PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội,
một mặt bị quy định bởi cở sở hạ tầng, tồn tại xã hội; mặt khác nó cũng có tính
độc lập tương đối và tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội. Khi cơ
sở hạ tầng thay đổi, nền tảng kinh tế thay đổi, đạo đức xã hội cũng phải thay đổi
theo cho phù hợp và tác động tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế. Kinh tế thị
trường với những đặc trưng riêng của nó đã tác động mạnh mẽ đến đạo đức xã
hội và ngược lại, để phát triển nền kinh tế thị trường rất cần xây dựng củng cố,
phát triển những chuẩn mực đạo đức truyền thống trên cơ sở mới và bổ sung
những chuẩn mực đạo đức phù hợp. Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động
theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cùng với
những nỗ lực đầu tư huy động vốn, tri thức, một yếu tố không kém phần quan
trọng thúc đẩy kinh tế phát triển là vấn đề đạo đức. Đặc biệt là vấn đề xây dựng
đạo đức của thanh niên, bởi thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, nguồn lực
mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội, là người chủ của đất nước quyết
định sự thành bại của công cuộc phát triển kinh tế đất nước hiện tại và tương lai.
Nhận thức đúng vị trí, vai trò của thanh niên Đảng ta khẳng định: Sự nghiệp của
đất nước ta thành công hay không, đất nước ta bước vào thế kỷ XXI có vị trí
xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không chủ yếu là do lực lượng thanh
niên ngày nay quyết định. Tương lai của dân tộc Việt Nam, sự phát triển của đất
nước tuỳ thuộc vào việc bồi dưỡng rèn luyện thế hệ thanh niên [17;7].
Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực, thì sự tác động mạnh
mẽ từ mặt trái của cơ chế thị trường cũng đã làm nảy sinh lối sống ích kỷ, vụ
lợi, huỷ hoại những nét đẹp văn hoá truyền thống và những giá trị đạo đức. Như
Nghị quyết 25-NQ/TW, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa
X) đã đánh giá: “ Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm
tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống
thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa của dân tộc… tình trạng tội phạm và tệ
nạn xã hội trong thanh niên đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp.”
2001 của Phạm Đình Nghiệp; "Sự thay đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế
thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện
nay" Hà Nội, 1999 của Nguyễn Chí Mỳ; "Quan hệ kinh tế và đạo đức với việc
xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam" Luận văn thạc sĩ
của Nguyễn Đình Quế, năm 2000. "Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện
KTTT ở nước ta hiện nay", Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (đồng
chủ biên), Nxb CTQG, Hà Nội, 2003.
Nghiên cứu các khía cạnh tác động của đạo đức và giáo dục, rèn luyện
đạo đức với sự phát triển con người, nhân cách nói chung và thanh niên nói
riêng cũng có nhiều tác giả đã đề cập. Trong các tạp chí có những bài: "Quan
hệ kinh tế và đạo đức trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay" của
Nguyễn Thế Kiệt, Tạp chí Triết học số 6, 1996; "Tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh và vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức trong nền kinh tế thị trường" của
Hoàng Trung, Tạp chí Triết học số 5, 1998.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Mục đích của khóa luận là góp phần làm rõ một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về đạo đức, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và sự tác động qua lại giữa hai lĩnh vực này, chỉ ra và luận giải thực
trạng đạo đức của thanh niên huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình hiện nay để
trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và những giải pháp cho việc xây dựng
đạo đức của họ trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên khóa luận cần thực hiện những nhiệm vụ
sau:
- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế thị trường, đạo đức
cách mạng của thanh niên.
- Phân tích thực trạng đạo đức của thanh niên dưới tác động của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa .
