TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
CHU THỊ LAN
XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG
GỢI VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC
MÔN TOÁN Ở LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN VĂN ĐỆ
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Văn
Đệ người đã trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu và làm khóa
luận.
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa GDTH,
thầy cô trong tổ phương pháp dạy học Toán đã tạo điều kiện giúp đỡ để khóa
luận của em được hoàn thành.
Trong quá trình nghiên cứu và làm đề tài không tránh khỏi những thiếu sót,
rất mong các thầy cô, các bạn đóng góp, sửa chữa để đề tài này càng hoàn
thiện và mang lại hiệu quả cao hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hòa, ngày
tháng
THGVĐ
Tình huống gợi vấn đề
MỤC LỤC
NỘI DUNG
SỐ TRANG
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Đối tượng nghiên cứu
2
4. Giả thuyết khoa học
2
4
1.1.2. Cơ sở lí luận của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
4
1.1.2.1. Cơ sở triết học
4
1.1.2.2. Cơ sở tâm lí học
4
1.1.2.3. Cơ sở giáo dục học
5
1.1.3. Đặc điểm của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
5
1.1.4. Các cấp độ trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn
6
đề
1.1.5. Quy trình phát hiện và giải quyết vấn đề
môn Toán ở Tiểu học
1.3.2.1. Phiếu học
14
1.3.2.2. Phiếu thực hành
14
1.3.2.3. Phiếu kiểm tra
14
1.3.3. Ưu điểm và nhược điểm của phiếu học tập
14
1.3.3.1. Ưu điểm
14
1.3.3.2. Nhược điểm
15
1.3.4. Nguyên tắc thiết kế phiếu học tập
16
2.1.3. Bài “Tính chất giao hoán của phép cộng”
21
2.1.4.Bài “ Phép cộng phân số”
22
2.1.5. Bài “Phép nhân phân số”
24
2.1.6. Bài “ Dấu hiệu chia hết cho 3”
26
2.2. Xây dựng tình huống gợi vấn đề trong dạy học nội
27
dung hình học ở lớp 4
2.2.1. Bài “Diện tích hình bình hành”
27
2.2.2. Bài “Diện tích hình thoi”
29
2.4.2. Bài “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”
39
2.4.3. Bài “ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”
42
2.4.4. Bài “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó”
44
Tiểu kết chương 2
47
KẾT LUẬN
48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
49
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa ngày nay, đòi hỏi đất nước
phải đổi mới một cách toàn diện cho phù hợp với nhu cầu và tình hình mới.
Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán là môn học quan trọng và chiếm
nhiều thời lượng với bốn mạch kiến thức: Số học, yếu tố hình học, yếu tố đại
lượng và giải toán có lời văn. Mỗi một bài học nói chung, HS đều bắt gặp một
tình huống mới cần phải giải quyết, điều cốt lõi là giáo viên phải hướng dẫn
cho các em phải thâm nhập vào tình huống đó, giúp các em có động lực và
giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả. Đề làm được điều này thì không đơn
giản chút nào, cần có sự đầu tư lâu dài, sự nỗ lực vượt khó của các em và sự
tâm huyết của các nhà giáo dục. Làm sao để tạo ra các tình huống dạy học
thích hợp? Đưa HS vào tình huống đó và giải quyết chúng bằng cách nào?
Vấn đề vận dụng các tình huống đó ra sao? Làm sao để giảm bớt các lỗi sai
của HS trong việc chiếm lĩnh những kiến thức về toán học? là những việc làm
hết sức cấp bách và cần thiết.
Trước những vấn đề đặt ra như thế, hơn nữa lại sắp trở thành một giáo viên
Tiểu học trong nay mai, em quyết định chọn đề tài “ Xây dựng tình huống gợi
vấn đề trong dạy học môn Toán ở lớp 4”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tình huống gợi vấn đề trong dạy học nhằm góp phần nâng cao chất
lượng dạy học môn Toán cho HS lớp 4 nói riêng và dạy học các bộ môn khác
ở Tiểu học nói chung.
3. Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng tình huống gợi vấn đề trong dạy học môn Toán lớp 4.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống các tình huống gợi vấn đề trong dạy học
môn Toán đảm bảo tính khoa học, phát huy được khả năng phát hiện và giải
quyết vấn đề của học sinh, thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
2
nội dung môn Toán cho học sinh lớp 4 nói riêng và các môn học khác nói
chung.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Khóa luận gồm
có hai chương chính.
