MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY TRONG MỘT TIẾT DẠY
HOÁ HỌC 8 CÓ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM BIỂU DIỄN NHẰM
PHÁT HUY NĂNG LỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH
1/ PHẦN MỞ ĐẦU
1.1/ Lý do chọn sáng kiến:
Trong quá trình đổi mới sách giáo khoa, cùng với sự thay đổi phương tiện
dạy học thì đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực là một trong
những vấn đề quan trọng và được đặt lên hàng đầu.
Cũng như các bộ môn khoa học khác, để dạy và học tích cực môn Hoá học
phải dựa trên quan điểm lấy học sinh làm trung tâm cho cả quá trình dạy học.
Muốn vậy giáo viên phải vận dụng tốt những phương pháp dạy học tích cực.
Vì môn Hoá học là môn khoa học thực nghiệm nên việc sử dụng thí nghiệm
Hoá học để dạy học tích cực đó cũng là phương pháp đặc thù của bộ môn.
Đối với bộ môn Hoá học, thí nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong
nhận thức, phát triển, giáo dục như một bộ phận không thể tách rời của quá trình
dạy- học. Người ta coi thí nghiệm là cơ sở của việc học Hoá học và để rèn kĩ
năng thực hành. Thông qua thí nghiệm sẽ tạo được hứng thú cho học sinh, từ đó
học sinh nắm được kiến thức vững chắc và sâu sắc hơn.
Thí nghiệm hoá học còn có tác dụng giúp phát triển tư duy của học sinh,
học sinh tiếp cận với thế giới quan duy vật biện chứng đồng thời củng cố niềm
tin khoa học, giúp hình thành những kỷ năng trong học tập như: Thận trọng,
ngăn nắp, trật tự, gọn gàng…Đặc biệt với việc thay đổi nội dung chương trình,
sách giáo khoa và phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực hoá hoạt động
của học sinh như hiện nay thì thí nghiệm càng được coi trọng, nhất là các thí
nghiệm được tiến hành thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu (học sinh
nghiên cứu thí nghiệm do giáo viên biểu diễn hoặc nhóm học sinh tự nghiên cứu
thí nghiệm để rút ra được kiến thức cần lĩnh hội).
Vì vậy, để làm tốt điều này thì người giáo viên cần có kinh nghiệm và biết
sử dụng thí nghiệm sao cho phù hợp với nội dung kiến thức và mục tiêu của bài
-1-
-2-
Trong thực tế hiện nay, nói đến truyền thụ kiến thức cho học sinh người ta
nghĩ ngay đến hoạt động của giáo viên. Thực tế trong dạy học, việc dùng ngôn
ngữ và dùng phương tiện trực quan, thực hành liên hệ khăng khích với nhau.
Những nghiên cứu về tâm lý cho thấy: Thực nghiệm được chứng minh bằng
những điều tai nghe mắt thấy có thể giúp học sinh tìm tòi và sáng tạo hơn. Đối
với học sinh, biết vận dụng kiến thức lý thuyết để giải quyết các tình huống nảy
sinh trong thực tế để tạo dựng mối quan hệ học đi đôi với hành.
Qua tìm hiểu và dự giờ một số tiết của giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học
thì thấy rằng, việc sử dụng các thí nghiệm biểu diễn, các thí nghiệm thực hành
vẫn còn hạn chế mà nguyên nhân là do giáo viên đã lạm dụng công nghệ thông
tin vào trong giảng dạy vì ngại khó, ngại khổ, ngại hóa chất nên sử dụng các thí
nghiệm ảo hoặc các thí nghiệm có sẵn trên máy chiếu. Có nhiều tiết, giáo viên
không dùng phương pháp trực quan và không tiến hành các thí nghiệm mà chỉ
giới thiệu các thí nghiệm có sẵn trong sách giáo khoa. Do vậy, vốn kiến thức bị
tách rời làm cho học sinh chưa tin vào khoa học, học không hứng thú dẫn đến sự
nhận thức bị hạn chế. Kiến thức xa rời thực tế nên học sinh không hiểu được bản
chất của các hiện tượng. Từ đó, các em không thích học, không có hứng thú với
bộ môn, không tiếp thu được kiến thức, kết quả chất lượng giảng dạy còn hạn
chế.
