Nghiên cứu xây dựng phương pháp phổ hồng ngoại gần và trung bình kết hợp với thuật toán hồi quy đa biến để định lượng đồng thời một sốhoạt chất có trong thuốc kháng sinh thuộc họ βLactam (luận văn thạc sĩ) - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------

NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƢƠNG PHÁP PHỔ HỒNG NGOẠI GẦN
VÀ TRUNG BÌNH KẾT HƠP VỚI THUẬT TOÁN HỒI QUY ĐA BIẾN
ĐỂ XÁC ĐỊNH ĐỒNG THỜI MỘT SỐ HOẠT CHẤT CÓ TRONG
THUỐC KHÁNG SINH THUỘC HỌ β –LACTAM.

Chuyên ngành: Hóa phân tích
Mã Số: 60440118.

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Ngƣời Hƣớng Dẫn Khoa Học: TS. Phan Thị Tuyết Mai
TS. Bùi Xuân Thành

Hà Nội – 2015
MỤC LỤC

1


LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................5
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN .....................................................................................6
1.1.

Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................27

2.1.1.

Chất phân tích. ......................................................................................27

2.1.2.

Mẫu phân tích .......................................................................................27

2.2. Hóa chất và dụng cụ thí nghiệm .....................................................................29

2


2.2.1. Hóa chất ....................................................................................................29
2.2.2. Dụng cụ và trang thiết bị đo .....................................................................30
2.3. Nội dung nghiên cứu.......................................................................................30
2.4. Phương pháp định lượng bằng phổ hồng ngoại gần .......................................30
2.4.1. Nguyên tắc phương pháp phân tích ..........................................................30
2.4.2. Nội dung phương pháp .............................................................................31
2.4.3. Quy trình phân tích ...................................................................................31
2.5. Phương pháp phân tích đối chứng Penicillin và Cephalexin ..........................32
2.6. Chương trình máy tínhcủa phương pháp phổ hồng ngoại gần kết hợp với
thuật toán hồi qui cấu tử chính ( PCR) ..................................................................34
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THỰC NGHIỆM ...................................................36
3.1. Khảo sát các điều kiện đo phổ hồng ngoại xác định đồng thời Penicillin và
Cephalexin trong cùng hỗn hợp .............................................................................36
3.1.1. Khảo sát phổ hấp thụ các hoạt chất penicillin và cephalexin ...................36
3.1.2. Khảo sát ảnh hưởng của các tá dược ........................................................39

4


MỞ ĐẦU
Hiện nay hoạt động sản xuất và buôn bán kháng sinh nói riêng và tân dược
nói chung đem đến nguồn lợi nhuận khổng lồ khiến một số tổ chức, cá nhân đã tung
ra thị trường hàng triệu viên thuốc giả mỗi ngày. Thuốc giả không chỉ đánh lừa
người tiêu dùng, còn vô hiệu hóa các liệu pháp điều trị để cứu sống bệnh nhân và
trong rất nhiều trường hợp thuốc giả gây ra tác hại to lớn như gây ra các phản ứng
dị ứng, nhiễm độc kim loại nặng cũng như làm bệnh nhân dễ kháng thuốc. Đại diện
tổ chức Y Tế Thế giới cảnh báo thuốc giả đang chiếm 7-15% tổng số thuốc ở các
nước phát triển, 25% ở các nước đang phát triển, trong đó các nước ở khu vực Châu
Á chiếm 50%. Các mẫu thuốc giả thường được phát hiện chủ yếu là các loại kháng
sinh như Ampicillin, Penicillin…Điều khiến nhiều người quan tâm là tỉ lệ thuốc giả
ở Việt Nam ngày càng một gia tăng và diễn biến trở nên phức tạp hơn dẫn đến công
tác kiểm tra khó khăn hơn.
Vì vậy, vấn đề kiểm định thuốc đúng hoạt chất, và đúng hàm lượng hoạt
chất trong thuốc là một vấn đề hết sức cấp thiết. Hiện nay có rất nhiều phương pháp
xác định hàm lượng kháng sinh hiệu quả cao như phương pháp sắc ký lỏng hiệu
năng cao ( HPLC), huỳnh quang tia X, các phương pháp quang học hay các phương
pháp điện hóa để phân tích kháng sinh được qui định trong dược điển. Tuy nhiên, hầu
như các phương pháp trên đều được thực hiện trên các thiết bị đắt tiền, chi phí cho quá
trình phân tích tốn kém, quy trình xử lí mẫu và tách chất tốn dung môi và mất nhiều thời
gian không phải phòng thí nghiệm phân tích nào cũng thực hiện được.
Xuất phát từ thực tế này, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng
phương pháp phổ hồng ngoại gần và trung bình kết hợp với thuật toán hồi quy đa
biến để định lượng đồng thời một sốhoạt chất có trong thuốc kháng sinh thuộc họ βLactam”. Với mục tiêu là nghiên cứu quy trình phân tích nhóm β-Lactam bằng
phương pháp phổ hồng ngoại gần với kĩ thuật hồi qui đa biến để kiểm định nhanh
chất lượng lượng thuốc trên thị trường hiện nay.


