NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” TẠI UBND QUẬN THỦ ĐỨC - Pdf 40

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA XÂY DỰNG ĐẢNG


NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA”
TẠI UBND QUẬN THỦ ĐỨC

TIỂU LUẬN MÔN HỌC
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

Người thực hiện:
Lớp:

TP.HCM – 2016


MỤC LỤC

A. LỜI MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Lâu nay, trong con mắt của người dân thì thủ tục hành chính luôn phức tạp,
rườm rà, thiếu công khai, minh bạch thậm chí là nhiêu khê. Điều này đã ảnh hưởng
trực tiếp đến việc giải quyết công việc của người dân, giảm lòng tin của nhân dân
đối với nhà nước và bộ máy hành chính nhà nước.
Xuất phát từ lý do trên mà hiện nay trong cả nước nói chung và địa bàn quận
Thủ Đức nói riêng, tại các cơ quan quản lý nhà nước đặc biệt là UBND các cấp
hoạt động của mô hình “một cửa” trong cải cách thủ tục hành chính đã và đang
được đẩy mạnh. Mô hình “một cửa” tại UBND quận Thủ Đức được triển khai trên
cơ sở chuẩn bị tốt về mặt cơ sở vật chất và tuyển chọn đội ngũ CB, CC nhiệt tình,

thực hiện theo cơ chế “một cửa” tại UBND quận Thủ Đức từ năm 2007 đến nay.
V. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê xã hội học, nghiên cứu lý
thuyết, khảo sát thực tiễn để nghiên cứu các đối tượng trên.


VI. Kết cấu của chủ đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội
dung của chủ đề này gồm 3 chương chính:
Chương 1: Lý luận chung về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành
chính.
Chương 2: Thực trạng công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một
cửa” tại UBND quận Thủ Đức.
Chương 3: Một số biệp pháp nâng cao hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành
chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND quận Thủ Đức.


B. NỘI DUNG
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CẢI
CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
I.1. Khái quát chung về thủ tục hành chính
I.1.1. Khái niệm thủ tục hành chính
Trong hoạt động quản lý nói chung và trong hoạt động của cơ quan nhà nước
nói riêng, để giải quyết được bất cứ công việc nào cũng đều cần có những thủ tục
phù hợp, theo quan niệm chung cho rằng: Thủ tục có nghĩa là phương thức, cách
thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất.
Chúng ta cũng có thể hiểu thủ tục là những quy tắc, chế độ, phép tắc hay quy định
để giải quyết công việc.
Hoạt động quản lý Nhà nước cần phải tuân theo những quy tắc pháp lý, quy

nghĩa vụ của các bên tham gia trong hoạt động quản lý sẽ không được thực hiện.
Thủ tục hành chính là nhân tố bảo đảm cho sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi
và đúng chức năng quản lý của cơ quan Nhà nước vì nó là những chuẩn mực hành
vi cho mọi công dân và công chức nhà nước để họ tuân theo và thực hiện nghĩa vụ
của mình đối với nhà nước.
b) Thủ tục hành chính là trình tự thự hiện thẩm quyền trong quản lý hành chính
Nhà nước
Thủ tục hành chính được phân biệt với thủ tục tư pháp, khác với thủ tục tố tụng
tại toà án, kể cả tố tụng hành chính cũng không thuộc khái niệm thủ tục hành
chính.


So với thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính do nhiều cơ quan và công chức nhà
nước thực hiện và do tính chất hoạt động quản lý nên ngoài những khuôn mấu
tương đối, thủ tục hành chính còn chứa đựng các biện pháp tuỳ nghi, ngược lại thủ
tục tố tụng nhằm đảm bảo tính đúng đắn của các quyết định xét xử nên nó phải rất
chặt chẽ.
c) Thủ tục hành chính rất đa dạng, phức tạp
Tính đa dạng, phức tạp đó được quy định bởi hoạt động quản lý nhà nước là
hoạt động diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và bộ máy hành chính
bao gồm rất nhiều cơ quan từ Trung ương tới địa phương, mỗi cơ quan đó trong
việc thực hiện thẩm quyền của mình đều phải tuân thủ theo những thủ tục nhất
định.
Tính đa dạng và phức tạp còn do nền hành chính nước ta đang chuyển từ hành
chính cai quản (hành chính đơn thuần) sang hành chính phục vụ, làm dịch vụ cho
xã hội, từ quản lý tập chung sang cơ chế thị trường làm cho hoạt động quản lý
hành chính đa dạng về nội dung và phong phú về hình thức, biện pháp.
Xu hướng hợp tác quốc tế dán đên đối tượng quản lý không chỉ là những công
dân trong nước mà cón liên quan đến yếu tố nước ngoài do vậy thủ tục hành chính
hiện nay rất đa dạng, phong phú và tính phức tạp cũng tăng nên gấp bội.