Từ những lý do trên, bản thân tôi nghĩ rằng Hóa học là khoa học thực
nghiệm vì vậy trong các tiết học cần sử dụng tối đa các thiết bị và hóa chất hiện
có để tiến hành các thí nghiệm đem lại hiệu quả cho việc dạy và học. Trong
những năm gần đây, mặc dù có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin song bản thân
vẫn tích cực sử dụng các thí nghiệm đặc biệt là các thí nghiệm biểu diễn trong
những bài truyền thụ kiến thức mới và các thí nghiệm trong bài thực hành.Từ đó
tôi thấy rằng các em rất hứng thú được quan sát các thí nghiệm biểu diễn, được
Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên là nguồn thông tin đối với học sinh, lời
nói của giáo viên không phải nguồn thông tin mà hướng dẫn sự quan sát và chỉ
đạo sự suy nghĩ của các em. Thí nghiệm biểu diễn do tự tay giáo viên làm do đó
các thao tác rất mẫu mực nên có tác dụng hình thành ở học sinh kỹ năng làm thí
nghiệm một cách chính xác hơn.Thí nghiệm do giáo viên biểu diễn tốt, tốn ít
thời gian, ít dụng cụ. Ngoài ra, có những thí nghiệm không nên để học sinh làm
mà giáo viên cần trực tiếp làm, đó là những thí nghiệm phức tạp hoặc có dùng
chất độc, chất nổ.
-4-
Trong các hình thức thí nghiệm, thí nghiệm biểu diễn của giáo viên là quan
trọng nhất. Thí nghiệm biểu diễn còn có những ưu điểm như: tốn ít thời gian
hơn, đòi hỏi ít dụng cụ hơn, có thể thực hiện được với những thí nghiệm phức
tạp, có dùng chất nổ, chất độc hay những thí nghiệm đòi hỏi phải dùng một
lượng lớn hoá chất thì mới có kết quả hoặc mới cho những kết quả đáng tin cậy.
Vì vậy:
Giải pháp thứ nhất là phải đảm bảo những yêu cầu sư phạm về kĩ thuật
biểu diễn thí nghiệm.
Trong khi biểu diễn thí nghiệm Hoá học, người giáo viên phải nhất thiết
tuân theo những yêu cầu sau:
a. Đảm bảo an toàn cho học sinh và cho giáo viên: Giáo viên phải hoàn
toàn chịu trách nhiệm trước nhân dân và trước pháp luật vệ mọi sự không may
xảy ra có ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của học sinh. Người giáo viên
nhất thiết phải tuân theo những quy định khi làm thí nghiệm. Nếu luôn luôn giữ
hoá chất tinh khiết, dụng cụ sạch sẽ và tốt, làm đúng kỹ thuật, luôn bình tĩnh khi
tiến hành thí nghiệm thì sẽ không có gì nguy hiểm xảy ra. Sự nắm vững kỹ
thuật, kỹ năng thành thạo khi làm thí nghiệm, sự am hiểu nguyên nhân của
những sự không may có thể xảy ra, ý thức trách nhiệm và tính cẩn thận là những
điều kiện chủ yếu để đảm bảo an toàn của các thí nghiệm.
nhanh chóng nếu lừa dối học sinh hoặc bắt ép học sinh phải công nhận trong khi
thí nghiệm không thành công. Việc lừa dối học sinh là một việc làm vừa phản
khoa học vừa phản giáo dục.
c. Thí nghiệm phải rõ, học sinh phải được quan sát đầy đủ.
Giáo viên không đứng che lấp thí nghiệm. Kích thước dụng cụ và lượng
hoá chất phải đủ lớn. Bàn để biểu diễn thí nghiệm cao vừa phải. Bố trí thiết bị,
ánh sáng như thế nào để cả lớp quan sát được rõ. Nếu cần thì dùng phông có
màu sắc thích hợp, dùng thiết bị bổ sung để làm nổi bật kết quả của thí nghiệm.