monobactam.Trong đó có hai nhóm được sử dụng phổ biến nhất là nhóm các
penicillin và cephalosporin.
Các penicillin và cephalosporin tự nhiên được chiết tách từ môi trường nuôi
cây nấm penicilium notaum mà nay gọi là penicillin chrysogenum và
cephalosporium aeremonium [2].
1.1.1.1. Nhóm penicillin
Nguồn gốc: Lexander Fleming (1929) phát hiện môi trường nuôi cấy penicillium
notatum, P. chysogenum.Công thức cấu tạo của một số hoạt chất nhóm Penicillin
được đưa ra trong bảng 1.1.

6


Bảng1.1. Công thức cấu tạo của một số hoạt chất nhóm Penicillin.
Công thức cấu tạo nhóm Penicillin

R

Tên thuốc

Kháng sinh thuộc họ penicillin có cấu trúc mạch vòng beta- lactam (amin nội
vòng) gắn với mạch ngang R-CO-NH, được gọi là các amin của 6-Amino
penicillanie (A.6.A.P) có công thức chung R – C9H11N2O4S [4,7].
Tính chất: Là chất bột màu trắng, dễ bị phá hủy trong môi trường oxi hóa, môi
trường có tính kiềm và nhiệt độ cao, hoặc do tác dụng của nước, của men penicillin
naza (do vi khuẩn đường ruột hay vi khuẩn Gr (-) sinh ra.
Phân loại:
Sự thay đổi nhóm thế trong cấu trúc của penicilin bán tổng hợp dẫn đến sự thay
đổi tính bền vững với các enzym penicilinase và β-lactamase, thay đổi phổ kháng
khuẩn cũng như hoạt tính kháng sinh trên các chủng vi khuẩn gây bệnh.

-

Gồm các thuốc azlocilin, mezlocilin, piperacilin có phổ kháng khuẩn
giống carboxypenicilin cộng thêm Klebsiella và một số vi khuẩn Gr (-)
khác.

1.1.1.2.Nhóm cephalosporin
Nguồn gốc:
Cephalosporin trong tự nhiên được phân lập từ môi trường nuôi cấy nấm
Cephalosporin acremonium có hoạt tính kháng khuẩn thấp nên không được dùng
trong lâm sàng. Các cephalosporin hiện đang dùng là các chất bán tổng hợp từ 7amino-cephalosporinic (7ACA).Cấu trúc vòng 7ACA cũng dễ bị cephalosporinase
phá hủy làm mất tác dụng kháng khuẩn.
Cấu trúc chung gồm vòng β- lactam 4 cạnh gắn với 1 dị vòng 6 cạnh.
Khi thay đổi các gốc R được các cephalosporin có độ bền,tính kháng khuẩn và dược
động học khác nhau.

8


Công thức hóa học:
Cấu trúc hóa học của các kháng sinh nhóm cephalosporin đều là dẫn xuất của
Axit 7-aminocephalosporanic (viết tắt là A7AC). Các cephalosporin khác nhau
được hình thành bằng phương pháp bán tổng hợp.Cấu trúc chung gồm vòng βlactam 4 cạnh gắn với 1 dị vòng 6 cạnh. Khi thay đổi các gốc R1, R2 được các
cephalosporin có độ bền, tính kháng khuẩn và dược động học khác nhau. Công thức
cấu tạo của một số hoạt chất trong nhóm cephalosporin được đưa ra trong bảng 1.2.
Phân loại:
Dựa vào phổ kháng khuẩn, chia các cephalosporin thành 4 thế hệ.Các
cephalosporin thế hệ trước tác dụng trên vi khuẩn G+ mạnh hơn nhưng trên vi
khuẩn G- yếu hơn thế hệ sau. Các tên thuốc sử dụng các thế hệ Cephalosporin được
đưa ra trong bảng 1.3.