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp để giáo dục đạo đức cách
mạng cho thanh niên huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình đáp ứng yêu cầu phát
được bố cục thành 2 chương, 4 tiết.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng XHCN
1.1.1 Kinh tế thị trường
Trong lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều mô hình kinh tế khác nhau,
nhưng chúng ta có thể khái quát hai loại hình kinh tế cơ bản là “kinh tế tự
nhiên” và “kinh tế hàng hóa”. Trong hai loại hình kinh tế này thì kinh tế hàng
hóa tỏ ra có ưu thế vượt trội hơn. Kinh tế hàng hóa là loại hình kinh tế tồn tại
trong nhiều hình thái kinh tế xã hội, đó là kiểu kinh tế tiến bộ. Kinh tế thị
trường là một trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, trong đó toàn bộ các
yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” đều thông qua thị trường. Đến nay, không ai phủ
nhận vị trí, vai trò cũng như tầm quan trọng của kinh tế thị trường trong quá
trình sản xuất xã hội. Kinh tế thị trường tồn tại một cách khách quan ở nhiều
hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Đảng ta đã khẳng định: “ Sản xuất hàng hóa
không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu của nền văn minh nhân loại,
tồn tại khách quan và cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả
khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng” [3;97]. Hiện nay không còn ai cho rằng
kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản nữa mà coi nó là một
thành tựu của văn minh nhân loại. Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ở đó
các quan hệ kinh tế đều được thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình trao
đổi mua bán. Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa
trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất. Trong lịch sử, hình thái kinh tế hàng
hóa phát triển từ thấp đến cao qua các loại hình: kinh tế hàng hóa giản đơn, kinh
tế thị trường tự do cổ điển và kinh tế thị trường hiện đại. Kinh tế thị trường nói
chung là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hóa. Nó không đối lập với
kinh tế hàng hóa mà giống nhau về mặt bản chất. Kinh tế thị trường là hình thức
kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đều diễn ra trên thị trường, chịu sự chi phối
của quy luật kinh tế thị trường vốn có hay chịu sự chi phối của kinh tế thị
trường tự điều chỉnh. Nền kinh tế thị trường tự do dựa trên kỹ thuật cơ điện gắn
tự do tổ chức sản xuất theo luật định. Đây là một đặc điểm rất quan trọng của
kinh tế thị trường.
Hai là, kinh tế thị trường có số lượng hàng hóa rất phong phú, người mua
và người bán tự do hoạt động kinh doanh sản xuất và họ gặp nhau ở giá cả. Sự
phong phú của hàng hóa, nên kinh tế thị trường phản ánh một trình độ sản xuất
cao, mức độ của quan hệ trao đổi và cả trình độ phân công lao động xã hội. Ưu
thế của kinh tế thị trường đã phản ánh trình độ phát triển của khoa học - kỹ thuật
công nghệ. Nói đến kinh tế thị trường là nói đến một nền sản xuất với trình độ
cao.
Ba là, trong kinh tế thị trường, quy luật giá cả là quy luật trao đổi và mua
bán hàng hóa. Để hình thành kinh tế thị trường cần tôn trọng giá cả thị trường.
Nhà nước không nên có sự can thiệp trực tiếp vào giá cả mà chỉ nên can thiệp
gián tiếp ở mức độ nhất định.
Bốn là, cạnh tranh là một tất yếu của kinh tế thị trường. Trong kinh tế thị
trường, cạnh tranh diễn ra một cách phổ biến cả trong sản xuất và lưu thông.
Cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất bao gồm cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh
tranh giữa các ngành với nhau. Còn cạnh tranh trong lĩnh vực lưu thông bao
gồm cạnh tranh giữa những người tham gia trao đổi mua bán hàng hóa và dịch
vụ trên thị trường.
Năm là, kinh tế thị trường là hệ thống kinh tế mở, nó rất đa dạng và phức
tạp. kinh tế thị trường được điều hành bằng hệ thống tiền tệ và hệ thống pháp
luật của nhà nước.
Kinh tế thị trường có những ưu điểm như: Nó kích thích việc áp dụng
thiết bị khoa học kĩ thuật, tăng năng suất lao động nâng cao trình độ sản xuất.
