mình về đạo đức. Hai ông đã chỉ ra sự tất yếu xuất hiện của một kiểu
đạo đức mới trong lịch sử - đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân. Theo Ph.
Ăng ghen, đây là nền đạo đức "đang tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho
lợi ích của tương lai, tức là đạo đức vô sản, là thứ đạo đức có một số lượng nhiều
nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài" [3, tr.136].
Tiếp tục tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăng ghen, trong quá trình đấu tranh
chống lại các học thuyết đạo đức duy tâm, phản động đang đầu độc giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, V. I. Lênin đã khẳng định sự tất yếu ra đời của "luân lý
cộng sản" và "đạo đức cộng sản" [43, tr.366]. Trong đó, V. I. Lênin đã chỉ ra thực
chất cách mạng của nội dung đạo đức mới", "đó là những gì góp phần phá hủy xã
hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung
quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản" [43,
tr.369].
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, lãnh tụ cách mạng đã bàn nhiều nhất
đến vấn đề đạo đức. Đạo đức do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập và dày công xây
dựng là ĐĐCM, đây là kiểu đạo đức mới về chất so với các kiểu đạo đức đã có
được các chủ thể nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, tùy theo mục
đích, nhiệm vụ và phạm vi của vấn đề nghiên cứu. Song tựu trung lại, các tác giả
thường đi tiếp cận khái niệm "ĐĐCM" từ các góc độ và phương pháp nghiên cứu
chủ yếu sau đây.
Dưới góc độ nhận thức luận, vấn đề đạo đức và ĐĐCM được xem xét với tư
cách là một hình thái của ý thức xã hội. Từ đó các chủ thể nghiên cứu đi vào khái
quát sự hình thành, phát triển của các hệ thống lý luận đạo đức; chỉ rõ nguồn gốc,
bản chất của đạo đức và sự xuất hiện tất yếu của một kiểu đạo đức mới - ĐĐCM
của giai cấp công nhân trong lịch sử. Từ góc độ tiếp cận này, có tác giả cho rằng,
ĐĐCM là "một bộ phận hữu cơ trong tự ý thức giai cấp" [89, tr.1] của giai cấp
công nhân và được hiểu theo nghĩa rộng nhất không chỉ bao hàm các nguyên tắc,
chuẩn mực đạo đức, mà nó còn là toàn bộ quan điểm luân lý của giai cấp công
nhân.
Xem xét đạo đức với tính cách là một phương diện, một lĩnh vực của đời sống
xã hội, các tác giả đi tới khái quát vai trò to lớn của ĐĐCM trong đời sống hiện
thực. Từ cách tiếp cận này, các tác giả đã khẳng định: ĐĐCM là một nguồn lực
tinh thần trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân; là động lực thúc
đẩy sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi hoàn toàn; là cơ sở để người cách mạng
hoàn thiện nhân cách và hoàn thành được các nhiệm vụ vẻ vang mà sự nghiệp cách
mạng giao phó. Các tác giả đều khẳng định, ĐĐCM là một nền đạo đức hiện thực
và luôn mang trong nó một sức mạnh hiện thực to lớn [34].
Từ phương pháp tiếp cận giá trị, các tác giả đi xem xét ĐĐCM với tính cách là
một hệ thống giá trị và định hướng giá trị. Hệ thống giá trị này được biểu hiện dưới
dạng các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức phù hợp và đáp ứng với yêu cầu của sự
nghiệp cách mạng do giai cấp công nhân tiến hành. Từ góc độ nghiên cứu này, các
tác giả đều đi tới khái quát và khẳng định ĐĐCM mang trong nó các giá trị phổ
biến của nhân loại. Nó là một tổ hợp, một hệ thống giá trị, trong đó có các giá trị
cơ bản và cốt lõi. Tiếp cận từ góc độ này, các tác giả cho rằng, định hướng giá trị
đức trong nhân cách của người cách mạng. Tính cách mạng, khoa học của ĐĐCM
không chỉ thể hiện ở nội dung lý luận với tính cách là "bộ luật" luân lý của giai cấp
công nhân, mà nó còn được thể hiện chính trong thực tiễn sự nghiệp cách mạng
của giai cấp công nhân và có cơ sở thực tiễn từ sự nghiệp đấu tranh vĩ đại đó.
