1
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Chỉ huy quân sự
CHQS
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
Công tác đảng, công tác chính trị
CTĐ, CTCT
Đạo đức cách mạng
ĐĐCM
Lực lượng vũ trang
LLVT
Quân đội nhân dân
Quân khu 5
1.2
Đặc điểm ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây dựng
đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quân sự địa phương Quân khu 5
33
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT HUY
ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, KHẮC PHỤC ẢNH HƯỞNG TIÊU
CỰC CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIÁO ĐẾN XÂY
DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUÂN
SỰ ĐỊA PHƯƠNG QUÂN KHU 5 HIỆN NAY
2.1
52
Thực trạng ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây
dựng đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quân sự địa phương
52
Quân khu 5
2.2
Một số giải pháp cơ bản phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục ảnh
hưởng tiêu cực của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây dựng đạo
đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quân sự địa phương Quân Khu 5
73
nhiều hoạt động, trong đó có sự phủ định biện chứng ảnh hưởng của tư tưởng
triết học Nho giáo, bởi lẽ: tuy là sản phẩm của xã hội Trung Hoa cổ đại,
nhưng Nho giáo lại có mặt rất sớm ở Việt Nam, để lại dấu ấn sâu đậm trong
đời sống tinh thần, đạo đức của nhân dân ta. Hiện nay, mặc dù Nho giáo
không còn cơ sở kinh tế - xã hội để tồn tại, song với tư cách là một học thuyết
về chính trị- xã hội và đạo đức được tiềm ẩn trong văn hoá truyền thống dân
tộc, những tàn dư của nó vẫn còn ảnh hưởng nhất định, cả tích cực lẫn tiêu
cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta, qua đó ảnh hưởng đến xây
dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5.
Xác định đúng thực trạng ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo, đề
xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của nó đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân
khu 5 là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, không chỉ đáp ứng yêu cầu
xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP, hoàn thành tốt nhiệm vụ công
tác QP,QSĐP của Quân khu 5, mà còn góp phần tích cực vào sự nghiệp xây
dựng quân đội, củng cố quốc phòng, phát triển đất nước trong giai đoạn hiện
nay.
4
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Ảnh hưởng của
tư tưởng triết học Nho giáo đến xây dựng đạo đức cách mạng của đội ngũ
cán bộ quân sự địa phương Quân khu 5 hiện nay” để làm luận văn cao học.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn
Trong lịch sử, Nho giáo không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Trung
Quốc mà còn ảnh hưởng khá toàn diện đến xã hội các nước trong “vành đai
Nho giáo” như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên… Hiện nay, Nho giáo vẫn
còn in đậm dấu ấn và có những tác động nhất định đến phát triển kinh tế - xã
hội của các nước nói trên. Trước thực trạng này, các học giả quốc tế và trong
nước đã thống nhất cho rằng: cần tiếp tục nghiên cứu về Nho giáo để có thái
tâm là các chủ trương, chính sách liên quan đến xây dựng nền đạo đức mới,
con người mới, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội mới và xây dựng nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đảm bảo cho văn hoá luôn
giữ được vai trò vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của đất nước.