Kinh tế thị trường lấy lợi nhuận làm động lực cho mọi hoạt động. Để thu giữ
được nhiều lợi nhuận đòi hỏi các nhà doanh nghiệp thường xuyên áp dụng kĩ
thuật mới, hợp lý sản xuất làm cho năng suất lao động xã hội và năng suất lao
động cá biệt tăng lên. Kinh tế thị trường có tính năng động và khả năng thích
nghi nhanh chóng. Ở đây tồn tại nguyên tắc ai đưa được hàng hóa ra thị trường
trước tiên sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Mặt khác nếu nhận thức được sản
thị trường. Chúng ta chưa thấy được quy luật cung cầu và chỉ chủ trọng vào
xem xét mặt tiêu cực của kinh tế thị trường mà chưa đánh giá hết những giá trị
mà kinh tế thị trường mang lại. Tuy nhiên, Đảng và nhân dân ta đã kịp thời nhìn
nhận lại và có những sửa đổi nhất định. Sau khi nhìn lại những sai lầm trong
quá trình thực hiện cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, tại Đại hội Đảng
lần thứ VI, Đảng ta thừa nhận đã có những thành kiến đối với nền kinh tế hàng
hoá và đề ra chủ trương: quá trình sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta là quá
trình chuyển hoá kinh tế còn nhiều tính chất tự cấp, tự túc thành nền kinh tế
hàng hoá…việc sử dụng đầy đủ và đúng đắn quan hệ hàng - tiền đòi hỏi nền sản
xuất gắn liền với thị trường. Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình
nhận thức, trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000,
Đảng ta đã cụ thể hoá quan niệm về kinh tế thị trường. Đảng ta khẳng định: “
Thị trường hoàn chỉnh ở nước ta sẽ dần hình thành bao gồm cả thị trường lao
động, thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Đó sẽ là thị trường thông suốt trong
cả nước và thị trường thế giới, thị trường đó sẽ đóng vai trò trực tiếp hướng dẫn
các doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực hoạt động, mặt hàng, quy mô, công nghệ và
hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong môi
trường hợp tác và cạnh tranh”. Đến đại hội lần thứ VIII (6/1996) Đảng ta đã xác
định rõ hơn về vai trò của kinh tế thị trường: Cơ chế thị trường đã phát huy tác
dụng tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Nó chẳng những không đối lập
mà còn là một nhân tố khách quan, cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất
nước theo con đường xã hội chủ nghĩa” [5; 26]. Như vậy, trải qua quá trình đổi
mới, quan niệm về vai trò của kinh tế thị trường đã được khẳng định một cách
đúng đắn. Thực tiễn qua 15 năm đổi mới đất nước, ta có thể nhận thấy: Quá
trình chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN là một quá trình tất yếu
và phải trải qua quá trình đấu tranh phức tạp và gian khổ.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chấp nhận
quy luật cạnh tranh nhưng không dã man, tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với
công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu gắn liền với xoá đói giảm nghèo, gia
tăng về mức sống nhưng luôn giữ gìn đạo đức và bản sắc văn hoá dân tộc, kinh
1.2 Đạo đức và đạo đức cách mạng
1.2.1 Đạo đức
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là Mos - lề thói (morolia) -
nghĩa là có liên quan với lề thói, đạo nghĩa. Còn luân lý được xem như đồng
nghĩa với đạo đức có gốc từ tiếng Hy Lạp là ethicos - lề thói, tập tục. Khi nói
đến đạo đức là nói đến lề thói và tập tục, biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa
người với người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta
thường phân biệt hai khái niệm: Mozal là đạo đức, còn ethicos là đạo đức học. ở
phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất
hiện sớm, lần đầu tiên xuất hiện trong "Kim văn" đời nhà Chu và từ đó trở đi nó
được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều để chỉ những yêu cầu, những
nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.
Quan điểm duy tâm tôn giáo coi đạo đức là những nguyên tắc, những
chuẩn mực được rút ra từ trong đầu óc thiếu cơ sở thực tiễn lịch sử, chẳng hạn
như thượng đế, ý niệm tuyệt đối, tự ý thức, hoặc một bản tính người trừu tượng
nào đó, rồi đem áp đặt vào đời sống hiện thực của con người.