Cách mạng có kế thừa và phát triển, nhưng đây là sự kế thừa và phát triển trên
tinh thần phủ định biện chứng. ĐĐCM kế thừa và phát triển những tinh hoa của
đạo đức nhân loại và truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Tuy nhiên, trong
quá trình kế thừa và phát triển này, giai cấp công nhân phải đấu tranh một cách
kiên quyết và triệt để chống lại các tàn dư về tư tưởng, tâm lý, tập quán đạo đức
của xã hội cũ và của giai cấp thống trị bóc lột. Trong cuộc đấu tranh này, ĐĐCM
khẳng định mình và phát huy vai trò to lớn của nó trong sự nghiệp cách mạng của
giai cấp công nhân. Bởi thế, V. I. Lênin đã chỉ rõ, đây là nền đạo đức giúp cho xã
hội loài người tiến lên cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động [43, tr.371].
ĐĐCM là một hệ thống giá trị và định hướng giá trị được thể hiện dưới dạng
các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xuất phát từ lợi ích của sự nghiệp cách mạng
do giai cấp công nhân tiến hành. Trong đó, nó có các giá trị cơ bản và cốt lõi, hay
còn được gọi là những "chuẩn giá trị", đó là: lòng trung thành tuyệt đối với sự
nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân; là chủ nghĩa tập thể và tinh thần đoàn
kết; là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản; chủ nghĩa nhân đạo
XHCN.
Con người là chủ thể của mọi giá trị, nhân cách chính là thước đo giá trị của
chủ thể, thước đo mức độ phù hợp giữa giá trị cá nhân với giá trị xã hội. Hoạt động
thông qua thang giá trị, thước đo giá trị, định hướng giá trị là bản thể của nhân
cách, "tổ hợp các quan hệ và thái độ của chủ thể, tạo ra bộ mặt riêng của từng
người" [25, tr.42]. Bởi vậy, các giá trị ĐĐCM khi được chuyển hoá nó trở
thành yếu tố nền tảng trong nhân cách người cách mạng. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã từng chỉ rõ, ĐĐCM là "cái gốc", cái "nền tảng" của người cách mạng, mà
thiếu nó người cách mạng không thể hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang của mình.
Trong quân đội ta, thanh niên là lực lượng cơ bản, bao gồm chiến sĩ, hạ sĩ
quan và đội ngũ sĩ quan trẻ có tuổi đời từ 18 đến 30. Là một bộ phận của thanh
niên cả nước, TNQĐ có vai trò rất to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc XHCN. Đây là lực lượng đông đảo chiếm từ 63% đến 68% tổng quân số, họ
là nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng trong sức mạnh chiến đấu của quân
đội và là lực lượng đang tiếp bước, kế thừa truyền thống cách mạng vẻ vang của
Đảng và quân đội ta. Đoàn viên TNQĐ còn là lực lượng hậu bị tin cậy đang bổ
sung cho Đảng những đảng viên ưu tú; là lực lượng kế cận tương lai thường xuyên
bổ sung đội ngũ cán bộ, sĩ quan cho quân đội. Một bộ phận TNQĐ sau khi hoàn
thành tốt nghĩa vụ quân sự trở về địa phương, trở thành những công dân, những
cán bộ của Đảng tiếp tục đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc XHCN.
Là một bộ phận của thanh niên cả nước, TNQĐ cũng có các đặc điểm chung
của lứa tuổi thanh niên. Họ có nhiều ưu thế của tuổi trẻ, đây là lứa tuổi có thể tiếp
nhận một đạo lý cao cả, khát khao lý tưởng và hành động thực hiện lý tưởng,
hướng tới các giá trị tốt đẹp. Nhưng vì tuổi đời còn ít, do vậy họ chưa đủ kinh
nghiệm và sự từng trải để có cách suy xét, đánh giá, lựa chọn các giá trị theo sự chỉ
dẫn sáng suốt của lý trí và họ cũng dễ bị các cám dỗ của cuộc sống lôi kéo. Thanh
niên là tầng lớp xã hội nhạy cảm, có nhiều ưu thế, song cũng có những yếu điểm
và hạn chế nhất định do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi chi phối, quy định. Tuy
nhiên, là một bộ phận của thanh niên cả nước, TNQĐ vừa mang những đặc điểm
chung của lứa tuổi thanh niên, lại vừa có những đặc điểm riêng của bộ phận thanh
niên hoạt động trong một lĩnh vực đặc thù - "hoạt động quân sự". So với các đối
tượng khác là quân nhân trong quân đội ta, TNQĐ hiện nay có những đặc điểm
riêng nổi lên đó là:
- Đặc điểm tâm lý lứa tuổi: Có thể khẳng định, TNQĐ là những nhân cách
đang trưởng thành, ở họ đã có sự phát triển khá hoàn thiện về mặt thể chất, nhưng
phần lớn trong số họ còn chưa ổn định về mặt nhân cách. Đây là một đặc điểm gắn
động tiêu cực bên ngoài xã hội.