Ceftibuten
Cefdinir
Cefditoren

Cephalosporin thế hệ 3

Ceftizoxim
Ceftriaxon
Cefoperazon
Ceftazidim
Cephalosporin thế hệ 3

Cefepim

11


1.1.1.3.Các kháng sinh β-lactam khác.
Carbapenem
Dẫn xuất tự nhiên là thienamycin được lấy từ Streptomyces catteifa nhưng
không bền nên không dùng trong điều trị.
Imipenem là dẫn xuất của N-formidoyl và meropenem là dẫn xuất của
demethylcarbamoyl pyrolidinyl của thienamycin bền vững hơn.
Monobactam:
Kháng sinh monobatam là kháng sinh mà công thức phân tử có chứa β-lactam
đơn vòng.Chất điển hình của nhóm này là aztreonam.
1.1.2. Tính chất vật lývà hóa học các kháng sinh nhóm β- Lactam
Các β- Lactam thường ở dạng bột kết tinh màu trắng, dạng axit ít tan trong
nước, dạng muối natri và kali dễ tan, tan được trong metanol và một số dung môi
hữu cơ có độ phân cực vừa phải, tan trong dung dịch axit và kiềm loãng do đa phần

Sự thay đổi nhóm thế R2 tạo ra nhiều cephalosporin bán tổng hợp khác nhau.Vì
vậy, phản ứng tại các nhóm thế này rất quan trọng. Sự thay đổi trên R 2 làm thay đổi
đặc tính dược động học phân tử .
1.2. Các phƣơng pháp phân tích định lƣợng nhóm kháng sinh β-lactam.
1.2.1. Phƣơng pháp đo quang
Phương pháp đo quang là phương pháp phân tích dựa trên tính chất quang
học của chất cần phân tích như tính hấp thụ quang, tính phát quang…Các phương
pháp này đơn giản, dễ tiến hành, thông dụng, được ứng dụng nhiều khi xác định βlactam, đặc biệt trong dược phẩm [8 ].
Các β-lactam hấp thụ các tia UV nhưng không nhiều cực đại hấp thụ. Chúng
tạo thành phức chất với một số ion kim loại hoặc tham gia phản ứng quang hóa giúp
nâng cao độ nhạy của phép đo.
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5147-90 đã qui định phương pháp gián tiếp sử
dụng quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS xác định Penicillin tổng số trong thịt và
sản

13


phẩm thịt, dùng làm thực phẩm cho người và thức ăn gia súc. Phương pháp này dựa
vào phản ứng tạo phức đặc trưng và hoàn toàn định lượng của cadimi với thuốc thử
phenantrolin-cadimi sinh ra phức bền. Chiết phức này bằng nitrobenzen và đo phổ
hấp thụ nguyên tử AAS của kim loại cadimi trong phức ở pha hữu cơ, hay phân hủy
pha hữu cơ lấy cadimi vào dung dịch HCl 1% và đo phổ của cadimi. Phương pháp
này phức tạp, không đặc trưng và chỉ xác định được lượng tổng Penicillin.
Wei Liu và cộng sự [36] đã sử dụng phản ứng quang hóa của β-lactam với hệ
luminol – K3Fe(CN)6 kết hợp với phương pháp chiết pha rắn để phân tích một số βlactam trong sữa đạt độ nhạy cao: PEN là 0,5mg/l, cefadin là 0,04 mg/l, CEP là 0,1
mg/l .
Tuy nhiên, nếu không kết hợp với phương pháp chiết pha rắn mắc nối tiếp, các
phương pháp quang học chủ yếu chỉ dùng xác định riêng rẽ từng chất kháng sinh và
trong các đối tượng có nhiều yếu tố ảnh hưởng hay chất tương tự chất phân tích việc