Về ĐĐCM và xây dựng ĐĐCM của người Việt Nam trong thời đại mới,
đặc biệt là vấn đề xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ quân
đội, cũng thu hút được sự quan tâm đầu tư nghiên cứu của nhiều nhà khoa
học. Một số công trình có giá trị lý luận và thực tiễn đã được công bố gần đây
như: Tổng cục Chính trị “Nâng cao đạo đức cách mạng đội ngũ cán bộ chính
trị Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới”, Nxb QĐND, Hà Nội
2006; Vũ Khiêu (chủ biên) “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - truyền thống
và nhân loại”, Nxb KHXH, Hà Nội 1993; Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên) “Sự
biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây
dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay”, Nxb CTQG, Hà
Nội 1999; Lê Thị Thuỷ, Luận án Tiến sĩ triết học “Vai trò của đạo đức với sự
hình thành nhân cách người Việt Nam trong tình hình mới hiện nay”, Hà Nội
2001; Nguyễn Văn Bình, Luận án Tiến sĩ triết học “Quan niệm Nho giáo về
các mối quan hệ xã hội, ảnh hưởng và ý nghĩa của nó đối với xã hội ta ngày
nay”, Hà Nội 2001; Nguyễn Hùng Oanh, Luận án Tiến sĩ triết học “Phát
6
triển đạo đức cách mạng ở người thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam
trong tình hình hiện nay”, Hà Nội 2002; Nguyễn Thị Thanh Mai, Luận án
Tiến sĩ triết học “Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức người cán
bộ lãnh đạo quản lý ở Việt Nam hiện nay”, Hà Nội 2007…
Các công trình khoa học nêu trên không những tiếp tục khẳng định vị trí,
vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của ĐĐCM đối với việc hoàn thiện nhân
cách, phát triển năng lực và nâng cao tính hữu ích của con người Việt Nam
nói chung, của một số đối tượng công dân cụ thể nói riêng, mà còn nghiên
đạo quản lý ở Việt Nam hiện nay” được hoàn thành trong năm 2007, đã khẳng
định tính tất yếu khách quan của sự ảnh hưởng đạo đức Nho giáo đối với đạo
đức con người Việt Nam nói chung và đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý nói
riêng hiện nay. Trong Luận án, tác giả đã nêu bật những nội dung cơ bản
trong tư tưởng đạo đức Nho giáo và đạo đức Nho giáo ở Việt Nam, đồng thời
nhấn mạnh: “Khi xây dựng đạo đức cho những người cán bộ lãnh đạo, quản
lý, dù muốn hay không muốn, việc đề cập đến ảnh hưởng của đạo đức Nho
giáo và kế thừa những giá trị tích cực của nó là không thể bỏ qua, thậm chí
còn là cần thiết” [23,tr23]. Qua nghiên cứu, khảo sát, tác giả đã làm rõ những
ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức cán bộ
lãnh đạo, quản lý, rút ra một số vấn đề cần giải quyết và đề xuất một số giải
pháp cơ bản nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của ảnh hưởng
đạo đức Nho giáo trong xây dựng đạo đức người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
nước ta hiện nay.
Gần đây, ở Học viện Chính trị quân sự, Trần Văn Hùng, học viên Cao học
khoá 2005-2007 đã hoàn thành Luận văn Thạc sĩ triết học với đề tài “Ảnh
hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo đến phát triển đạo đức cách mạng của
học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Lục quân 1
hiện nay”. Trong luận văn, tác giả đã khẳng định: “Tư tưởng đạo đức Nho giáo
ảnh hưởng đến phát triển đạo đức cách mạng của quân nhân trong QĐND Việt
Nam, của học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Lục
quân 1 là tất yếu” [18,tr62]. Đóng góp về mặt khoa học của tác giả trong luận
văn này là, đã góp phần làm rõ quan niệm về ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức
8
Nho giáo và đặc điểm, con đường ảnh hưởng của tư tưởng đó đến phát triển
ĐĐCM của học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ở Trường Sĩ quan
Lục quân 1, đồng thời, nêu được thực trạng và đề xuất một số giải pháp cơ
bản nhằm kế thừa những giá trị tích cực, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tư
dựng luận văn của mình, tiếp tục góp phần phát triển lý luận, giải quyết yêu
cầu cấp bách mà thực tiễn đã và đang đặt ra xoay quanh vấn đề nêu trên.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Nghiên cứu từ góc độ triết học về ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho
giáo đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 hiện nay,
làm cơ sở đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích
cực, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng ấy đến xây dựng
ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5. Từ mục đích đó, nhiệm vụ của
luận văn được xác định như sau:
- Làm rõ thực chất ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây
dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 hiện nay.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp cơ
bản nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP
Quân khu 5 trên cơ sở phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục ảnh hưởng tiêu
cực của tư tưởng triết học Nho giáo.
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những tư tưởng cơ bản của triết
học Nho giáo và những ảnh hưởng của nó đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ
cán bộ QSĐP Quân khu 5 hiện nay.