chính trong những bước đó.
c) Thủ tục hành chính khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý sẽ tạo ra
khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã được thông qua
đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý nhà nước
Thủ tục hành chính liên quan đến quyền lợi công dân, do vậy, khi xậy dựng hợp
lý và vận dụng tốt vào đời sống nó sẽ có ý nghĩa rất thiết thực, làm giảm sự phiền
hà củng cố mối quan hệ giứa Nhà nước với dân, công việc sẽ được giải quyết


nhanh chắng kịp thời và chính xác theo đúng yêu cầu của cơ quan nhà nước, góp
phần chống được tệ nạn tham nhũng, sách nhiễu.
d) Thủ tục hành chính là công cụ điều hành cần thiết của tổ chức hành chính,
khống thể tách rời khỏi hoạt động của các tổ chức hành chính
Thủ tục hành chính là công cụ điều hành của các tổ chức hành chính nếu thiếu
thủ tục hành chính thì hoạt động điều hành của những tổ chức hành chính không
thể thực hiện được vì hoạt động điều hành có mối quan hệ gắn bó mật thiết với thủ
tục hành chính, thủ tục hành chính là phương tiện là công cụ cho hoạt đọng điều
hành của các tổ chức hành chính.
I.2. Cải cách thủ tục hành chính
I.2.1. Cơ sở pháp lý của cải cách thủ tục hành chính
Nhận rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành
chính, tháng 5 năm 1994 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 38/Chính phủ về
cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân
và tổ chức. Yêu cầu của Nghị quyết là “nhằm tạo bước chuyển căn bản trong quan
hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ
quan nhà nước với tổ chức xã hội và giữa cơ quan nhà nước với công dân”.
Tiếp theo đó, trong chương trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa
VII), Chính phủ đã xác định cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá của cải
cách hành chính và lựa chọn 7 lĩnh vực trọng điểm để tập trung làm trước là: phân
bổ ngân sách; cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản; đầu tư nước ngoài; xuất nhập

thức hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, đặc biệt là trong giao dịch trực
tiếp của cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg (ngày 04 tháng 9 năm
2003) về cơ chế "một cửa" tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Mục


tiêu đề ra là tạo bước chuyển biến căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công
việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, công dân; giảm phiền hà,
chống quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước. Các nguyên tắc xuyên suốt được xác định là: đơn giản rõ ràng, đúng pháp
luật; công khai về thủ tục, phí, lệ phí và thời gian giải quyết; nhanh chóng, thuận
tiện nhận yêu cầu và trả kết quả tại một chỗ.
Để rút kinh nghiệm chỉ đạo chung, tháng 4 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ
ban hành Quyết định số 55/2002/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm cải cách thủ
tục hành chính tại các cảng biển khu vực thành phố Hồ Chí Minh và sau đó là
Quyết định số 178/2002/QĐ-TTg mở rộng ra các cảng biển thuộc khu vực các tỉnh,
thành phố: Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Ninh, Đà Nẵng và Hải Phòng.
Thực hiện Nghị quyết số 01/2004/NQ-CP của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ đã có công văn số 276/CP-CCHC (ngày 27 tháng 02 năm 2004) giao nhiệm vụ
cho các bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh công tác rà soát thủ tục hành chính.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương khẩn trương chỉ đạo rà soát toàn bộ các thủ tục hành chính thuộc
phạm vi quản lý của mình để sửa lỗi, bổ sung hoặc bãi bỏ những quy định gây
phiền hà, cản trở công việc của dân, hoạt động của doanh nghiệp và các nhà đầu tư.
Các lĩnh vực ưu tiên là thuế, hải quan, đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư nước ngoài,
cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở. Cũng theo tinh thần đó, Nghị quyết số 01/2005/NQ-CP của Chính phủ ngày
04 tháng 01 năm 2005 về một số giải pháp chủ yếu chỉ đạo thực hiện kế hoạch kinh
tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2005 một lần nữa xác định trách nhiệm của

quy phạm thích ứng với từng loại đối tượng, từng loại công việc, phù hợp với điều


kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Cải cách thủ tục hành chính thực chất là cải cách trình tự thực hiện thẩm
quyền hành chính trong mối liên hệ tới quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức và
trong nội bộ cơ quan hành chính Nhà nước.
I.2.2.1. Khái niệm cơ chế một cửa
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ sự cần thiết
phải cải cách thủ tục hành chính, coi đây là một giải pháp quan trọng góp phần đạt
được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Yêu cầu chung của cải cách thủ tục
hành chính là giảm bớt thủ tục hành chính rườm rà và phức tạp, chồng chéo dễ bị
lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn và cản trở việc giải quyết công việc chung,
làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức, công dân . Cơ chế
“một cửa”, “một cửa liên thông” là một giải pháp đổi mới về phương thức làm việc
của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương các cấp, nhằm tạo chuyển biến cơ
bản trong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức, công dân.
Nhận rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành
chính, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 về cải cách một
bước thủ tục hành chính mà mục tiêu quan trọng là hướng đến việc giải quyết tốt
hơn các công việc của công dân, tổ chức, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp.
Cùng với yêu cầu phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính ở nước ta
từng bước được định hình về nội dung, phương hướng triển khai với những bước
đi, cách làm nhằm bảo đảm bộ máy hành chính phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội. Trên lộ trình thực hiện Nghị quyết 38/CP của Chính phủ, cơ chế
“một cửa” đã ra đời và được thí điểm rộng rãi trên cả nước. “Cơ chế “một cửa” là
cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân bao gồm cả tổ chức, cá nhân
nước ngoài thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước,
từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện


Thủ tướng Chính phủ, ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa
liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Quyết định này đã quy
định nhiều nội dung mới, có tính hoàn thiện hơn nhằm thay đổi phương thức làm
việc của cơ quan hành chính nhà nước các cấp ở địa phương, giảm phiền hà, nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đem lại lợi ích cho người dân và doanh
nghiệp. “một cửa liên thông” là một hình thức của cơ chế “một cửa” ở một mức độ
phát triển cao hơn, góp phần thực hiện có hiệu quả trong giải quyết công việc của
công dân và tổ chức tại các cơ quan hành chính nhà nước. Thực chất, “Cơ chế
“một cửa” liên thông” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc
trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc
giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ giải quyết đến trả
kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của
một cơ quan hành chính nhà nước”. Trên thực tế, có nhiều loại hồ sơ hành chính
có liên quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều cấp, nhiều cơ quan, phải qua
nhiều đầu mối mới có kết quả cuối cùng. Cơ chế “một cửa” liên thông” đặt ra yêu
cầu các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp trong quy trình xử lý hồ sơ,
không để tổ chức, công dân cầm hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ quan khác.
Người dân có nhu cầu chỉ phải nộp hồ sơ và nhận lại kết quả tại một đầu mối.
Những cải cách trên đây đã giúp cho cơ quan hành chính nhà nước phục vụ ngày
càng tốt hơn những nhu cầu của người dân.
I.2.2.2. Các nguyên tắc thực hiện cơ chế “một cửa”
Việc tuân thủ các nguyên tắc này khi thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo
cơ chế “một cửa” là rất cần thiết và không thể thiếu nhằm đảm bảo thực hiện thống
nhất, chính xác, có hiệu quả cơ chế “một cửa” tại tất cả các cơ quan hành chính nhà
nước. Các nguyên tắc đó là:


- Thứ nhất, thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.
- Thứ hai, công khai các thủ tục hành chính, mức thu phí, lệ phí, giấy tờ, hồ sơ và
thời gian giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân.

hướng dẫn để tổ chức, cá nhân đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết;
+ Trường hợp hồ sơ chưa đúng, chưa đủ theo quy định thì hướng dẫn cụ thể một
lần, đầy đủ để tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn chỉnh.
- Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả căn cứ vào tính chất công việc có trách nhiệm
xem xét, xử lý theo quy trình sau:
+ Trình lãnh đạo trực tiếp để giải quyết theo trách nhiệm thẩm quyền;
+ Trực tiếp liên hệ với các cơ quan liên quan để giải quyết hồ sơ. Các cơ quan
liên quan có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, giải quyết theo thẩm quyền, đúng thời
gian quy định;
- Nhận kết quả, trả lại cho tổ chức, cá nhân, thu phí, lệ phí theo quy định của pháp
luật
I.3. Ý nghĩa của cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”