Với thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, dựa trên sự kế
thừa có chọn lọc những quan niệm về đạo đức trước đó, đồng thời đặt nền tảng
khoa học cho một nền đạo đức mới - đạo đức cộng sản chủ nghĩa, quan điểm
mác xít cho rằng: Đạo đức là sản phẩm của điều kiện kinh tế - xã hội, trong đó
nhân tố quy định đạo đức là các quan hệ kinh tế, lợi ích là cái chi phối trực tiếp,
là cơ sở khách quan của đạo đức, " lợi ích hiểu một cách đúng đắn là nguyên
tắc của toàn bộ đạo đức". Dưới góc độ nhận thức luận, đạo đức là một hiện
tượng tinh thần, một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, là tính thứ hai so với
tồn tại xã hội. Tính chất đặc biệt của đạo đức thể hiện trong quá trình hình thành
các quy tắc đạo đức, đó là do sự thừa nhận của số đông trong xã hội hay sự thừa
nhận của một giai cấp nhất định.
Dưới góc độ chức năng, đạo đức điều chỉnh hành vi của con người bằng
những chuẩn mực và quy tắc đạo đức theo yêu cầu của xã hội. Mục đích là
nhằm đảm bảo lợi ích chung của xã hội hay lợi ích cơ bản của giai cấp đã đề ra
Về mặt lịch sử, đạo đức mới đã tồn tại và phát triển trước khi tồn tại xã
hội XHCN, nó được hình thành từ cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công
nhân chống lại giai cấp tư sản, nhằm thiết lập địa vị thống trị của mình. Chính
nội dung của cuộc đấu tranh đó quy định sự phát triển nội dung của đạo đức
mới. Trong quá trình xây dựng CNXH, đạo đức mới của giai cấp vô sản ngày
càng trở thành đạo đức chung của nhân dân. Và trong tương lai trở thành đạo
đức chung của nhân loại là đạo đức cộng sản sau khi đã qua giai đoạn trung
gian của nó là đạo đức XHCN.
Để nhấn mạnh vai trò nhân tố tinh thần của đạo đức mới góp phần vào
thắng lợi của cách mạng XHCN; để phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt
Nam; trong khóa luận này chủ yếu sử dụng khái niệm "đạo đức cách mạng"
theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh. "Đạo đức cách mạng" theo Chủ
tịch Hồ Chí Minh là đạo đức mới - đạo đức cộng sản chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh, không những khác mà còn đối lập với
đạo đức của các giai cấp bóc lột thống trị xã hội. Đạo đức cách mạng được nảy
sinh, tồn tại và phát triển trên cơ sở của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất;
nó được hình thành, phát triển cùng với quá trình vận động, phát triển sự
nghiệp cách mạng của nhân dân. Đồng thời nó kế thừa và phát triển tinh hoa
đạo đức truyền thống dân tộc và của nhân loại. Đặc biệt là đạo đức Mác Lênin.