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu, luận văn tập trung làm rõ thực trạng
tư tưởng triết học Nho giáo đã và đang ảnh hưởng nhiều mặt đến xây dựng
ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận và thực tiễn của luận văn
10
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là hệ thống các quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chính sách của Đảng,
dụng luận văn này làm tài liệu tham khảo.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có: mở đầu, 02 chương (04 tiết), kết luận, kiến nghị và danh
mục tài liệu tham khảo.
12
Chương 1
THỰC CHẤT ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO
GIÁO ĐẾN XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ QUÂN SỰ ĐỊA PHƯƠNG QUÂN KHU 5 HIỆN NAY
1.1 Quan niệm về ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây
dựng đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quân sự địa phương Quân khu
5
1.1.1 Nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Nho giáo
Nho giáo ra đời vào thế kỷ VI tr.CN, tư tưởng triết học của nó là hệ thống
quan điểm về tự nhiên, xã hội và con người, về lẽ sống và cách ứng xử của
con người với tự nhiên, xã hội và giữa con người với nhau. Đây là sản phẩm
văn hoá đặc thù của xã hội Trung Hoa cổ đại, gắn liền với tên tuổi của Khổng
Tử.
Những tư tưởng cơ bản của Nho giáo có nguồn gốc từ quan niệm của dân
gian Trung Hoa. Khổng tử đã hệ thống lại những tư tưởng đó và khái quát
thành học thuyết, gồm các tác phẩm: Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc và viết sách
Xuân Thu để tỏ rõ quan điểm của mình (nền tảng của Ngũ Kinh). Các thế hệ
học trò kế tiếp đã dựa vào quan điểm ấy để viết sách Luận Ngữ, Đại Học,
Trung Dung, Mạnh Tử (Tứ thư). “Tứ thư” và “Ngũ kinh” đã trở thành kinh
điển của Đạo Nho, là con đường mà đi theo đó, nhân loại sẽ đạt tới một xã hội
hoà mục, một thế giới đại đồng giống như thời Tây Chu.
Kinh điển Nho giáo chủ yếu phản ánh thực trạng của xã hội Trung Hoa,
vì thế, nó xuất hiện và tồn tại với tư cách là một học thuyết về chính trị - xã
cũng bởi do âm dương tương tác lẫn nhau mà thôi. Do đó, hiểu được lẽ âm
dương là hiểu được vạn vật, biết được lẽ giản dị ấy thì biết được cái lý của thiên
hạ [22,tr38-40].
Theo Nho giáo, “Nhân giả kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ
thần chi hội, ngũ hành chi tú khí giã”: người là cái đức của trời đất, là sự giao
14
hoà của âm dương, là sự hội tụ của quỷ thần, là cái khí tinh tú của ngũ hành
(Lễ ký: Lễ vận, IX). Trời đất sinh ra người, người bẩm thụ hoàn toàn cái đức
của trời nên sáng suốt hơn các loài khác. Nhờ đó mà con người hiểu được
phải trái, hay dở và cùng với trời đất chiếm được địa vị tôn quý trong vũ trụ,
vì thế đạo người phải theo đạo Trời mà tiến hoá. Vả lại, người luôn được Trời
giám sát “Hoàng hỹ Thượng đế, lâm hạ hữu hách, giám quan tứ phương, cầu
dân chi mạc”: đức Thượng đế rất lớn, soi xuống đất rõ ràng, xem xét bốn
phương để tìm sự khốn khổ của dân mà cứu giúp (Kinh Thư: Thiên cáo), nên
người phải kính và sợ Trời, phải lấy phép tắc tự nhiên của Trời làm mô phạm
cho mình và xem thiên luân là nhân luân, thiên đạo là nhân đạo. Hơn nữa, do
“Thiên sinh chúng dân, hữu vật hữu tắc, dân chi bĩnh di, hiếu thị ý đức”: Trời
sinh ra dân có hình phép, dân giữ tình thường, muốn có đức tốt (Kinh Thư:
Thiên cáo) nên người phải lấy Trời làm gốc và phải theo cái bản tính của Trời
đã phú cho để ứng xử hợp với đạo Trời [22,tr08-10].
