CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU
HỌC THEO THÔNG TƯ 30/TT/BGD-ĐT
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
“Công việc của người thầy ưu tú là kích thích những người có vẻ tầm
thường có nỗ lực phi thường. Vấn đề hóc búa là không phải xác định những
người chiến thắng; mà làm cho những người bình thường trở thành người
chiến thắng.” – K. Patricia Cross. Do vậy, những lời nhận xét thực sự rất
quan trọng với học sinh. Cùng một học sinh đó nhưng với những lời nhận xét
trái ngược nhau sẽ cho ra những kết quả khác nhau sau lời nhận xét đó.
Từ xưa đến nay, nền giáo dục Việt Nam luôn lấy điểm số để đánh giá
học sinh. Tuy nhiên, qua nhiều thời gian đúc rút kinh nghiệm chúng ta đã
nhận thấy hình thức đánh giá đó khiến học sinh áp lực về điểm số. Kế thừa và
phát huy những ưu điểm về đánh giá học sinh tiểu học đã thực hiện trước đây,
đặc biệt là đổi mới đánh giá đã thực hiện trong hai năm học ở các trường tiểu
học triển khai Mô hình trường học mới Việt Nam; học tập kinh nghiệm của
nhiều nước trên thế giới đã không dùng điểm số, thay vào đó học sinh nhận
được những động viên, phản hồi từ giáo viên về sản phẩm học tập của các em,
về các câu trả lời của các em… và biện pháp để các em vượt qua các khó khăn
trong học tập, Thông tư 30/2014 của Bộ Giáo dục và Đào ban hành quy định
đánh đánh giá học sinh tiểu học ra đời.
Thông tư 30/2014/BGD-ĐT bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15/10/2014 và
chính thức được áp dụng vào việc đánh giá học sinh các trường Tiểu học trên
toàn quốc. Từ chỗ kiểm tra đánh giá thường xuyên bằng điểm số và chủ yếu
hướng vào ghi nhớ kiến thức trước đây, được thay bằng đánh giá thường
của ông cha ta. Nhưng chưa có một đề tài cụ thể nào được nghiên cứu để vận
dụng thông tư 30/2014 một cách có hiệu quả nhất. Vậy nên, tôi mạnh dạn đưa
ra sáng kiến: “Một số biện pháp chỉ đạo đánh giá học sinh Tiểu học theo
Thông tư 30/2014/BGD-ĐT”.
2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Một số giải pháp chỉ đạo giúp giáo viên áp dụng để đánh giá học sinh
Tiểu học một cách có hiệu quả.
3. Điểm mới của đề tài:
Để tiếp nhận thông tư hoàn toàn mới này, nhiều diễn đàn, báo chí đã
đăng tải những thông tin liên quan ngay sau khi Thông tư 30/2014/BGD-ĐT
được ban hành. Và đề tài của tôi đã kịp thời giúp đỡ giáo viên phụ huynh cũng
như học sinh trong thời gian tiếp cận thông tư còn ít nhiều bỡ ngỡ. Giáo viên
biết rõ mình cần tiếp cận, hiểu và thực hiện thông tư như thế nào để dạy học
đạt hiệu quả. Phụ huynh nhìn vào vở con và biết ngay cần phải rèn luyện thêm
cho con vào nội dung nào. Phụ huynh cũng không còn so sánh điểm số của
con mình với bạn để tạo áp lực cho con mà động viên con cố gắng những
khuyết điểm còn mắc phải. Học sinh nhìn vào lời nhận xét biết ngay mình cần
khắc phục ở chỗ nào. Các em không cảm phải thấy tự ti mà có hứng thú học
tập hơn sau mỗi lời động viên của giáo viên.