Chẳng hạn nếu trong thí nghiệm có tạo chất kết tủa màu trắng thì dùng phông
màu đen, có ngọn lửa màu xanh mờ dùng phông nền trắng, có thể dùng đèn
chiếu sáng dưới lên đối với cốc đựng các chất lỏng có thay đổi màu sắc hoặc có
kết tủa tạo ra (đặt cốc trên mặt của máy chiếu hoặc hộp có mặt kính tự tạo).
d. Thí nghiệm phải đơn giản, dụng cụ thí nghiệm gọn gàng, mỹ thuật, đồng
thời phải bảo đảm tính khoa học.
-6-
Những thí nghiệm quá phức tạp có thể biểu diễn vào giờ thực hành. Nhiều
giáo viên hoá học đã phát huy sáng kiến cải tiến dụng cụ thí nghiệm cho đơn
giản, dùng những hoá chất dễ kiếm và rẻ tiền để thay thế cho phù hợp với điều
kiện thiết bị còn thiếu thốn ở trong các phòng chức năng. Đó là những việc làm
rất đáng khuyến khích. Đồng thời cần chú ý bảo đảm cho các dụng cụ thí
nghiệm được mĩ thuật, bảo đảm tính khoa học.
e. Số lượng thí nghiệm trong một bài vừa phải, hợp lý.
Cần tính toán hợp lý số lượng thí nghiệm cần biểu diễn trong một bài lên
lớp và thời gian dành cho mỗi thí nghiệm. Không kéo dài thời gian thí nghiệm
trong một tiết học. Chỉ nên chọn làm một số thí nghiệm phục vụ trọng tâm bài
học. Không nên tham lam và chạy theo những hiện tượng gây ra tiếng nổ, sự
cháy sáng lạ mắt thích thú đối với học sinh. Không nên biểu diễn quá nhiều thí
nghiệm trong một bài học.
thể nhận thấy được trong quá trình quan sát trực tiếp.
Ở đây lời nói của giáo viên có 3 chức năng:
- Hướng dẫn sự quan sát trực tiếp của học sinh.
- Gợi ý cho học sinh tái hiện kiến thức cũ có liên quan để giải thích hiện
tượng.
- Hướng dẫn học sinh tự giải thích hiện tượng và tự đi tới kết luận.
Cách 3: Học sinh nắm được kiến thức về các hiện tượng hoặc tính chất của
sự vật trước tiên từ lời giáo viên sau đó giáo viên biểu diễn thí nghiệm minh
hoạ (khẳng định hoặc cụ thể hoá) những kết luận vừa thông báo cho học sinh.
Ở đây lời nói giáo viên là nguồn thông tin chính yếu, còn thí nghiệm là
nguồn thông tin hỗ trợ, minh hoạ. Cách thứ 3 này là nghịch đảo của cách thứ
nhất. Cách này được áp dụng khi các hiện tượng là đơn giản (như ở cách thứ
nhất).
Cách 4: Giáo viên mô tả các sự vật và quá trình, giáo viên nhắc lại những
kiến thức đã học có liên quan và giải thích bản chất của hiện tượng rồi kết luận
về những mối liên hệ giữa các hiện tượng mà học sinh không thể nhận thấy
được trong quan sát trực tiếp. Sau đó thầy biểu diễn thí nghiệm minh hoạ lời
vừa giảng.
b. Nhận xét và lưu ý các cách kết hợp lời giảng của giáo viên và biểu diễn
thí nghiệm.
-8-
- Cách 1 và 2 đều mang tính chất tích cực, tính chất nhận thức của học sinh
là chủ động. Nhờ lời nói hướng dẫn của giáo viên, học sinh được đặt vào điều
kiện mà ở mức độ đáng kể họ phải độc lập giành lấy kiến thức về các chất và
hiện tượng trên cơ sở quan sát thí nghiệm. Vì thế các cách 1 và 2 thuộc về
phương pháp nghiên cứu trong dạy học. Sự khác biệt giữa chúng là mức độ phức
tạp, khó khăn của nội dung nghiên cứu. Ở đây thí nghiệm là nguồn thông tin, lời
nói của thầy có chức năng hướng dẫn.