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Xây dựng tình huống gợi vấn đề trong dạy học môn Toán ở lớp 4
3
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
1.1.1. Khái niệm
Theo Nguyễn Bá Kim: “Dạy học phát hiện vấn đề là phương pháp mà
thầy tổ chức cho trò học tập trong hoạt động, do thầy tạo ra một tình huống
hấp dẫn gợi sự tìm hiểu của học sinh, gợi ra vướng mắc mà họ chưa giải đáp
được ngay, nhưng có liên hệ với tri thức đã biết, khiến họ thấy triển vọng tự
giải đáp được nếu tích cực suy nghĩ.”
1.1.2. Cơ sở lí luận của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
1.1.2.1. Cơ sở triết học
Theo triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của
sự phát triển. Trong quá trình học tập của học sinh luôn xuất hiện mâu thuẫn.
Đó là mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ nhận thức với tri thức, kinh nghiệm
sẵn có của bản thân. Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là
một phương pháp dạy học mà ở đó giáo viên tạo ra cho học sinh những tình
huống có vấn đề, yêu cầu học sinh giải quyết. Khi học sinh phát hiện được
tình huống sẽ thấy được mâu thuẫn bên trong tình huống đó. Để giải quyết
chứ không phải thông báo tri thức ở dạng có sẵn.
Học sinh tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo huy động kiến thức và kĩ
năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề. Tức là đặt học sinh vào
trạng thái chủ động chứ không phải thụ động tiếp thu tri thức từ thầy.
Mục đích của dạy học không chỉ là làm cho học sinh lĩnh hội được kết quả
của quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề mà còn làm cho học sinh học
được bản chất thật của việc học.
5
1.1.4. Các cấp độ trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Dựa theo mức độ độc lập của học sinh trong quá trình phát hiện và giải
quyết vấn đề người ta có thể phân chia dạy học phát hiện và giải quyết vấn để
thành các cấp độ sau:
- Thứ nhất: Giáo viên nêu vấn đề và trình bày cách giải quyết vấn đề. Đây là
mức độ mà tính độc lập của học sinh thấp.
- Thứ hai: Giáo viên nêu vấn đề, dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề. Học sinh
giải quyết vấn đề dựa vào sự hướng dẫn, gợi ý của giáo viên .
- Thứ ba: Giáo viên tạo tình huống chứa đựng vấn đề, học sinh phát hiện vấn
đề, giáo viên gợi ý dần để học sinh từng bước giải quyết vấn đề.
- Thứ tư: Giáo viên tạo tình huống chứa đựng vấn đề, học sinh tự phát hiện
vấn đề và độc lập giải quyết vấn đề. Đây là cấp độ mà tính độc lập của hoc
sinh được phát huy cao nhất.
1.1.5. Quy trình phát hiện và giải quyết vấn đề
Gồm 4 bước:
Bước 1: Thâm nhập và phát hiện vấn đề
- Học sinh phát hiện ra vấn đề từ tình huống gợi vấn đề thường là giáo viên
đưa ra
- Giải thích và chính xác hóa tình huống
chỉnh, bổ sung, thậm chí có thể bác bỏ và chuyển hướng khi cần thiết.
Kết quả của hoạt động này là hình thành một giải pháp.
7
- Kiểm tra giải pháp: Nếu giải pháp đúng thì kết thúc ngay, nếu giải
pháp sai thì quay lại bước phân tích vấn đề cho đến khi tìm được giải pháp
đúng thì thôi. Sau khi đã tìm được một giải pháp thì có thể tìm thêm những
giải pháp khác rồi so sánh chúng với nhau để tìm ra giải pháp đúng nhất.
Bước 3: Trình bày giải pháp
Khi giải quyết được vấn đề đặt ra thì người học trình bày lại toàn bộ từ
việc phát biểu vấn đề cho tới giải pháp. Nếu vấn đề là một bài toán thì không
cần phát biểu lại vấn đề. Trong khi trình bày cần tuân thủ các chuẩn mực
trong nhà trường.
Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp
- Tìm hiểu khả năng ứng dụng kết quả
- Đề xuất những vấn đề có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật
ngược vấn đề, …và giải quyết vấn đề nếu có thể.
1.2. Tình huống gợi vấn đề
1.2.1. Vấn đề
Vấn đề là điều cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết (Hoàng Phê – Từ
điển Tiếng Việt)
- Trong toán học, ta có thể hiểu vấn đề như sau:
+ Học sinh còn chưa trả lời được câu hỏi hay chưa thực hiện được hành động.
+ Học sinh chưa được học một quy tắc có tính thuật giải nào để trả lời câu hỏi
hay thực hiện yêu cầu đặt ra.
- Hiểu theo nghĩa trên thì vấn đề không đồng nghĩa với bài tập. Nếu bài tập
chỉ yêu cầu học sinh áp dụng trực tiếp một quy tắc có tính thuật giải để giải
thì không gọi là vấn đề. Chẳng hạn, yêu cầu học sinh tính diện tích hình thang
quan trọng là tình huống phải gợi nhu cầu nhận thức, chẳng hạn phải làm bộc
lộ sự khiếm khuyết về kiến thức và kĩ năng của học sinh để họ cảm thấy cần
thiết phải bổ sung, điều chỉnh hoàn thiện tri thức, kĩ năng bằng cách tham gia
giải quyết vấn đề nảy sinh.