Đạo đức cách mạng Việt Nam được hình thành, phát triển gắn liền với
thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nó là sự phản ánh quá trình đấu tranh cách
mạng của giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp tiến bộ khác nhằm
giành độc lập dân tộc và đưa đất nước đi lên xây dựng CNXH. Vì vậy, tiếp cận
khái niệm "đạo đức cách mạng", cũng cần phải xem xét dưới góc độ nhận thức
luận, chức năng cơ bản và giá trị nhân cách. Cũng như các hệ thống lý luận
đạo đức khác, lý luận đạo đức cách mạng là kết quả của sự phản ánh tồn tại xã
hội. Nhưng với tính cách là trình độ phản ánh cao nhất của ý thức đạo đức -
một hình thái ý thức xã hội đặc biệt - lý luận đạo đức phản ánh bản chất của
tồn tại xã hội mà cụ thể là các quan hệ sản xuất, biểu hiện ra là các quan hệ lợi
ích. Cho nên đạo đức cách mạng kế thừa đặc điểm chung của hệ thống lý luận
giữa các kiểu đạo đức không phải ở hình thức ngôn ngữ mà thực chất là ở nội
dung - kết quả của sự phản ánh hiện thực đạo đức chứa đựng trong ngôn ngữ
với tư cách là hình thức biểu hiện của nó. Nội dung cơ bản của đạo đức cách
mạng được thể hiện ở: Chủ nghĩa tập thể, lao động tự giác sáng tạo, chủ nghĩa
yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa nhân đạo XHCN Trong
các nội dung đó, đạo đức cách mạng thể hiện rõ tính chất cách mạng và khoa
học, là tiêu chí quan trọng để phân biệt sự khác nhau căn bản giữa đạo đức
cách mạng với các kiểu đạo đức trước đây bao gồm: Đạo đức trong xã hội
nguyên thủy, đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo
đức tư sản, đạo đức tiểu tư sản, đạo đức tôn giáo Bởi vì, khi xem xét phẩm
chất đạo đức là xem xét ở khía cạnh tốt - xấu, tích cực - tiêu cực, thiện - ác,
cao thượng hay thấp tức là thẩm định giá trị. Khác với các hệ giá trị đạo đức
cũ, đạo đức cách mạng là hệ giá trị đạo đức tiên tiến, phù hợp với sự phát triển,
sự tiến bộ của con người và xã hội. Thực tiễn cách mạng nước ta cũng đã
khẳng định những giá trị đạo đức của xã hội Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua.
Mặc dù tính cách mạng và khoa học của đạo đức mạng được thể hiện trong hệ
thống những nguyên tắc cơ bản trên, song nó không mang tính cố định, giáo
điều mà đòi hỏi phải được bổ sung, phát triển cho phù hợp với sự vận động
của thực tiễn cách mạng. ở mỗi thời kỳ, giai đoạn khác nhau của cách mạng,
trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng ta đã bổ sung, phát triển những nội dung cụ thể. Từ "tư cách
người cách mệnh" đến "đạo đức cách mạng" rồi đến "Di chúc" coi như những
cột mốc đánh dấu sự phát triển về nội dung đạo đức cách mạng, làm cho nội
dung ấy ngày càng đúng đắn, sâu sắc và phong phú hơn. Tính cách mạng và
khoa học của lý luận đạo đức cách mạng còn được thể hiện ở chiến lược và
sách lược nhằm hiện thực hóa những yêu cầu của đạo đức cách mạng trong đời
sống thực tiễn, biến nó thành phẩm chất nhân cách của người cách mạng trong
đời sống thực tiễn. Đó là thông qua giáo dục và rèn luyện từ thực tiễn cách
mạng, bằng đấu tranh tự phê bình và phê bình, xây đi đôi với chống, nêu
gương về đạo đức thông qua "ngườitốt việc tốt" Chính bằng phương pháp đó
tiên phong, tinh thần xóa bỏ cái lạc hậu, xây dựng cái mới là đặc trưng nổi bật
của đạo đức cách mạng.
Thứ ba, đạo đức cách mạng là sự thống nhất hữu cơ giữa phẩm chất
chính trị và phẩm chất đạo đức. Sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và
phẩm chất đạo đức bắt nguồn từ nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp. Đây vừa là mục tiêu lý tưởng chính trị, vừa là mục tiêu lý tưởng đạo đức
của giai cấp công nhân Việt Nam. Sự thống nhất đó được thể hiện sinh động ở
nhân cách Hồ Chí Minh, cả cuộc đời của Người, toàn bộ động cơ, ý chí và
hành động đều vì quyền lợi của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân và góp
phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người mà trước hết là những
người cùng khổ, bị áp bức, bóc lột. Ngay từ khi bước vào con đường cách
mạng, Hồ Chí Minh đã ý thức rất rõ ràng và sâu sắc vai trò của đạo đức cách
mạng đối với sự nghiệp cách mạng. Người coi đạo đức cách mạng là gốc, là
nền tảng của người cách mạng: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước,
không có nguồn thì sông cạn. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo
đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" [12;252-253].
Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành
được nhiệm vụ cách mạng. Đạo đức cách mạng phải chuyển hóa thành phẩm
chất nhân cách của người cách mạng, giữ vị trí là yếu tố cơ bản của nhân cách.
Chỉ như vậy, đạo đức cách mạng mới thể hiện được vai trò cải tạo xã hội thông
qua hoạt động của con người với tư cách là chủ thể cách mạng. Thực hiện sự
chuyển hóa những yêu cầu của đạo đức cách mạng thành phẩm chất nhân cách
của người cách mạng, được Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng ngay từ những
năm 20 của thế kỷ XX, khi Người tiến hành đào tạo lớp cán bộ ở Quảng châu -
Trung Quốc nhằm chuẩn bị tiền đề cho cách mạng Việt Nam. Nội dung đào
tạo được mở đầu bằng "tư cách một người cách mệnh", trong đó Hồ Chí Minh
quy thành ba vấn đề cơ bản: Đối với mình, đối với người và đối với công việc.
Trước hết đối với mình, người cán bộ cách mạng phải cần, kiệm, liêm chính,
chí công, vô tư, kiên trì, ham học, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói đi
đôi với làm, trung thành với lý tưởng, hy sinh phấn đấu, không tham lam, biết
mạng đòi hỏi người cán bộ cách mạng phải có đức, đồng thời phải có tài, phải
vừa hồng vừa chuyên. Đó là điều kiện cơ bản đảm bảo cho người cán bộ cách
mạng hoàn thành vai trò, chức năng xã hội của họ, là người tổ chức và lãnh
đạo nhân dân làm cách mạng. Trong mối quan hệ biện chứng giữa đức và tài
thì đức là gốc, là nền tảng - theo nghĩa đạo đức cách mạng là cơ sở hướng đích
của tài năng, đồng thời là động lực, là sự thôi thúc nội tâm, thúc đẩy tài năng
phát triển. Đạo đức cách mạng làm cho mỗi người cán bộ hiểu rõ ý nghĩa giá
trị của mỗi việc làm, của từng nhiệm vụ mà họ được phân công đảm nhận, từ
đó hướng toàn bộ tài năng, sức lực của mình để hoàn thành. Đạo đức cách
mạng còn đóng vai trò là động lực bên trong thôi thúc người cán bộ không
ngừng phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của thực tiễn cách mạng. Tài năng là điều kiện cực kỳ quan
trọng để hiện thực hóa mục tiêu và lý tưởng của đạo đức. Thiếu tài năng, người
cán bộ không có đủ điều kiện, cơ sở khoa học để thể hiện đạo đức cách mạng
trong thực tiễn. Đạo đức cách mạng ở Việt Nam do Hồ Chí Minh khởi xướng
và cùng Đảng ta xây dựng, bồi dưỡng cho các thế hệ cách mạng nước ta. Xét
về tính giai cấp và mục đích, nó thống nhất với đạo đức của giai cấp vô sản,
đạo đức cộng sản mà C.Mác, Ăngghen là những người đặt nền móng và Lênin
là người kế thừa, phát triển. Đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản đều mang
tính giai cấp công nhân. Mục đích cuối cùng là góp phần giải phóng triệt để
con người, trước hết là giai cấp công nhân và nhân dân lao động thoát khỏi áp
bức, bất công xã hội. Do vậy, nó là đạo đức trong hành động và cải tạo xã hội,
khẳng định phẩm chất cao quý của người lao động trong sự nghiệp đấu tranh
giải phóng mình Lênin từng nhấn mạnh, đạo đức đó giúp loài người tiến lên
cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động. Đạo đức cách mạng ở Việt Nam là
một đặc thù của đạo đức cộng sản. Tính đặc thù này được quy định bởi thực
tiễn cách mạng Việt Nam, truyền thống đạo đức dân tộc và dấu ấn sắc thái Hồ
Chí Minh.