Tuỳ theo nội dung kiến thức và mục tiêu của bài học mà các thí nghiệm
biểu diễn được giáo viên tiến hành thực hiện theo phương pháp minh hoạ hay
phương pháp nghiên cứu hoặc có thể tiến hành biểu diễn theo cả hai phương
pháp.
Tuy nhiên trong hai phương pháp trên thì phương pháp nghiên cứu có giá
trị lớn hơn, vì nó tạo điều kiện phát triển khả năng nhận thức của học sinh như :
- Học sinh nắm được mục đích của thí nghiệm.
- Quan sát, mô tả hiện tượng.
- Giải thích hiện tượng.
- Rút ra kết luận về quy luật, tính chất của chất.
Đặc biệt là có tác dụng kích thích học sinh làm việc tích cực hơn, chủ động
hơn. Phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học, nội dung chương trình và
sách giáo khoa như hiện nay.
Sau đây tôi xin đưa ra một số ví dụ sử dụng thí nghiệm theo hướng tích
cực.
Ví dụ 1: Tiết 17 - Bài 12 : SỰ BIẾN ĐỔI CHẤT
Giáo viên sẽ làm thí nghiệm 1 SGK cho bột sắt tác dụng với lưu huỳnh.
Để thực hiện tốt thí nghiệm này giáo viên cần phải chuẩn bị đầy đủ dụng cụ
và hoá chất để phục vụ cho thí nghiệm.
Dụng cụ : đèn cồn, kẹp gỗ, kẹp sắt, ống nghiệm, nam châm, diêm, 2 đĩa
thuỷ tinh nhỏ, thìa nhựa
Hoá chất : bột sắt và bột lưu huỳnh
- Hiện tượng:
Những hiện tượng thường gặp là S chảy ra, Fe không cháy, đốt 2-3 phút
hoặc lâu hơn kết quả vẫn như vậy.
- Nguyên nhân:
- 10 -
+ Bột Fe không mịn.
Học sinh nhận xét : chất rắn thu được không cháy như lưu huỳnh. Vậy chất
rắn thu được không có chất lưu huỳnh.
Qua thí nghiệm biểu diễn trên, giáo viên yêu cầu học sinh rút ra kết luận.
Học sinh trả lời : Lưu huỳnh cùng với sắt đã biến đỗi thành chất khác.
Từ đó rút ra khái niệm hiện tượng hóa học
* Ví dụ 2 : Tiết 18 - Bài 13: PHẢN ỨNG HÓA HỌC
Giáo viên biểu diễn thí nghiệm để hình thành khái niệm “ phản ứng hóa
học”
Giáo viên nêu vấn đề: Phản ứng hóa học là gì? Để nắm được khái niệm đó
Chúng ta hãy nghiên cứu thí nghiệm sau đây ( Yêu cầu học sinh không xem sách
giáo khoa)
- Giáo viên đặt dụng cụ và hóa chất lên bàn - Yêu cầu Học sinh cho biết:
Tên dụng cụ:
Hóa chất: trạng thái, màu sắc của các chất trước và sau phản ứng.
- Thực hiện thí nghiệm.
Trộn hỗn hợp bột sắt vào bột lưu huỳnh theo tỉ lệ 7:4.
Yêu cầu Học sinh quan sát màu sắc của hỗn hợp.
Đốt hỗn hợp trên ngọn lửa đèn cồn( cách tiến hành như ví dụ 1)
-Yêu cầu Học sinh quan sát hiện tượng trả lời câu hỏi: Chất rắn thu được
sau khi đốt có màu đen, không bị nam châm hút chứng tỏ điều gì?
HS trả lời: Sản phẩm không bị nam châm hút vậy chất rắn đó không có sắt.
Giáo viên kết luận và hướng HS rút ra kết luận: Phản ứng hóa học là gì?