B. PHẦN NỘI DUNG
I Thực trạng của việc áp dụng đánh giá học sinh Tiểu học theo Thông
tư 30/2014/BGD-ĐT
1 Thuận lợi:
Hệ thống thông tin, tài liệu tập huấn trang bị đầy đủ. Giảm áp lực
chấm điểm số (trước đó vừa cho điểm, vừa ghi lời phê). Tăng cường theo
dõi quá trình học tập của học sinh. Giúp GV điều chỉnh phương pháp truyền
thụ kiến thức, kỹ năng cho từng nhóm đối tượng học sinh Cơ sở vật chất,
trang thiết bị dạy học trong nhà trường đảm bảo. Được sự quan tâm chỉ đạo
viên hạn chế về chữ viết cho rằng việc ghi "lời phê đòi hỏi khi ghi chữ cần
chuẩn mực do đó họ không thể đang dạy mà chấm bài nên phải ôm về nhà
chấm .... Thực sự đánh giá học sinh Tiểu học theo Thông tư 30/2014 là áp
lực cho giáo viên. Vì các cô giáo sẽ vất vả hơn khi phải bao quát sâu sát học
sinh, dành rất nhiều thời gian để suy nghĩ và viết những lời nhận xét học
sinh cho phù hợp, nhất là với các lớp học có sĩ số đông. Do vậy, thời gian để
nghiên cứu và soạn bài sẽ bị eo hẹp hơn nhiều so với trước đây.
Giáo viên nhận xét bài kiểm tra thường xuyên chưa ghi cụ thể những ưu
điểm, hạn chế bài làm của học sinh, vẫn còn tồn tại nhiều lời phê, lời nhận xét
của giáo viên chưa khuyến khích động viên học sinh cố gắng hoàn thành các
nhiệm vụ được giao.
Ví dụ: Khi nhận xét trong vở chính tả của học sinh, một số giáo viên
thường ghi: “ Em viết chưa đúng quy trình”. Học sinh khi đọc lời nhận xét sẽ
rất hoang mang, không biết mình sai cụ thể lỗi gì, phải khắc phục thế nào.
Có thể nói, đa số giáo viên gặp khó khăn trong việc ghi nhận xét học
sinh về kiến thức, năng lực, phẩm chất khi kết thúc 1 tháng và cuối học kì 1.
2.2. Đối với học sinh:
Học sinh còn lúng túng trong hiểu nghĩa từ nên việc nhận xét vở, phiếu
học tập của học sinh với một số từ chuyên môn sẽ khiến các em khó hiểu hơn
là điểm số.
Không chấm điểm thường xuyên thì có một số học sinh sẽ ít có động
lực để phấn đấu trong học tập.
2.3 Đối với phụ huynh học sinh.
Một số phụ huynh chưa thật sự ủng hộ và phối hợp với giáo viên để
thực hiện tốt thông tư.
Phụ huynh còn trẻ nên đa số làm ăn xa, việc nhận xét vào vở để bố mẹ
xem rất khó thực hiện được.
3 Nguyên nhân:
2.1. Đối với giáo viên:
Mặt khác tâm lý học sinh tiểu học từ xưa đến nay rất thích được chấm
điểm. Giáo viên chấm điểm thường xuyên là một động lực thúc đẩy ý thức
học tập của học sinh.
2.3 Đối với phụ huynh học sinh.
Vì những nhận xét của giáo viên thường mang tính chất định tính nên
những phụ huynh theo dõi việc học tập của con hàng ngày qua điểm số, nay
được giáo viên nhận xét, họ sẽ rất băn khoăn.
Bố mẹ các em còn trẻ nên đa số làm ăn xa, các em ở nhà với ông bà nên
việc nhận xét vào vở để bố mẹ xem rất khó thực hiện được.
II Một số biện pháp chỉ đạo đánh giá học sinh Tiểu học theo Thông tư
30/2014/BGD-ĐT
1. Biện pháp 1. Qu¸n triÖt về nhËn thøc cho đội ngũ CB, VC trong nhà
trường về tầm quan trọng của việc đổi mới đánh giá theo TT30/2004/ BGDĐT.