+ Khơi dậy niềm tin ở khả năng bản thân:
9
Tình huống có vấn đề và học sinh có nhu cầu giải quyết nhưng họ thấy vấn
đề vượt quá khả năng của mình họ cũng không sẵn sàng tham gia giải quyết
vấn đề. Tình huống cần khơi dậy ở học sinh cảm nghĩ tuy họ chưa có ngay lời
giải, nhưng đã có một số tri thức, kĩ năng liên quan đến vấn đề đặt ra và nếu
họ tích cực suy nghĩ thì có nhiều hy vọng giải quyết được vấn đề đó. Như
vậy, học sinh có được niềm tin ở khả năng huy động tri thức và kĩ năng sẵn có
để giải quyết hoặc tham gia giải quyết vấn đề.
Ví dụ: Diện tích hình bình hành (Lớp 4)
Ta thấy, đây là tình huống có vấn đề vì:
+ Tồn tại một vấn đề: Công thức, quy tắc tính diện tích hình bình hành (học
sinh chưa biết)
+ Gợi nhu cầu nhận thức: Học sinh có nhu cầu là muốn biết cách tính diện
tích hình bình hành để áp dụng tính trong cuộc sống hàng ngày
+ Khơi gợi niềm tin ở bản thân: Học sinh chưa biết cách tính diện tích hình
bình hành nhưng đã được làm quen với các đặc điểm về cạnh, góc của hình
bình hành, biết cách tính diện tích của một hình đã học ở các bài trước đó. Từ
đó, học sinh tích cực suy nghĩ sẽ tính được diện tích hình bình hành.
1.2.3. Những cách thông dụng để tạo tình huống có vấn đề
Điểm xuất phát thực hiện dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là tạo tình
huống gợi vấn đề. Chúng ta có thể tạo ra tình huống gợi vấn đề theo các cách
sau:
+
2
3+2
5
8
8
8
Kết luận: Nêu được cách cộng hai phân số bằng cách lấy tử số cộng với nhau
và giữ nguyên mẫu số.
Cách 2: Xem xét tương tự để xây dựng kiến thức mới
Từ một vấn đề đã được giải quyết, yêu cầu học sinh thực hiện tương tự cho
vấn đề mới.
Ví dụ: Bài “Nhân với số có một chữ số” (lớp 4)
Ở lớp 2, 3 các em đã được biết cách thực hiện phép nhân các số có 2, 3
chữ số với số có 1 chữ số.
3
7– 3
Vậy 3
2=6
5 = 21 – 15 = 16
(7 – 5) = 3
7–3
5
11
GV đưa ra kết luận: Khi nhân một số với một hiệu, ta có thể lần lượt
nhân số đó với số bị trừ và số trừ, rồi trừ hai kết quả cho nhau.
Cách 4: Lật ngược một vấn đề, một khẳng định đã biết
Ví dụ: Khi học bài dấu hiệu chia hết cho 2 (lớp 4)
GV yêu cầu học sinh ôn tập lại các kiến thức có liên quan: tính chất
giao hoán của phép nhân.
a, Tính: 35
10
b, Dựa vào tính chất giao hoán của phép nhân, em nào cho cô biết 35
bằng gì?
12
10
10 được gọi là mấy chục? (1 chục)
Vậy 10
35 được gọi là gì và bằng bao nhiêu? (1 chục nhân 35 bằng 35
chục)
35 chục là bao nhiêu? (350)
Em có nhận xét gì về thừa số 35 và kết quả của phép nhân 35
-
10?
GV gợi ra vấn đề: “Khi nhân một số với 10 ta có thể tìm được ngay kết
định nhằm củng cố kiến thức, kĩ năng cơ bản đó.
13
Trong mỗi giờ toán, tổ chức hoạt động trên phiếu học tập sẽ góp phần đổi
mới cách dạy học, giúp cho học sinh đạt được mục tiêu của bài học với hiệu
quả cao.
1.3.2. Các loại phiếu học tập thường sử dụng trong dạy học môn Toán ở
Tiểu học
Phiếu học tập thường sử dụng trong dạy học môn Toán ở Tiểu học thường
có 3 dạng:
1.3.2.1. Phiếu học: Là loại phiếu chứa đựng thông tin và sự giải thích cần
thiết để học sinh có thể tự học, tự tìm hiểu và tự vận dụng các thông tin đó.