Nho giáo rất coi trọng sự sinh của trời đất nên lấy bốn cái đức lớn của
trời là nguyên, hanh, lợi, trinh để nói lên sự sinh thành của vạn vật. “Nguyên
giả thiện chi trưởng giã, hanh giả gia chi hội giã, lợi giả nghĩa chi hoá giã,
trinh giả sự chi cán giã”: nguyên là đầu mối của điều thiện, hanh là tụ hội
mọi cái tốt đẹp, lợi là sự hoà hợp với điều nghĩa, trinh là gốc của mọi sự
(Dịch: Văn ngôn truyện). Vì cái đức của trời đất là sự sinh, nên đạo người
phải theo đạo trời đất mà bồi dưỡng sự sinh. Từ bốn đạo lớn của trời đất mà
con người có bốn đức nhân, nghĩa, lễ, trí. Nguyên là nhân đứng đầu các điều
thành để tỏ lòng tôn kính chứ không phải để cầu phúc cho riêng mình. Con
người ở đời cứ theo lẽ phải mà làm thì sẽ được quỷ thần chứng giám, hà tất
phải nay cầu mai nguyện. Những việc mà chính nhân quân tử làm đã bao hàm sự
cầu nguyện, nếu là người bất nhân bất nghĩa, làm những điều trái đạo, mắc tội với
Trời thì dẫu có cầu nguyện quanh năm cũng không ích gì, vì “Hoạch tội ư thiên,
vô sở đảo giã”: Phải tội với Trời thì còn cầu nguyện vào đâu được (Luận ngữ:
Bát dật, III). Nho giáo còn cho rằng, “thần” tức là “thành” (thành thực) nằm ngay
16
trong lòng của mỗi con người. Một khi con người khiêm tốn, thành thực thì “thần”
luôn hiện hữu trong họ, lúc ấy “nhân”, “thần” hoà hợp làm một. Con người tu
dưỡng đạt được điều đó thì sẽ thấy âm dương không khoảng cách, sinh tử là
chuyện thường tình và có quan hệ mật thiết với nhau [01,tr44].
Trời đất và quỷ thần không hề thiên vị, người và vạn vật sinh ra trong thế
gian cùng bẩm thụ lý khí của Trời, nên Trời và người có thể cảm ứng được
“thiên nhân tương dữ”, vả lại “Duy thiên vô thân, khắc kính duy thân, quỷ
thần vô thường hưởng, hưởng vu khắc thành”: Trời không thân với ai, chỉ
thân với người hay kính, quỷ thần không chứng giám cho ai, chỉ chứng giám
cho kẻ hay thành (Kinh Thư: Thái giáp hạ), có kính và thành mới làm cho trời
đất, quỷ thần cảm động được. Vì thế, Nho giáo quan niệm “Quân tử uý thiên
mệnh”: người quân tử sợ mệnh Trời (Luận ngữ: Quý thị, XVI). Con người có
sợ Trời, có giữ lòng kính cẩn thì mới giữ được cái tâm ngay thẳng để làm
những điều nhân nghĩa, hiếu đễ. Như vậy, kính và thành là cái gốc luân lý của
Nho giáo. Có kính thì mới giữ được bản tính của mình cho thuần nhất và có
thành thì người với Trời và quỷ thần mới tương cảm được với nhau.