I.3.1. Ý nghĩa trong nước
- Mô hình Trung tâm “một cửa” thực sự đáp ứng được yêu cầu cải cách thủ tục
hành chính, phù hợp với tình hình thực tế, hợp với lòng dân được nhân dân đồng
tình ủng hộ. Các thủ tục hành chính được rà soát đơn giản, dễ hiểu, quy trình giải
quyết được điều chỉnh thực sự hợp lý, khoa học, công khai. Những giấy tờ có tính


chồng chéo không theo quy định của Nhà nước được loại bỏ. Đối với lãnh đạo
UBND các cấp và lãnh đạo các sở, ban ngành, các phòng chức năng bớt đi những
công việc sự vụ, dành nhiều thời gian cho những nhiệm vụ quan trọng hơn, phát
huy được lực hiệu quản lý nhà nước.
- Mô hình này khắc phục được tình trạng đùn đẩy công việc, không rõ trách nhiệm
như trước đây. Trước đây khi công dân có hồ sơ hành chính đến giải quyết phải
tìm gặp nhiều phòng ban khác nhau, hồ sơ có khi phải làm đi làm lại nhiều lần, mất
nhiều thời gian, thời gian giải quyết công việc không được quy định cụ thể, thủ tục
hành chính không thống nhất, không được niêm yết công khai, còn có biểu hiện
phiền hà đối với công dân.

Lượng khách du lịch nước ngoài đến nước ta cùng tăng nên nhanh chắng do
thủ tục hành chính thông thoáng và nhanh gọn.


Chương II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” TẠI UBND QUẬN THỦ ĐỨC
II.1. Khái quát về tổ chức bộ máy và hoạt động của UBND quận Thủ Đức
II.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của UBND quận Thủ Đức
Thủ Đức sau ngày 30/4/1975 là huyện ngoại thành, nằm ở phía Đông - Bắc
thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1997, huyện Thủ Đức được phân chia thành 3 quận:
quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức theo nghị định 03/CP của Chính Phủ ban hành
ngày 6/1/1997. Quận Thủ Đức mới có diện tích 47,76 km2, bao gồm diện tích và
dân số của các xã Linh Đông, Linh Trung, Tam Bình, Tam Phú, Hiệp Bình Phước,
Hiệp Bình Chánh, thị trấn Thủ Đức, một phần diện tích và nhân khẩu của các xã
Hiệp Phú, Tân Phú và Phước Long.
Sau khi trở thành quận, các xã đều đổi tên thành phường. Quận Thủ Đức có 12
phường gọi tên theo xã trước đây: Linh Đông, Linh Tây, Linh Chiểu, Linh Trung,
Linh Xuân, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Tam Phú, Trường Thọ, Bình
Chiểu, Bình Thọ, Tam Bình; dân số tính đến nay là khoảng 250.000 người.
Vốn là một huyện ngoại thành, Thủ Đức không có nhiều công trình hạ tầng kỹ
thuật cũng như hạ tầng xã hội. Ba con đường lớn chạy qua huyện Thủ Đức trước
kia và quận Thủ Đức ngày nay đều thuộc quốc lộ: xa lộ Hà Nội, quốc lộ 13 và xa
lộ vành đai ngoài(là xa lộ Đại Hàn cũ). Nhiều năm qua, nhất là từ khi trở thành
quận, nhiều tuyến đường trong quận được mở, nâng cấp, toàn bộ cầu khỉ được thay
bằng cầu bê tông. Những con đường mới, những cây cầu đã nối vùng gò đồi với
vùng bưng, tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông, qua đó thúc đẩy sản xuất công
-nông nghiệp cùng phát triển.
Đường sắt quốc gia chạy qua quận Thủ Đức đang được nâng cấp, kể cả ga Bình
Triệu, ga Sóng Thần, tạo cho Thủ Đức thêm một lợi thế quan trọng để phát triển
kinh tế - xã hội. Bao bọc 3 mặt Thủ Đức là hai con sông lớn, sông Đồng Nai và