Tôi đã giúp đội ngũ CB, VC trong nhà trường hiểu rõ ưu điểm và
tầm quan trọng của việc đổi mới đánh giá theo TT30. Theo quan niệm hiện
nay, mục đích chính của hoạt động đánh giá HS là nhằm góp phần bảo đảm,
nâng cao chất lượng giáo dục. Do vậy, cần có các hoạt động quan sát, theo
dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của HS; tư vấn,
hướng dẫn, động viên HS học tập, rèn luyện để hình thành và phát triển năng
lực, phẩm chất.
Như vậy, nội dung khái niệm “đánh giá” hiện nay đã phát triển hơn so
với trước đây. Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT về việc ban hành Quy định
về đánh giá và xếp loại HS Tiểu học còn rất hạn chế về tác dụng giúp đỡ HS
vì chỉ quy định đánh giá kết quả cuối cùng mà HS đạt được trong từng giai
đoạn. Do vậy, Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT đã không còn phù hợp trong
việc chỉ đạo dạy và học theo định hướng đổi mới, buộc phải thay đổi cách
đánh giá cho phù hợp với xu thế phát triển và đường lối chỉ đạo trong giai
đoạn mới.
còn động viên, khuyến khích HS phát huy hết khả năng của mình. Ngoài ra,
trong quá trình học còn chú trọng đến việc HS tự đánh giá lẫn nhau, cha mẹ
HS cũng tham gia đánh giá. Với cách làm này sẽ góp phần làm tăng sự gắn
kết giữa gia đình với nhà trường trong giáo dục HS. Đây là một bước tiến
quan trọng của ngành giáo dục trong việc kiểm tra, đánh giá chất lượng HS.
Việc nhận xét sự tiến bộ, thành công trong học tập của HS sẽ mang lại hứng
thú, niềm vui cho các em. Mặt khác, khi đánh giá bằng nhận xét, GV sẽ gần
gũi, sâu sát và hiểu HS hơn. Đặc biệt, chúng ta không thể so sánh em này với
em khác vì điều kiện học tập hay khả năng tiếp thu của các em...
Biện pháp 2. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo việc đổi mới đánh giá theo
TT30/2004/ BGD-ĐT ngay từ khi có công văn của PGD & ĐT
* Kế hoạch triển khai tập huấn đến từng giáo viên:
1.1). Thời gian tổ chức triển khai:
- Ngày 11/9/2014 nhà trường nhận được văn bản Thông tư 30/2014. Hiệu
trưởng chỉ đạo việc nghiên cứu, bàn bạc, trao đổi các nội dung trong
TT30/2014.
- Ngày 23/10/2014 nhà trường tổ chức tập huấn cho 23 GV chủ nhiệm lớp và
bộ môn.
- Ngày 25/10/2014: Hiệu trưởng họp triển khai TT30/2014 trong Phụ huynh
học sinh.
1.2). Biện pháp tổ chức và thực hiện:
- Xây dựng kế hoạch và chương trình nội dung tập huấn:
+ Hiểu biết quan điểm đổi mới đánh giá học sinh tiểu học;
+ Học tập nội dung TT30/2014;
+ Tăng cường năng lực cho GV để đánh giá HS tiểu học theo TT30.
- Phối hợp vận dụng nhiều hình thức hoạt động tích cực vào buổi triển khai
tập huấn giúp GV có tinh thần học tập nhẹ nhàng thoải mái:
+ Xây dựng nhóm tự quản
rút kinh nghiệm, hướng đến sự tiến bộ của học sinh. Giáo viên được quyền
chủ động viết vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục (thay thế sổ ghi điểm trước
đây và cũng được coi như sổ nhật kí về đánh giá học sinh, chỉ dành cho giáo
viên ghi nhận xét, theo dõi giúp đỡ học sinh). Không bắt buộc phải ghi nhận
xét tất cả học sinh hằng tháng. Thông tư 30/3024 quy định, yêu cầu giáo viên
cần quan tâm đánh giá tất cả học sinh, không được “quên” em nào nhưng chỉ
cần ghi những điểm nổi bật hoặc những điều cần thiết về học sinh để giáo viên
theo dõi và có biện pháp cụ thể, riêng biệt giúp đỡ kịp thời (đối với học sinh
chưa hoàn thành, giáo viên giúp học sinh tự hoàn thành hoặc những học sinh
hoàn thành tốt giáo viên giúp hứng thú học tập hơn).