Đạo đức cách mạng được tiếp cận từ góc độ nhận thức luận, chức năng
cơ bản và giá trị nhân cách nổi lên những đặc trưng như đã phân tích trên - đó
(Quảng Bình), phía Tây giáp tỉnh Khammouan của Lào, phía Đông giáp Biển
Đông.Ở vị trí địa lý này huyện Lệ Thủy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 23- 24
0
C. Lượng mưa trung bình
năm từ 1.600 - 1.800 mm. Lượng mưa lớn, ánh sáng dồi dào là những điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm, ngư nghiệp. Khí hậu có 2 mùa rõ rệt,
mùa nóng trùng với mùa mưa và mùa lạnh trùng với mùa khô. Vào mùa khô có
những đợt nắng nóng kéo dài, vào mùa mưa có những đợt rét đậm, rét hại và
hàng năm thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió, bão vào tháng 9, tháng 10,
tháng 11.
Là huyện có số diện tích tự nhiên 1.416,11 km
2
Địa hình phức tạp, có bề
ngang hẹp, thấp dần từ Tây sang Đông, có 3 dạng địa hình chủ yếu là vùng đồng
bằng ven biển, vùng gò đồi và vùng núi. Do đó Lệ Thủy là huyện có hệ thống
giao thông như quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam chạy suốt vùng đồng bằng,
đường Hồ Chí Minh chạy qua vùng trung du.Với tổng diện tích đất nông nghiệp
gồm 127.490,53 ha trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 22.454,11ha
và diện tích đất lâm nghiệp là 104.683,20ha. Có nhiều diện tích đất có khả năng
chuyển đổi sang trồng cao su, diện tích đất rừng trồng tập trung tại các xã vùng
núi và vùng gò đồi như Văn Thủy, Phú Thủy, Trường Thủy, Sơn Thủy, Sen
Thủy, Thái Thủy, Kim Thủy, Ngân Thủy.Nguồn nước mặt phong phú với con
sông Kiến Giang và có nhiều hồ đập, trạm bơm trên địa bàn huyện. Chất lượng
nước khá tốt thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng.Thiên nhiên
ở Lệ Thủy đa dạng, phong phú, muôn hình, muôn vẻ tạo cho con người nhiều
điều kiện thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn trong quá trình sử dụng cải
tạo và chinh phục tự nhiên để tồn tại và phát triển kinh tế - xã hội.
Cuộc đấu tranh giữa con người và thiên nhiên ở đây luôn diễn ra gay gắt.
Con người Lệ Thủy luôn phải vật lộn với thiên tai, đã hao tổn biết bao sức lực
của Đảng, kế thừa truyền thống quê hương anh hùng, nhân dân Lệ Thủy một
lòng dốc hết sức lực cùng với nhân dân cả nước đấu tranh giành lại độc lập cho
nước nhà. Những trang sử hào hùng đã ghi lại chiến công của con người Lệ
Thủy một thời bom đạn như làng anh hùng Xuân Bồ hay đại đội pháo binh Ngư
Thủy Chiến tranh đã đi qua, huyện Lệ Thuỷ được phong tặng đơn vị Anh
hùng LLVT. Hơn 30 năm sau ngày giải phóng, trên dải đất hẹp này, dù chiến
tranh tàn phá nặng nề, nhưng bằng cái truyền thống hăng say lao động, quen với
gian khổ nên Lệ Thuỷ đã có những bước tiến dài trong sự nghiệp phát triển kinh
tế văn hóa xã hội. Đảng bộ và nhân dân Lệ Thủy, đã biến mảnh đất hoang tàn
sau chiến tranh thành một vùng đất đầy tiềm năng. Nói đến Lệ Thủy, là nói đến
xứ sở của những làn điệu hò khoan nổi tiếng. Hò khoan Lệ Thủy là hình thức
hát xướng, hát đối đáp, nó ra đời trong quá trình lao động sản xuất, chiến đấu.
Hò khoan là tiếng lòng của người lao động Lệ Thủy, là động lực để con người
lao động, lắm khi nó còn là thứ vũ khí sắc bén để người Lệ Thủy đối diện với