Đạo Trời là chí thiện, chí mỹ nên đạo người phải theo đạo Trời, muốn
theo đạo Trời, trước hết phải theo đạo thành, bởi lẽ “Thành giả thiên chi đạo
giã, thành chi giả nhân chi đạo giã”: thành thực là đạo Trời, giữ cho được
thành thực là đạo người (Trung dung). Thành là bản tính tự nhiên của thiên lý,
còn quan niệm, tuy thực hiện “nhân ái” là việc riêng của mỗi người, nhưng do
con người sống trong xã hội, nên “nhân ái” luôn được thực hiện trong mối
quan hệ giữa người với người, qua đó mà thể hiện “nhân đức”. Vì thế, đạo
“trung thứ” của Nho giáo luôn lấy vấn đề này làm phương hướng thiết yếu
nhất. Nội dung của nó bao gồm hai phương diện, một là “Kỷ sở bất dục vật
thi ư nhân”: cái gì mình không muốn thì không làm cho người (Luận ngữ: Vệ
Linh công XV), hai là “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”: cái
mà mình thành lập thì cũng lập cho người, mình thành đạt thì cũng giúp người
khác thành đạt (Luận ngữ: Ung giã, VI). “Trung” là sự tận tâm, tận lực đến
mức cao nhất để thành người toàn vẹn. “Thứ” là sự suy bụng ta ra bụng
18
người, là sự đồng cảm để hiểu được hoàn cảnh của người khác. Đạo “trung
thứ” là nguyên tắc ứng xử cơ bản trong quan hệ giữa người với người, yêu
cầu con người trong mọi lời nói và việc làm phải tuân theo “nhân ái”. Đồng
thời, thông qua thực hiện nhân ái mà đạt đến một sự cảm thông chan hoà để có
được một khung cảnh lý tưởng: “Thiên hạ quy tụ ở nhân ái”. Như vậy, công
dụng của đạo “trung thứ” được thể hiện qua thành tựu “nhân đức”, nó không
chỉ thích hợp với bên dưới mà còn thích hợp cả với bề trên. Đó là đạo “một lẽ
mà quán thông tất cả” của Nho giáo. Bởi thế, Nho giáo yêu cầu “Quân quân,
thần thần, phụ phụ, tử tử”: vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con (Luận
ngữ: Nhan Uyên, XII) và “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung”: vua lấy
lễ mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua (Luận ngữ: Bát dật, III). Có thể nói, đạo
“trung thứ” là bậc thềm nhập đức của sự tu dưỡng cá nhân, là chuẩn mực cơ bản
để xử lý các quan hệ nhân luân [15,tr91]. Bên cạnh đó, Nho giáo còn nhấn
mạnh: “làm điều nhân là do mình”, qua đó nêu cao tính tự chủ đạo đức của con
người, có tác dụng chỉ đạo khai thác thế giới nội tại của nhân cách và khơi dậy
khả năng thông qua tự tu dưỡng đạo đức để hoàn thiện nhân cách của từng cá
nhân. Chính điều này đã thể hiện trí tuệ nhân sinh từ “nội thánh” đến “ngoại
ta cũng làm, mình không ngay chính thì tuy có sai khiến cũng không ai theo
(Luận ngữ: Tử Lộ, XIII). Vả lại, muốn chính danh thì phải lấy “lễ” làm chuẩn
mực và phải hành động sao cho tương xứng giữa “thực” với “danh”. Danh thực tương xứng vừa là điều kiện, vừa là kết quả của việc thực hiện đúng “lễ”.
Vì thế, “chính danh” cũng là con đường để đạt tới điều “nhân”.
Nho giáo quan niệm “thiện” cũng là bản chất của con người, thể hiện qua
các đức lớn là: “nhân”, “nghĩa”, “lễ”, “trí”, “tín”, được bắt nguồn từ “tứ đoan”
(bốn đầu mối của thiện, còn gọi là “thiện đoan”); “thiện” là bản nguyên tinh
thần, là đức “tính” do trời phú cho con người; nó luôn biến đổi vì chịu tác động
của môi trường xã hội; bản tính “thiện” còn được xuất phát từ “tâm” của con
người và cái “tâm” ấy cũng do trời phú. Hơn nữa, trong mỗi người, bên cạnh
“tính” và “tâm” còn có “khí”, vì “khí” lưu hành khắp vũ trụ, ngưng tụ lại tạo nên
20
vạn vật và con người; “tâm”, “tính” là phần tinh thần điều khiển cái “khí”, còn
“khí” là phần vật chất để cho “tâm” và “tính” cư ngụ, hai phần ấy được điều hoà
thì con người mới tồn tại. Vì thế, Nho giáo khuyên mọi người tích cực tu dưỡng
đạo lý nhằm làm cho cái tâm sâu rộng, cái trí sáng suốt, cái khí điều hoà, với
mục đích chủ yếu là để bảo tồn tính “thiện”.