tetraetylammoniumclorua (Et4NCl) và acetonitril.Sau đó, các β-lactam sẽ được tách
và định lượng bằng sắc ký lỏng khối phổ chế độ ion dương (LC-PI-ESI-MS). Giới
hạn phát hiện của phương pháp này đối với penicillin G và penicillin V trong gan và
bầu dục là là 1 ng/kg, trong sữa là 0,7 µg/l.
Helio A.Martins-Júnior [25] cũng đã sử dụng phương pháp LC/MS để xác định
lượng dư kháng sinh có trong sữa. Mục đích của nghiên cứu này nhằm phát triển
một phương pháp phân tích mới đơn giản và nhanh chóng để xác định và định
lượng mười bốn kháng sinh từ các mẫu sữa khác nhau .Trong đó, có năm β-lactam,
bốn sulfonamides, ba tetracycline, một macrolid và một cephalosporin. Các chất
này đều được xác định trong khoảng nồng độ 0,75-3,75 mg L-1, hệ số tuyến tính (r2)
cao hơn 0,9960, với thời gian phân tích ít hơn 10 phút. Giới hạn định lượng thấp
nhất và cao nhất của Dicloxacillin và erythromycin tương ứng 0,05 và 9,77 µg L-1,
có hiệu suất thu hồi dao động từ 65-125%, độ lệch chuẩn từ 2,0 to 15%.
Phương pháp bằng sắc ký lỏng khối phổ-tandem (LC-MS / MS) cũng đã được
Frédérique van Holthoon và các cộng sự [23] sử dụng để xác định tám penicillin
trong các mô của heo, sữa và thức ăn gia súc . Kết quả đạt độ chính xác dao động
trong khoảng 94-113% (cơ bắp), 83-111% (thận) và 87-103% (sữa) và 88-116%

15


(thức ăn gia súc). Độ chính xác (độ lệch chuẩn tương đối (RSD) r) trong ngày dao
động từ 5-13% (cơ bắp, n = 18), 4-17% (thận, n = 7) và 5-18% (sữa, n = 7) đến 1132% (thức ăn gia súc, n = 18). Độ chính xác lặp lại giữa các ngày (RSDRL, n = 18)
dao động 6-23% (cơ bắp) để 11-36% (thức ăn gia súc).
Tác giả Yuko Ito và cộng sự [4] thuộc Viện sức khỏe cộng đồng (Nhật Bản)
đã ứng dụng kĩ thuật làm sạch qua cột trao đổi ion để xác định 6 penicillin:
Penicillin G, Penicillin V, Oxacillin, Cloxacillin, Nafcillin, và dicloxacillin trong
thịt. Các penicillin được chiết ra khỏi nền mẫu thịt lợn với nước, nền mẫu thịt bò
với NaCl 2%, làm sạch qua cột chiết pha rắn trao đổi ion và xác định bằng sắc ký
lỏng cặp ion với detectơ tử ngoại. Hiệu suất thu hồi của phương pháp từ 73 - 95%.

ứng với anhydrit benzoic ở 500C trong 5 phút và với 1,2,4-triazol, dung dịch thủy
ngân (II ) clorua có pH = 9 ở 650C trong 10 phút. Các hợp chất dẫn xuất được tách
rửa trên một cột C18 với pha động chứa acetonitril và đệm phosphat (pH=6; 0,1
mol/L) được nạp với natri thiosunfat và cặp ion tetrabutylammonium-hydro sunfat.
Giới hạn phát hiện phương pháp là khoảng 3-11 µg/l.
1.2.3. Phƣơng pháp phổ hồng ngoại
1.2.3.1.Nguyên tắc phƣơng pháp phổ hồng ngoại FTIR
Phương pháp phân tích phổ hồng ngoại (FTIR) là một trong những kỹ thuật
phân tích rất hiệu quả.Các hợp chất hoá học có khả năng hấp thụ chọn lọc bức xạ
hồng ngoại.Sau khi hấp thụ các bức xạ hồng ngoại, các phân tử của các hợp chất
hoá học dao động với nhiều tần số dao động và xuất hiện dải phổ hấp thụ gọi là phổ
hấp thụ bức xạ hồng ngoại. Các đám phổ khác nhau có mặt trong phổ hồng ngoại
đặc trưng cho các nhóm chức và các liên kết có trong phân tử . Do vậy, phổ hồng
ngoại của một hợp chất hoá học coi như "dấu vân tay", có thể căn cứ vào đó để
nhận dạng chúng.
Một trong những ưu điểm quan trọng nhất của phương pháp phổ hồng ngoại
vượt trội hơn những phương pháp phân tích cấu trúc khác (nhiễu xạ tia X, cộng
hưởng từ điện tử vv…) là phương pháp này cung cấp thông tin về cấu trúc phân tử
nhanh, không đòi hỏi các phương pháp tính toán phức tạp. Phổ hấp thu hồng ngoại
là phổ dao động quay vì khi hấp thu bức xạ hồng ngoại thì cả chuyển động dao
động và chuyển động quay đều bị kích thích.