Hơn ai hết, muốn thực hiện việc đánh giá theo TT30/2014 thực sự có
hiệu quả, mỗi một giáo viên phải tự nhận thức đúng mục đích và tinh thần của
việc đổi mới đánh giá vì vậy tôi đã tổ chức giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới
phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm
ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục. Tôi đã tổ
chức các buổi tập huấn, thảo luận, tìm hiểu về thông tư cho tất cả các giáo
viên. Đồng thời tôi cũng liên hệ với các đơn vị bạn để các giáo viên cùng thảo
luận và học hỏi lẫn nhau. Bên cạnh đó giúp giáo viên nhận ra nhiệm vụ cốt lõi
nhất là phải kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động
viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh
để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và
những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; Tiếp đến, giúp học
sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách
học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ. Các bậc
phụ huynh sẽ tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá
trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình. Giúp cán
bộ quản lý giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới
Sắp xếp ghi nhận xét vào vở, sản phẩm học sinh một cách khoa học,
tránh áp lực, đối phó, quá tải. Cần căn cứ vào chủ đề, mạch kiến thức để ghi
ngay nhận xét vào sổ bộ môn, không đợi đến cuối tháng. Không nhất thiết hết
1 tháng, giáo viên phải ghi đủ nhận xét cho 100% học sinh vào sổ bộ môn.
Tùy theo giai đoạn kiến thức để giáo viên ghi nhận xét cho phù hợp. Vì quyển
sổ này dành cho chính giáo viên bộ môn, quá trình đánh giá thường xuyên kéo
dài đến hết 1 học kì mới kết thúc một giai đoạn.
Tích hợp trong cách ghi nhận xét giúp giáo viên sẽ tiết kiệm được thời
gian, câu từ ngắn gọn hơn. Khi nhận xét vào vở học sinh nên tích hợp ghi nội
dung tồn tại, nhược điểm của học sinh và biện pháp, ví dụ: “Em cần luyện các
chữ hoa M, N”. Đối với học sinh chưa hoàn thành nhiều kiến thức thì nên
thường xuyên nhận xét bằng lời kết hợp lựa chọn ghi vào vở nội dung cơ bản
nhất để giúp các em tiến bộ, nếu ghi nhiều nội dung, các em rất dễ bị rối và
gặp khó khăn khi đọc lời nhận xét của giáo viên.
Phân biệt cách nhận xét tuần và nhận xét tháng giúp giáo viên có cách
ghi cụ thể. Thông thường nhận xét trong tuần, giáo viên thường sử dụng hai
hình thức bằng lời và viết. Khi viết vào vở ghi, bài kiểm tra hoặc sản phẩm
của học sinh thì giáo viên thường sử dụng các đại từ xưng hô để thể hiện sự
gần gũi với học sinh. Tuy nhiên khi nhận xét tháng, ngoài nhận xét thông báo
bằng lời đến với các đối tượng thì bắt buộc giáo viên phải ghi vào sổ theo dõi
nên giáo viên lựa chọn câu từ thể hiện được mức độ học tập cơ bản nhất của
đối tượng học sinh đó: ưu, nhược, biện pháp thật ngắn gọn để lưu ý với chính
bản thân mình, không ghi thêm các đại từ xưng hô vào.
Khi đưa ra nhận xét GV cần nêu cụ thể ưu điểm, tồn tại và giải pháp để
giúp HS tiến bộ trong học tập. Lời nhận xét cần căn cứ vào:
- Mục tiêu của bài học
- Chuẩn KTKN
- Sản phẩm ( KQ) HS làm được.
các nhân.