Xung kích trong thực hiện các nhiệm vụ của quân đội và đơn vị là một thuộc
tính đặc thù của TNQĐ. Nó vừa thể hiện vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong
sự nghiệp xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc XHCN, lại vừa phản ánh sự giác
ngộ về chính trị, trưởng thành về đạo đức ở người TNQĐ.
- Đặc điểm về trình độ học vấn và sự biến động về cơ cấu: Thực hiện luật
nghĩa vụ quân sự, mỗi năm có hàng chục vạn thanh niên nhập ngũ với trình độ văn
hoá được nâng lên khá cao và đồng đều. Đây là điều kiện thuận lợi để thanh niên
chiến sĩ cống hiến và trưởng thành về mọi mặt, trong đó có sự hoàn thiện các phẩm
chất chính trị, đạo đức. Học viên trong các nhà trường quân đội và đội ngũ sĩ quan
trẻ hiện nay đã qua sự tuyển chọn kỹ càng; được đào tạo cơ bản, có hệ thống, lại
thường xuyên được tiếp xúc với các tri thức khoa học hiện đại, vì vậy trình độ học
vấn của họ không ngừng được nâng lên. Đây là các đặc điểm, điều kiện rất thuận
lợi cho sự phát triển giá trị nhân cách ở họ, mặt khác nó cũng đặt ra những yêu cầu
mới trong công tác giáo dục, rèn luyện ĐĐCM ở TNQĐ hiện nay.
Do chế độ nghĩa vụ quân sự nên lực lượng TNQĐ thường xuyên có sự biến
động cả về số lượng và chất lượng qua các đợt ra quân và tuyển quân hàng năm.
Mặt khác, sự chuyển tiếp nhiệm vụ ở người thanh niên là học viên khi kết thúc quá
trình đào tạo ở các nhà trường; sự phát triển về yêu cầu nhiệm vụ, cùng sự thay đổi
vị trí công tác ở đội ngũ sĩ quan trẻ càng làm tăng thêm tính biến động về cơ cấu ở
TNQĐ.
Đạo đức là một hiện tượng xã hội phổ biến mang tính lịch sử - cụ thể không
chỉ đối với từng giai đoạn phát triển của xã hội, đối với mỗi giai cấp và dân tộc mà
còn đối với từng lĩnh vực hoạt động của con người. Bởi vậy, trong mỗi lĩnh vực
hoạt động, mỗi nghề nghiệp lại có đạo đức riêng mang tính đặc thù của nghề
nghiệp đó. Ph. Ăng ghen đã chỉ rõ: "Trong thực tế mỗi giai cấp và ngay cả mỗi
nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình" [4, tr.425]. Với tính cách là một hệ
thống giá trị và yếu tố nền tảng trong nhân cách của người cách mạng, ĐĐCM
quan điểm và phương pháp tiếp cận trên, chúng tôi cho rằng trong sự nghiệp xây
dựng và chiến đấu của quân đội ta, ĐĐCM ở TNQĐ được biểu hiện tập trung ở các
nội dung cơ bản sau đây:
Một là, lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng và
nhân dân ở TNQĐ.
Nguyên tắc lòng trung thành giữ vai trò cơ bản và bao trùm trong đời sống đạo
đức xã hội. Đối với người TNQĐ, đây là nguyên tắc có tính chất định hướng cho
mọi suy nghĩ, hoạt động của họ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN
và sự nghiệp xây dựng, chiến đấu của quân đội.
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong nền quốc phòng toàn
dân, đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong đó, TNQĐ
là lực lượng đông đảo nhất đang xung kích, đi đầu thực hiện sứ mệnh lịch sử vẻ
vang đó. Vì thế, biểu hiện đặc thù quan trọng nhất của lòng trung thành với sự
nghiệp cách mạng ở TNQĐ hiện nay là nhận thức sâu sắc nghĩa vụ thiêng liêng và
vinh dự to lớn của mình trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, có ý chí,
quyết tâm cao thực hiện thắng lợi nhiệm vụ to lớn đó của cách mạng nước ta trong
giai đoạn hiện nay. Đó là sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, để "bảo vệ vững chắc độc
lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an
toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN;
bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc" [22, tr.117] của đất nước.