Nhân sinh quan Nho giáo luôn chú trọng đến ý nghĩa và giá trị sinh mệnh
cá nhân trong quan hệ giữa người với người. Theo Nho giáo, con người có năm
mối quan hệ chính (ngũ luân): vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn;
từng mối quan hệ phải được giải quyết theo tiêu chí riêng trong ngũ thường.
Ngũ thường là kỷ cương của nhân luân, nó không chỉ là năm dáng vẻ của đức
thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), mà còn là chuẩn mực giải quyết các quan hệ nói
trên theo yêu cầu: vua nhân tôi trung, cha hiền con hiếu, chồng biết điều vợ nghe
lẽ phải, anh tốt em ngoan, bạn bè tín nghĩa; trong đó, Nho giáo đặc biệt coi trọng
quan hệ vua tôi và quan hệ cha con. Trong quan hệ vua tôi, Nho giáo yêu cầu
nhà vua phải có đức, có tài, thương yêu dân như con, dân phải đối với vua
như cha mẹ mình; vì thế, nội dung phạm trù “trung” của quan hệ này đòi hỏi
khuôn mẫu tư tưởng lý luận khá đặc sắc về an bang trị quốc, đó là chủ nghĩa
“đức trị”. Trong đó luân lý và chính trị có sự liên quan mật thiết, luân lý là nền
tảng của chính trị, chính trị là tiếp tục của luân lý. Theo Nho giáo, một khi cá
nhân chú trọng tu dưỡng đạo đức, tuân theo luân lý thì cũng ảnh hưởng đến
người khác và xã hội, đó cũng là việc chính sự. Nho giáo còn đề ra phương châm
“trị quốc bằng đức, điều hành bằng lễ” nhằm làm cho vua, bề tôi và dân chúng
đạt đến sự hài hoà nhất thể, ai cũng phải phát huy đầy đủ tác dụng của họ, và yêu
cầu “Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản”: từ vua quan
cho đến thứ dân đều phải lấy tu dưỡng bản thân làm gốc (Đại học) [15,tr118123]. Đây cũng là nét độc đáo của triết lý phương Đông so với các học thuyết
phương Tây.
Tư tưởng về phương pháp luận nhận thức:
22
Tuy triết học Nho giáo chủ yếu bàn về nhân sinh, nhưng trong học thuyết
ấy vẫn hàm chứa tư duy triết học logic thể hiện phương pháp luận nhận thức,
trong đó thuyết “Trung dung” là tư duy chủ đạo, xuyên suốt [06,tr163].
Vốn tin chắc tình mẫu tử của nhân loại không thể mất đi, từ đó suy ra các
mối quan hệ con người bị băng hoại trong thời loạn cũng có thể cứu vãn
được, cùng với quan niệm phải theo đạo “trung dung” để luôn giữ cho được
“trung” và “hoà”, vì “trung hoà” là ngôi vị của trời đất, là nguồn nuôi dưỡng
vạn vật. Do đó, Nho giáo đã đưa quan niệm “trung hoà” vào vận dụng trong
các lĩnh vực của đời sống xã hội và xem đạo “trung dung” là nguyên tắc thực
tiễn, là lý tưởng tối cao để đối nhân xử thế và lập quốc trị dân.
Theo Nho giáo, đạo “trung dung” đại diện cho một loại đức tính tối cao
(bên cạnh đức nhân và đức trí), đại biểu cho trí tuệ uyên thâm của quân tử.