Ví dụ: Thay vì nhận xét em A: “Em có nhiều cố gắng hơn trước” thì
giáo viên nên nhận xét: “ có nhiều tiến bộ, cần phát huy”
Mỗi lời nhận xét phải là thông điệp của người thầy đối với học sinh và
phải đảm bảo được hai yếu tố đó là: Khẳng định trên cơ sở thực tiễn và tư vấn,
động viên các em học sinh. Mỗi lời nhận xét viết ra phải chứa đựng tình cảm
của người thầy. Tức là nếu em A làm tốt bài này, em B chưa làm đúng bài kia
thì giáo viên phải nhận xét ngay và truyền tải được thông tin nhắn nhủ ở trong
đó. Ví dụ: “ Em làm bài rất tốt, cô khen!”, “ Em tính kết quả chưa đúng, cần
tính toán cẩn thận hơn!”, ...
Học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh các lớp đầu cấp vốn từ vựng còn ít
và hiểu nghĩa từ còn vụng nên nhận xét phải cụ thể, dễ hiểu để các em nhận
biết được thiếu sót của mình mà khắc phục. Tránh nhận xét chung chung. Ví
dụ: “ Em viết còn sai lỗi quy trình”, “ Em viết chữ chưa đẹp”,... Nếu nhận xét
như vậy sẽ khó cho học sinh biết được cụ thể mình sai chỗ nào. Giáo viên phải
nhận xét từng lỗi một, để sửa chữa cho các em từ từ không nhất thiết lúc nào
cũng phải nhận xét bằng lời phê vào vở mà giáo viên có thể kết hợp giữa lời
với việc viết mẫu . Ví dụ: “ Em viết sai chữ d , k giáo viên không nhận xét chỉ
cần viết mẫu vào vở rồi yêu cầu học sinh viết lại các chữ đó.
5. Biện pháp 5: Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình
VNEN (hoặc áp dụng mô hình VNEN mức 1).
Đối với một số trường đã triển khai mô hình Trường học mới thì đổi mới
phương pháp dạy học rất dễ dàng. Học sinh có thể mạnh dạn tự đánh giá và
đánh giá lẫn nhau. Thông qua đó, mình có thể đưa ra những nhận xét chính
xác.
Nhưng đối trường tôi mới chỉ tiếp cận mô hình VNEN thì nên đổi mới
bằng cách áp dụng mô hình VNEN theo mức 1. Để đánh giá học sinh theo
thông tư này, đòi hỏi giáo viên cần phải đổi mới PPDH theo hướng tích cực,
môn học và từng phân môn cụ thể.
Trước khi đưa ra danh sách khen thưởng, giáo viên cho các em tự bình xét
lẫn nhau, sau đó tham khảo ý kiến của học sinh và một số giáo viên bộ môn để
có được danh sách báo cáo Hiệu trưởng quyết định khen thưởng cho học sinh
theo từng lĩnh vực. Học sinh giỏi lĩnh vực nào thì khen lĩnh vực đó. Ví dụ: có
học sinh học không giỏi nhưng lại nhặt được của rơi trả lại người mất thì em
đó vẫn được tặng giấy khen vì trung thực, ngay thẳng. Ngược lại có một số
em dù học giỏi nhưng không lễ phép với thầy cô, gây gỗ với bạn bè thì vẫn
không được khen thưởng; ...
Nhờ đó, những lời nhận xét thường xuyên sẽ rất hữu ích và nếu có biện
pháp kịp thời thì học sinh sẽ nhanh tiến bộ. Đồng thời, những học sinh tự ti
về khả năng tiếp thu văn hóa nhưng có năng khiếu cũng sẽ nỗ lực vươn lên.
Bởi mục đích của Thông tư là không chỉ giáo dục về văn hóa mà phải giáo
dục về năng lực và phẩm chất.