Nhận thức và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trên chính là biểu hiện cao nhất, tập
trung nhất lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng ở TNQĐ hiện nay.
Nhận thức về vinh dự và trách nhiệm của TNQĐ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc XHCN là biểu hiện cụ thể của trình độ giác ngộ XHCN, là sự quán triệt sâu
sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng
về cách mạng XHCN và vai trò, nhiệm vụ của quân đội ta. Đây chính là cơ sở để
tuổi trẻ quân đội ý thức được đầy đủ trách nhiệm của mình trước vận mệnh của đất
nước, vận mệnh của sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đang tiến hành.
sự. Bởi vậy, Ph. Ăng ghen đã khẳng định, đối với người lính cần phải có "trái tim
dũng cảm". Lòng dũng cảm được biểu hiện ra như một yêu cầu chung đối với mỗi
con người trong cuộc sống. Nhưng riêng với người chiến sĩ, lòng dũng cảm được
thể hiện ra ở một cấp độ khác, với một yêu cầu rất cao do đặc thù của hoạt động
quân sự mang lại. Bởi thế, lòng dũng cảm chính là đặc trưng cực kỳ quan trọng
trong phẩm chất đạo đức của người TNQĐ, mà thiếu nó người TNQĐ không thể
vượt qua được các hiểm nguy, không thể hoàn thành được nhiệm vụ thiêng liêng
và cao cả của mình trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Dũng cảm trong
chiến đấu là nét riêng, đặc trưng cụ thể, cao nhất của đức hy sinh và lòng trung
thành với sự nghiệp cách mạng ở TNQĐ. Vì vậy, giáo dục và rèn luyện lòng dũng
cảm là một trong các nội dung quan trọng để phát triển ĐĐCM ở TNQĐ quân đội
hiện nay.
Đặc thù của hoạt động quân sự và tổ chức quân sự luôn đặt ra thử thách toàn
diện với người lính. Bởi vì, đây là hoạt động diễn ra với cường độ cao, có nhiều cái
ngẫu nhiên xảy ra nhanh chóng, bất ngờ. Tính chất gian khổ, ác liệt, hy sinh của
hoạt động quân sự luôn đòi hỏi người TNQĐ phải có tinh thần chiến đấu cao, sẵn
sàng chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn và cũng chỉ có như vậy người
TNQĐ mới hoàn thành được các nhiệm vụ của mình. Bởi thế, sẵn sàng chịu đựng
và vượt qua mọi khó khăn gian khổ cũng là yêu cầu rất cao, rất đặc thù của người
chiến sĩ, đòi hỏi người TNQĐ phải nhận thức và có nỗ lực cao trong hành vi thì
mới hoàn thành được nghĩa vụ đạo đức cao cả của mình.
Ngoài các phẩm chất và yêu cầu đặc trưng về đức hy sinh, lòng dũng cảm,
không sợ khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ và nghĩa vụ thiêng liêng của
mình, mỗi người TNQĐ còn phải chấp hành kỷ luật quân sự một cách tự giác, chủ
động và nghiêm túc.
Kỷ luật là thuộc tính của mọi tổ chức trong xã hội. Sự tồn tại của kỷ luật trong
xã hội là một tất yếu khách quan. Tổ chức quân sự là một tổ chức đặc biệt, bởi thế,
kỷ luật của nó cũng mang tính đặc thù rất cao so với các tổ chức trong xã hội. Đặc
Trong quân đội ta, chủ nghĩa tập thể và tinh thần đoàn kết được biểu hiện ở
tình đồng chí, đồng đội, tinh thần đoàn kết vì nhiệm vụ chung, thái độ tôn trọng,
quan tâm chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau lúc bình thường cũng như khi ra trận. Nêu
cao chủ nghĩa tập thể, đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt là một nội dung,
một yêu cầu cơ bản của ĐĐCM ở TNQĐ. Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường
xuyên căn dặn cán bộ, chiến sĩ quân đội ta phải luôn có tinh thần lập công tập thể
và tăng cường đoàn kết chặt chẽ. Vì theo tư tưởng của Người, đoàn kết là một lực
lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn giành lấy thắng lợi [61, tr.397].