Phiếu học gồm hai phần: phần bài học và phần thực hành. Phiếu học thường
sử dụng trong các tiết dạy học bài mới, ở đề tài này sử dụng nhiều phiếu học.
1.3.2.2. Phiếu thực hành: Gồm các câu hỏi, bài tập củng cố những kiến thức
kĩ năng đã học. Phiếu thực hành thường được sử dụng trong các tiết luyện tập,
thực hành.
1.3.2.3. Phiếu kiểm tra: Là phiếu có những câu hỏi và bài tập để kiểm tra
xem học sinh đã hiểu bài đến mức nào. Phiếu kiểm tra được sử dụng để kiểm
tra định kì, kiểm tra cuối mỗi năm học và cuối mỗi học kì. Thường thì giáo
viên soạn phiếu học tập rồi cho in hoặc photocopy thành nhiều bản để phát
cho từng em học sinh trong mỗi bài học. Ở một mức độ nào đó, có thể có các
cuốn vở bài tập in sẵn hiện nay gần như là các phiếu học tập.
1.3.3. Ưu điểm và nhược điểm của phiếu học tập
1.3.3.1. Ưu điểm
(1) Dùng phiếu học tập để có thể tiết kệm được nhiều thời gian.
(2)
Phiếu học tập thường được soạn trên giấy khổ lớn, do đó học sinh có
thể viết chữ tương đối to trên khoảng giấy rộng. Ngoài ra nhờ vị trí của các
bài trên phiếu học tập là như nhau đối với mỗi học sinh nên giáo viên có thể
quan sát nhanh quá trình và kết quả làm việc của học sinh. Trong khi đó lối
làm việc trên vở không có được các ưu thế nêu trên. Còn lối làm việc trên
bảng con hiện nay tuy giúp giáo viên có thể quan sát nhanh nhưng diện tích
bảng con lại quá nhỏ, không viết được nhiều. Ngoài ra lại còn mất vệ sinh vì
bụi rất có hại cho sức khỏe của học sinh.
(8)
Trong phiếu học tập có rất nhiều bài tập mang dáng dấp trắc nghiệm.
Do đó, việc sử dụng phiếu học tập sẽ giúp cho giáo viên và học sinh nhanh
chóng tiếp cận với lối kiểm tra, đánh giá và thi cử mới của Bộ GD-ĐT.
(9)
Trong lúc dạy học, giáo viên chỉ phải làm ít, nói ít, còn học sinh lại phải
làm việc nhiều. Điềiu này phù hợp với quan điểm dạy học mới: Lấy học sinh
làm trung tâm.
1.3.3.2. Nhược điểm
(1) Tạo cho học sinh thói quen làm việc không có đầu có đuôi đầy đủ.
(2)
Hạn chế năng lực diễn đạt và trình bày bằng lời của học sinh, vì các em
làm việc bằng tay nhiều quá.
15
kênh hình.
Do đó, tăng cường chuyển các thông tin từ kênh tiếng sang kênh hình, để cho
“kênh hình” mạnh lên là một trong những hướng đổi mới phương pháp dạy
học ở Tiểu học.
16
1.4. Nội dung chương trình môn Toán lớp 4
-
Trong chương trình môn Toán lớp 4, ở học kỳ I chủ yếu tập trung vào bổ
sung, hoàn thiện, tổng kết, hệ thống hóa, khái quát hóa về số tự nhiên và dãy
số tự nhiên, các phép tính và một số tính chất. Ở học kỳ II tập trung vào dạy
phân số, dấu hiệu chia hết và một số dạng về hình học.
Nội dung chương trình toán lớp 4 gồm 6 chương:
Chương I: Số tự nhiên, bảng đơn vị đo khối lượng.
Chương II: Bốn phép tích với các số tự nhiên. Hình học
Chương III: Dấu bị chia hết cho 2,5,3,9. Giới thiệu hình bình hành
Chương IV: Phân số- các phép tính với phân số. Giới thiệu hình thoi.
ChươngV: Tỉ số- Một số bài toán liên quan đế tỉ số. Tỉ lệ bản đồ.
Chương VI: Ôn tập.
Về nội dung chương trình toán lớp 4: Mỗi chương là một mảng kiến thức
Bên cạnh việc tìm tòi và sáng tạo phần giảng dạy phù hợp với yêu cầu bài học
và đối tượng học sinh. Mỗi giáo viên phải giúp các em có phương pháp lĩnh
hội tri thức Toán học. Học sinh có phương pháp học phù hợp với từng dạng
bài toán thì việc học mới đạt kết quả cao. Thực tế cho thấy ở đơn vị tôi các
em học Toán chưa tốt, dạy thế nào biết thế đó. Những em học được thì chưa
biết lập luận cho nên khi đảo câu hỏi ngược lại là không trả lời được.