Ngoài ra, để khắc phục những trở ngại hoặc chưa có thói quen về phía phụ
huynh, tôi đã tham mưu cho giáo viên nên chủ động trao đổi thường xuyên để
thay đổi thói quen và tâm lý lâu nay về ý thức chờ đợi, kì vọng các con về
điểm số, chủ động trao đổi qua Email hoặc gọi điện hỏi thăm về việc học sinh
học ở nhà của học sinh như thế nào, gửi phiếu liên lạc hàng tháng để phụ
huynh đánh giá học sinh.
Ngoài việc thực hiện thay đổi cách đánh giá học sinh, mỗi giáo viên phải
là một tuyên truyền viên xuất sắc tuyên truyền tinh thần đổi mới của Thông tư
30/2014/BGD-ĐT đến các bậc cha mẹ học sinh và cộng đồng để nhân dân
thấy rõ được con đường Học mà con mình đang đi sẽ tạo ra một thế hệ tương
lai - những con người mới có kiến thức, năng lực và phẩm chất đáp ứng được
yêu cầu phát triển của xã hội. Để có được thế hệ con người mới, cha mẹ học
sinh phải có trách nhiệm cao hơn với con cái mình, không đứng ngoài cuộc
mà cùng tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện của con em
hoàn
thành
thành
SL
%
SL
%
SL
335 98,8
335 98,8
4
1,2
Năng lực
Phẩm chất
Chưa
Đạt
đạt
Chưa
đạt
Đạt
%
Học sinh đã không còn bỡ ngỡ khi mỗi lần giáo viên chấm vở lại không có
điểm. Cứ nhìn vào lời nhận xét, học sinh biết ngay mình cần khắc phục ở chỗ
nào. Đồng thời áp lực điểm số không còn, học sinh không cần phải thấy tự ti
vì điểm mình không cao bằng bạn mà thậm chí có hứng thú học tập hơn sau
mỗi lời động viên của giáo viên.
Phụ huynh học sinh cũng không còn thắc mắc là con mình học giỏi, khá,
trung bình hay yếu. Họ nhìn vào vở con và biết ngay cần phải rèn luyện thêm
cho con vào nội dung nào. Phụ huynh cũng không còn so sánh điểm số của
con mình với bạn để tạo áp lực cho con mà động viên con cố gắng những
khuyết điểm còn mắc phải.
Về phần giáo viên, cứ sau mỗi tiết dạy, giáo viên viết lại những nổi bật,
hạn chế của học sinh để có biện pháp giáo dục kịp thời không cần đợi đến
cuối tháng mới ngồi nhớ lại đặc điểm học tập của từng học sinh.
Để có được những thành quả trên là nhờ chỉ đạo tốt các biện pháp:
- Qu¸n triÖt vể nhËn thøc cho đội ngũ CB, VC trong nhà trường về tầm quan
trọng của việc đổi mới đánh giá theo TT30/2004/ BGD-ĐT.
- Xây dựng kế hoạch chỉ đạo việc đổi mới đánh giá theo TT30/2004/ BGDĐT ngay từ khi có công văn của PGD & ĐT
- Chỉ đạo nâng cao kĩ năng quan sát, theo dõi, tư vấn cho học sinh về kiến
thức, năng lực, phẩm chất.
- Dùng lời nhận xét mang tính động viên, khích lệ. Lời nhận xét phải cụ thể,
dễ hiểu.
- Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình VNEN
- Chỉ đạo cán bộ giáo viên cùng phối hợp và thống nhất trong đánh giá và
khen thưởng
Việc làm quen, áp dụng Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT là cả một quá trình dài
đòi hỏi sự thay đổi có hệ thống của nền giáo dục. Trong quá trình thay đổi đó,
trách nhiệm, nhiệm vụ của mỗi một giáo viên dường như cao cả hơn mà cũng
cần đầu tư thời gian hơn trước rất nhiều. Rất cần một chữ “TÂM” thật sự đối