Thực tiễn của hoạt động quân sự mà đặc biệt là thực tiễn chiến đấu cho thấy,
nếu không có sự gắn kết, hiệp đồng chặt chẽ, không có sự quy tụ ý chí của các cá
nhân cùng quyết tâm thực hiện nhiệm vụ đến cùng, thì khó có thể giành được chiến
thắng trước kẻ thù, hoàn thành được nhiệm vụ trong các tình huống khẩn trương,
phức tạp. Do vậy, trong mọi hoạt động của quân đội ta, chủ nghĩa tập thể và tinh
thần đoàn kết phải được phát huy cao độ. Ở đây, nó có các đặc trưng riêng, mang
tính đặc thù phù hợp với hoạt động xây dựng và chiến đấu của quân đội. Nó là
nhân tố liên kết sức mạnh cá nhân, là điều kiện để người TNQĐ hoàn thành xuất
sắc các nhiệm vụ của mình.
Chủ nghĩa tập thể và tinh thần đoàn kết được thể hiện một cách toàn diện trong
mọi hoạt động xây dựng và chiến đấu của quân đội. Đối với TNQĐ, chủ nghĩa tập
thể và tinh thần đoàn kết được biểu hiện ở các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, chủ nghĩa tập thể và tinh thần đoàn kết đòi hỏi mỗi người TNQĐ
trong công tác, xây dựng và chiến đấu phải luôn quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, cùng
nhau đồng lòng, đồng sức vì nhiệm vụ chung, vì sự trưởng thành của đơn vị. Coi
đơn vị là nhà, là tổ ấm để cùng nhau cống hiến, trưởng thành. Trong các tình
huống khó khăn, phức tạp của hoạt động chiến đấu, yêu cầu mỗi người TNQĐ phải
luôn nêu cao tinh thần "đồng cam cộng khổ"; "chia ngọt sẻ bùi". Trên cơ sở tình
bạn, tình đồng chí, đồng đội, mọi người sẵn sàng "nhường cơm sẻ áo" dành khó
khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, đoàn kết cùng nhau thực hiện thắng lợi
quốc XHCN và sẵn sàng đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung của giai cấp
công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Đối với mỗi người TNQĐ, phải luôn sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ, nghĩa
vụ của mình đối với Tổ quốc và thực hiện các nghĩa vụ quốc tế với tinh thần vô tư,
trong sáng. Nhận thức một cách sâu sắc rằng, chủ nghĩa yêu nước XHCN hoàn
toàn đối lập và xa lạ với chủ nghĩa dân tộc ích kỷ, hẹp hòi, chủ nghĩa quốc tế của
giai cấp công nhân không thể và không bao giờ dung hợp được với chủ nghĩa xô vanh nước lớn. Do đó, làm tròn các nghĩa vụ quốc tế cao cả và thắt chặt thêm tình
đoàn kết giữa các dân tộc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của sự nghiệp cách
mạng, là yêu cầu về mặt đạo đức và vinh dự to lớn của người TNQĐ.
Bốn là, chủ nghĩa nhân đạo XHCN và truyền thống nhân ái của "Anh bộ
đội Cụ Hồ" ở TNQĐ.
Chủ nghĩa nhân đạo XHCN là thể hiện thái độ thiện chí, có sự cảm thông, có
tình thương yêu sâu sắc của con người đối với con người, đem lại tự do và hạnh
phúc cho con người. Đây là chủ nghĩa nhân đạo cao cả nhất, là lý tưởng nhân đạo
triệt để nhất mang tính hiện thực. Nó thủ tiêu mọi ách áp bức, bóc lột, mọi bất bình
đẳng xã hội; nó hướng tới giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh phúc thực sự
cho con người.
Đối với TNQĐ, lực lượng cơ bản đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc XHCN và công cuộc xây dựng hoà bình, hạnh phúc của nhân dân, thì chủ
nghĩa nhân đạo XHCN là một trong các nguyên tắc đạo đức cơ bản, là nội dung
của ĐĐCM cần được xây dựng và phát triển. Nó được quy định bởi nhiệm vụ và
đặc thù của hoạt động quân sự. Vì vậy, chủ nghĩa nhân đạo XHCN ở TNQĐ có các
biểu hiện cụ thể sau:
Thứ nhất, TNQĐ là lực lượng chủ yếu đang trực tiếp cầm súng để bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế
độ XHCN và cuộc sống hạnh phúc của nhân dân. Do vậy, tính nguyên tắc trên đòi
hỏi TNQĐ phải luôn luôn có lòng căm thù giặc sâu sắc, có ý chí quyết tâm đánh
thắng mọi thế lực xâm phạm đến bờ cõi biên cương của Tổ quốc, cũng như các thế
thống đoàn kết, nhân ái Việt Nam, là sự hiện thực hoá chủ nghĩa nhân đạo