17


Bản chất của phương pháp phổ hồng ngoại là dựa trên hiện tượng các hợp chất
hóa học có khả năng hấp thụ chọn lọc các bức xạ hồng ngoại. Các phân tử chỉ có
khả năng hấp phụ bức xạ hồng ngoại khi chúng phải thỏa mãn 2 yếu tố:
- Một là tần số dao động tự nhiên của một phần phân tử (các nguyên tử và các
liên kết trong phân tử) bằng chính tần số dao động của bức xạ tới.


khi khảo sát sự hấp thụ của các

nhóm C-H, người ta có thể thay parafin bằng hexaclo 1,3-butadien.
- Màng bột: Mẫu được trộn với dung môi, sau đó phết lên bề mặt cửa sổ KBr hoặc
NaCl, chờ đến khi dung môi bay hơi hết tạo thành một lớp màng bột trên cửa sổ thì
tiến hành đo mẫu. Yêu cầu đối với dung môi là không tác dụng với chất đo, dễ bay
hơi và phải khan nước.
- Mẫu ép màng KBr: Trộn mẫu thật đồng đều với KBr, rồi ép thành các viên mỏng
trong suốt bằng máy ép thuỷ lực. Do KBr có tính hút ẩm, trên phổ hồng ngoại
thường xuất hiện các vân hấp thụ của nước ở 3450 cm -1. Khi dùng KBr cũng cầu
lưu ý đến khả năng xảy ra phản ứng trao đổi cation hoặc anion trong trường hợp
chất nghiên cứu là muối hoặc phức chất vô cơ.
 Mẫu dạng màng lỏng:
Khi mẫu ở thể lỏng tinh khiết, người ta có thể chuẩn bị mẫu bằng cách nhỏ một giọt
chất lỏng giữa hai tấm NaCl để có một màng mỏng dày khoảng 0,01-0,1mm, gọi là

20


màng lỏng. Đây là kỹ thuật ghi phổ đơn giản nhất, thường sử dụng cho chất lỏng có
độ nhớt cao và ít bay hơi.
 Mẫu dung dịch :
Hoà tan chất nghiên cứu bằng dung môi thành dung dịch có nồng độ 1-5%.
Cho dung dịch và dung môi nguyên chất vào hai cuvet có bề dày 0,1-1,0 mm và
bằng việc so sánh hai chùm tia đi qua dung dịch và dung môi có thể loại được vân
hấp thu của dung môi.Kỹ thuật thường sử dụng cho các chất lỏng có độ nhớt thấp và
dễ bay hơi.Dung môi không được phép hấp thụ quá 65% bức xạ chiếu vào vì cường
độ bức xạ còn lại sẽ quá yếu. Ngoài ảnh hưởng do bản chất của dung môi, cũng cần
lưu ý đến bề dày của cuvet. Một số dung môi thường sử dụng là CCl4, CHCl3,