Giáo viên có thể chọn thêm thí nghiệm đốt đường rồi mới rút ra kết luận
Phản ứng hóa học là gì? Để tạo điều kiện cho học sinh dễ nắm bắt kiến thức,
khắc phục sự trừu tượng về các khái niệm, kích thích sự say mê hứng thú của
học sinh, giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh được quan sát đầy đủ trực
tiếp các thí nghiệm để tự mình rút ra kiến thức. Tuỳ theo mức độ của thí nghiệm
mà giáo viên cần phải cân nhắc để lựa chọn những thí nghiệm biểu diễn sao cho
lượng. Vậy nội dung của định lật bảo toàn khối lượng được phát biểu như thế
nào?
Học sinh phát biểu định luật.
*Ví dụ 4: Tiết 37, 38 - Bài 24: TÍNH CHẤT CỦA OXI
Giáo viên cần lựa chọn những thí nghiệm điển hình
- 13 -
Oxi tác dụng với phi kim: GV chọn phi kim điển hình như lưu huỳnh,
phôtpho
Oxi tác dụng với kim loại: GV sẽ chọn kim loại điển hình là sắt
Chuẩn bị dụng cụ và hoá chất :
Dụng cụ : Đèn cồn, muôi sắt, diêm, 4 lọ thuỷ tinh có đầy khí oxi.
Hoá chất: Photpho, lưu huỳnh, dây sắt,
Nếu trước tiết dạy Giáo viên nên thu khí oxi vào lọ có nút đậy và dán nhãn
tên khí oxi rồi lên lớp làm thí nghiệm ( trong quá trình thu khí GV chừa lại 1 ít
nước trong lọ chứa khí oxi ).Và lưu ý lọ thu khí oxi phải đầy, không có lẫn
không khí, đậy nút kín giữ cho oxi không bị thoát ra ngoài .
Còn nếu trước tiết dạy GV không có nhiều thời gian để chuẩn bị ( chẳng
hạn như các tiết dạy trên lớp của GV liền kề nhau ) thì GV nên sử dụng KMnO 4
để thu khí oxi tại lớp khi làm thí nghiệm .
Dây sắt: Giáo viên sẽ dùng dây phanh xe, tách từng sợi nhỏ, lấy 1 đoạn dây
rồi cuốn thành lò xo. Và khi quấn thêm vào đầu dây sắt 1 mẩu than gỗ, để tránh
tình trạng mẩu than gỗ quấn ở đầu dây có thể bị rơi xuống khi cho vào lọ oxi, ta
nên thay than gỗ bằng gỗ của 1/4 que diêm, quấn chặt phần cuối của đoạn dây
(đã cuốn thành lò xo ) xung quanh que diêm.
Thí nghiệm 1: Oxi tác dụng với lưu huỳnh
Giáo viên làm thí nghiệm đốt lưu huỳnh trong oxi theo trình tự sau :
Đưa một muôi sắt có chứa một lượng nhỏ bột lưu huỳnh vào ngọn lửa đèn
cồn
+ Không cho nước hoặc ít cát vào bình oxi.
+ Dây Fe bị gỉ hoặc bị bẩn.
+ Dây Fe quá to.
+ Mẩu than chưa nung nóng đỏ(nếu mồi là than).
- Kinh nghiệm để thí nghiệm thành công:
+ Cho ít nước trong bình oxi (hoặc ít cát sạch)
+ Dùng giấy nhám chà sạch gỉ hoặc bẩn trên dây Fe (dây sắt không nên to
quá, tốt nhất là 1 dây phanh xe đạp) dài độ 30 cm cuộn thành lò xo( để tăng diện
tích tiếp xúc) và ở đầu buộc chặt 1/ 3 que diêm.
- 15 -
+ Đốt cho que diêm cháy (hoặc nung nóng đỏ mẩu than) và đưa nhanh vào
bình oxi. Que diêm cháy mạnh làm cho sợi dây Fe nóng lên và cháy khi hết oxi
ở đầu dây Fe, Fe nóng chảy thành giọt tròn.
- GV làm thí nghiệm theo các bước sau :
- Lấy một đoạn dây sắt (đã cuốn) đưa vào trong bình oxi. Cho HS nhận xét
xem có dấu hiệu của phản ứng hoá học không?