Trung là không thái quá, không thiên lệch và cũng không bất cập. Dung là sự
bình thường, không dịch đổi. Có trung thì có chính đạo của thiên hạ, có dung
thì có định lý của thiên hạ. Trung dung là lấy đạo thường “không thái quá cũng
không bất cập” làm định lý và chính đạo của thiên hạ [15,tr74]. Trung luôn bao
hoà” là biểu hiện, “nhân” và “lễ” là nội dung. Vì thế, Nho giáo yêu cầu “Đệ tử
nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu
dư lực, tắc dĩ học văn”: mỗi người trong gia đình trước hết phải hiếu kính với
cha mẹ, hoà thuận với anh em; khi ra ngoài trước hết phải có hiếu với tông tộc,
tôn trọng hàng xóm; được vậy rồi thì mới nói đến chuyện kết giao bạn hữu và
tham gia chính sự để vỗ yên dân lành (Luận ngữ: Học nhi, I). Hơn nữa, xuất
phát từ quan niệm xem con người là trung tâm của vũ trụ, nên Nho giáo cho
rằng, để cải tạo xã hội thì vấn đề đầu tiên là phải cải tạo con người, trước hết là
xây dựng cho được một mẫu người hài hoà, trong đó các tiêu chí “lễ” và
“nhân” phải đạt ở mức hoàn mỹ, đó là mẫu người quân tử có khả năng tu
dưỡng cao, suy nghĩ rộng, giữ nguyên tắc, biết tiến thoái, không bất cập và
24
cũng không thái quá cả trong nhận thức và hành động. Một khi có được con
người hài hoà thì tất yếu sẽ có quan hệ con người và quốc gia hài hoà, trái lại
thì ngược lại. Để trở thành con người hài hoà thì phải có phẩm chất toàn diện
cả ba mặt: đạo đức, kiến thức và thực tiễn, trong đó, đạo đức có tầm quan
trọng hàng đầu. Vì thế, Nho giáo đòi hỏi mỗi người, bên cạnh thực hiện “lễ”
còn phải tích cực học tập. Từ yêu cầu này mà Nho giáo đã trở thành một học
thuyết đầu tiên của Trung Hoa cổ đại đưa ra quan niệm về giáo dục theo tư
tưởng “trung dung”, thể hiện được những nội dung cơ bản của nhận thức luận.
Riêng về phương pháp giáo hoá, Nho giáo chủ trương trước hết phải dạy
những điều đơn giản, sau đó dần dần dạy đến những điều phức tạp. “Tiên chi
dĩ Thi Thư, nhi đạo chi dĩ hiếu đễ, thuyết chi dĩ nhân nghĩa, quan chi dĩ lễ
nhạc, nhiên hậu thành chi dĩ văn đức”: trước hết dùng Thi Thư mà dạy, rồi
lấy hiếu đễ mà dẫn dắt người ta, lấy nhân nghĩa mà giảng dụ, lấy lễ nhạc
khiến người ta xem xét, sau cùng mới lấy văn đức để dạy cho nên người
(Khổng Tử gia ngữ: Đệ tử hạnh, XII), bởi vì “Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư
Nhạc”: Thi làm cho ý chí hứng khởi, lễ sửa sang cho phẩm cách đứng đắn,
quân tử với tiểu nhân, đức hạnh đó phải được biểu hiện bằng sự nhất quán giữa
lời nói và việc làm, bằng sự xác định nguyên do của công việc và bày tỏ thái độ
trong hành động. Trong Luận ngữ chữ “nhân” được đề cập 109 lần, “quân tử”
được đề cập 107 lần [15,tr44]. Con người dẫu bần cùng, khổ sở nhưng có đức
hạnh thì vẫn là người quân tử, người kém đức hạnh thì dù có quyền tước cao
sang cũng là kẻ tiểu nhân. Với kẻ sĩ, Nho giáo cũng phân chia nho quân tử và
nho tiểu nhân. Nho quân tử là người học đạo thánh hiền để tự sửa mình thành
người có phẩm hạnh, trong hoàn cảnh nào cũng không trái đạo. Nho tiểu nhân
là người mượn tiếng học đạo thánh hiền để cầu danh, cầu lợi, miệng tuy nói
đạo đức mà bụng thì luôn tìm mưu tính kế để làm những việc bất nhân, bất
nghĩa. Vì thế Nho giáo yêu cầu “Nhữ vi quân tử nho, vô vi tiểu nhân nho”:
nên làm nho quân tử, không nên làm nho tiểu nhân (Luận ngữ: Ung dã, VI).
Tư tưởng “trung dung” trong phương pháp luận nhận thức Nho giáo còn
được biểu hiện ở thái độ của con người đối với trời đất, quỷ thần và quan