cách toàn diện về chất nghiên cứu, nhưng có lẽ là có thể suy đoán được kiểu hoặc
loại hợp chất. Cũng cần tránh khuynh hướng cố gắng giải và gán cho mọi đám phổ
quan sát thấy, nhất là những đám phổ vừa và yếu trong vùng phổ phức tạp. Mỗi khi
phát hiện một loại chất, người ta so sánh phổ của chất nghiên cứu với phổ của chất
nguyên chất tương ứng để có thể nhận định đúng.
 Xác định độ tinh khiết sản phẩm
Phổ hồng ngoại được dùng để xác định độ tinh khiết của các chất.Phổ hồng
ngoại của chất không tinh khiết thì thường độ rõ nét của đám phổ riêng biệt bị giảm,
sự xuất hiện thêm các đám phổ sẽ làm "nhoè" phổ [3].Khi tạp chất hấp thụ mạnh IR
mà ở đó thành phần chính không hấp thụ hoặc hấp thụ yếu thì việc xác định rất
thuân lợi.
 Phân tích định lượng
Phương pháp phổ hồng ngoại (FTIR) còn có thể được ứng dụng trong phân
tích định lượng một chất trong dung dịch hoặc hỗn hợp. Khả năng ứng dụng phổ
FTIR để phân tích định lượng phụ thuộc trang thiết bị và trình độ của các phòng thí
nghiệm. Ngày nay, sự ra đời của các máy quang phổ hồng ngoại hiện đại, sự tăng tỷ
lệ tín hiệu/nhiễu làm cho việc phân tích định lượng càng thêm chính xác và do đó
mở rộng được phạm vi phân tích định lượng. Khi chiếu chùm bức xạ hồng ngoại đi

22


qua một lớp mỏng vật chất, thì sau khi đi qua cường độ bức xạ bị giảm do bị khuếch
tán hay hấp thụ trong lớp mỏng vật chất. Trong một vùng sóng nhất định thì độ hấp
thụ hay mật độ quang đều tỷ lệ tuyến tính với nồng độ dung dịch.
Nguyên tắc chung của phân tích định lượng bằng phổ hồng ngoại là thiết lập mối
quan hệ giữa tỷ số I0/I ở một bước sóng nhất định với nồng độ chất.
Theo định luậnt Lambert-Beer:
lg (I0/I)λ = ελ.d C
Trong đó: Io, I: Cường độ bức xạ hồng ngoại trước và sau khi qua mẫu.

lƣợng thuốc kháng sinh β – lactam.
Kết hợp phổ hồng ngoại FTIR với Chemometric đã trở thành một công cụ
mạnh cho ngành công nghiệp dược phẩm, phù hợp cho việc phân tích các mẫu dược
phẩm cả dạng rắn cũng như dạng lỏng. Đồng thời, phổ hồng ngoại còn có thể sử
dụng trong quá trình kiểm soát chất lượng dược phẩm.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu theo hướng này
và đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc định lượng nhóm thuốc kháng
sinh β – Lactam. Phương pháp này được đánh giá có nhiều ưu điểm như không tốn
dung môi, không cần phá mẫu mà vẫn phân tích trực tiếp được các mẫu rắn, giá
thành phân tích thấp phù hợp kiểm định nhanh các loại thuốc đang lưu hành trên thị
trường hiện nay.
Eliane Gandolpho Tótoli và cộng sự [21] đã sử dụng phương pháp phổ hồng
ngoại chuyển Fourier FTIR để phân tích định lượng bột natri ampicillin. Phương
pháp này không sử dụng dung môi hữu cơ là một ưu điểm vượt trội hơn so với các
phương pháp phân tích khác, thực tế đã đóng góp làm giảm lượng dung môi hữu cơ
thải ra môi trường. Hàm lượng bột natri ampicillin trong mẫu phân tích được xác
định bằng cường độ hấp thụ của đỉnh pic đặc trưng cho nhóm cacbonyl trong vùng
1800-1700 cm-1. Độ chính xác của phương pháp này đã được đánh giá qua độ tuyến
tính r2 = 0,9993 của đường chuẩn trong khoảng nồng độ 1,0 - 3,0 mg/viên, giới
hạn phát hiện và định lượng lần lượt 0,13mg, 0,4 mg. [18]

24


Tác giả Graciele ParisottoI [24] đã tiến hành xác định hàm lượng
Amoxicillin trong các mẫu thuốc dược phẩm sử dụng phổ hồng ngoại gần NIR kết
hợp với phương pháp bình phương tối thiểu từng phần (PLS). Mô hình thực
nghiệm: có 24 mẫu chuẩn được trộn với tinh bột trong đó 17 mẫu được sử dụng mô
hình chuẩn, 7 mẫu dùng cho mô hình đánh giá. Các hoạt chất được trộn tạo ra các
mẫu chuẩn có nồng độ nằm trong khoảng 76.7 – 94.3% (w/w). Quá trình phân tích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status