nghiệp, do đó ngay trên địa bàn Thủ Đức, dưới chế độ cũ đã hình thành một số
cụm công nghiệp và hàng chục nhà máy nằm rải rác trong các khu dân cư. Công ty
xi măng Hà Tiên, Công ty Cơ điện, Nhà máy điện có mặt từ rất sớm ở Thủ Đức, là
ba trong số hơn 100 nhà máy có quy mô khá do tư bản nước ngoài và tư bản Hoa
kiều làm chủ. Cuối năm 1974 và đặc biệt là đầu năm 1975, trước nguy cơ sụp đổ
không tránh khỏi của ngụy quyền, giới chủ tư bản công nghiệp đã tháo gỡ máy
móc “tùy nghi di tản”, gây nên sư xáo trộn rất lớn trong xã hội 25.000 công nhân
thất nghiệp sau ngày 30/4/1975 là hậu quả của hành động phá hoại sản xuất ấy.
Nhưng chính những người thợ này đã trở thành những người đầu tiên khôi
phục sản xuất sau khi chính quyền cách mạng tiếp quản những cơ sở sản xuất còn
lại hoặc chỉ còn một phần.
Chính sách đổi mới kích thích người lao động và các thành phần kinh tế phát
huy nội lực, tạo ra hàng loạt cơ sở sản xuất công nghiệp. Nhiều ngành hàng truyền
thống mai một trong những năm chiến tranh đã tìm lại chỗ đứng của mình, như
ngành sơn mài, gốm sứ, thêu – đan, đồ gỗ mỹ nghệ… Ngành hàng phát triển mạnh
ở Thủ Đức thập niên 90 là vật liệu cơ khí, phụ tùng thay thế và một số máy công
cụ…
Sự khôi phục và phát triển nhanh của công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong
những năm đổi mới đã làm tăng tỷ trọng trong tổng giá trị kinh tế của Quận lên
62% - một trong những Quận có tỷ trọng công nghiệp cao nhất thành phố Hồ Chí
Minh.Công nghiệp phát triển đã tạo điều kiện củng cố và phát triển giai cấp công
nhân. Năm 1997, trước khi tách quận, công nhân công nghiệp Thủ Đức hơn 42.000
người (số liệu thống kê 1996). Thủ Đức có thêm hàng ngàn công nhân xây dựng
khi cả ba quận trên địa bàn huyện Thủ Đức trở thành những công trường xây dựng
lớn, tấp nập suốt ngày đêm.
Thủ Đức cũng là địa phương hấp dẫn các nhà đầu tư. Khu chế xuất Linh Trung
đã được lấp kín; Khu công nghiệp Bình Chiểu cũng được các nhà đầu tư thuê hết



thương nghiệp tại đây. Trong quy hoạch chợ của thành phố, quận Thủ Đức đã có
chợ đầu mối Tam Bình thay cho chợ đầu mối Cầu Muối – thuộc quận 1.
Một hoạt động có hiệu quả của Thủ Đức là ngoại thương, tăng trưởng đạt bình
quân 14% / năm, vừa bảo đảm sản phẩm công – nông nghiệp của quận tham gia thị
trường xuất khẩu, vừa thu ngoại tệ để nhập máy móc, nguyên phụ liệu phục vụ sản
xuất và nhu yếu phẩm cho thị trường nội địa.
Doanh thu thương mại-dịch vụ: năm 1991 đạt 310 tỉ, năm 1995 đạt 920 tỉ, năm
1997 (tách quận – không tính quận 2 và quận 9) đạt 753 tỉ, năm 2000 đạt 928 tỉ,
năm 2001 đạt 1.188 tỉ, năm 2003 đạt 1.746 tỉ và năm 2004 đạt 2.252 tỉ đồng.
II.1.2. Chức năng - nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của UBND quận Thủ Đức
a) Chức năng - nhiệm vụ của UBND quận Thủ Đức
UBND quận Thủ Đức do HĐND quận Thủ Đức bầu ra, là cơ quan chấp
hành của HĐND quận, là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách
nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. UBND chịu trách
nhiệm chấp hành Hiến Pháp, luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và
Nghị quyết của HĐND cùng cấp nhằm đảm bảo thực hiện đúng chủ trương, chính
sách, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng và thực
hiện các chính sách khác trên địa bàn huyện. UBND thực hiện chức năng quản lý
Nhà nước ở địa phương, góp phần đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ
máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở.
UBND quận Thủ Đức giải quyết công việc theo nhiệm vụ, quyền hạn quy
định tại Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003. UBND quận thảo luận tập thể
và quyết định theo đa số các vấn đề được quy định tại Điều 124 Luật Tổ chức


HĐND và UBND năm 2003 và những vấn đề quan trọng khác mà pháp luật quy
định thuộc thẩm quyền của UBND, cụ thể:
- Xây dựng chương trình làm việc của UBND quận hàng tháng, hàng quý và
hàng năm;
- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách, quyết toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status