- GV quấn vào đầu dây sắt một mẩu gỗ của que diêm ( thay cho mẩu than
gỗ) , đốt cho que diêm cháy rồi đưa vào lọ chứa khí oxi Yêu cầu quan sát và
nhận xét hiện tượng ?
- GV giới thiệu những hạt nhỏ màu nâu đó là sắt ( II, III ) oxit thường được
gọi là oxit sắt từ, có công thức hoá học là Fe3O4
GV yêu cầu HS lên viết phương trình hoá học của phản ứng .
Qua 3 thí nghiệm trên GV lưu ý cho HS biết tác dụng của lớp nước dưới
đáy lọ đựng khí oxi .
* Ví dụ 5: Tiết 42 - Bài 28 : KHÔNG KHÍ - SỰ CHÁY( Tiết 1)
Dụng cụ: Ống thuỷ tinh hình trụ không đáy có chia vạch, có nút, có muôi
sắt, chậu thuỷ tinh, đèn cồn.
GV giới thiệu dụng cụ và hoá chất để điều chế khí hidro, cách thử độ tinh
khiết của hidro. Khi đã biết chắc rằng hidro đã tinh khiết, GV châm lửa đốt .
Các em hãy quan sát ngọn lửa hidro trong không khí ?
GV đưa ngọn lửa hidro đang cháy vào lọ đựng khí oxi
Các em hãy quan sát và nhận xét. ( GV đưa cho HS quan sát lọ )
Qua thí nghiệm trên, em hãy rút ra kết luận .
Sau đó gọi 1 HS lên viết phương trình hoá học của phản ứng .
GV giới thiệu: Phản ứng hidro cháy trong oxi tạo ra hơi nước đồng thời toả
nhiệt vì vậy người ta dùng hidro làm nguyên liệu cho đèn xì oxi-hidro để hàn
cắt kim loại .
Nếu lấy tỉ lệ về thể tích 2 phần H2: 1phần O2 thì khi đốt hỗn hợp sẽ gây nổ
mạnh. (nếu có điều kiện GV có thể thu sẵn hỗn hợp nổ vào túi nilon và cho đốt
thử)
Thí nghiệm 2 : Hidro tác dụng với đồng (II ) oxit (CuO)
GV giới thiệu cách lắp dụng cụ thí nghiệm
GV cho HS nhận xét về màu sắc của bột CuO
- 17 -
Sau đó GV tiến hành thí nghiệm :
- Cho 1 luồng khí hidro (sau khi đã kiểm tra sự tinh khiết) đi qua bột CuO
màu đen, ở nhiệt độ thường .
Các em hãy quan sát xem có dấu hiệu để chứng tỏ phản ứng hoá học xảy
ra không ?
- Sau đó GV đưa ngọn lửa đèn cồn vào phía dưới ống nghiệm đựng bột
CuO
( vẫn tiếp tục cho luồng khí hidro đi qua bột CuO)
GV yêu cầu HS quan hiện tượng và nhận xét .
GV yêu cầu HS so sánh màu của sản phẩm thu được với màu dây đồng .
trên miệng cốc nước yêu cầu HS nhận xét hiện tượng.
- Để biết được khí thoát ra là khí gì GV để luồng khí thoát ra 1 lúc để khí
đẩy hết không khí ra rồi châm lửa vào phần đuôi phễu chỗ khí H 2 thoát ra yêu
cầu HS quan sát màu sắc ngọn lửa và cho biết khí thoát ra là khí gì ?
- Khi ngọn lửa cháy hết, GV bỏ phễu ra, lấy một mẩu giấy quì tím nhúng
vào dung dịch sau phản ứng yêu cầu HS nhận xét và so sánh với màu giấy
quì tím ban đầu khi nhúng vào nước .
- GV giới thiệu dung dịch tạo thành làm qùi tím chuyển màu xanh đó là
dung dịch bazơ có tên là natri hiđroxit có công thức hoá học là NaOH GV
yêu cầu HS lên viết phương trình hoá học.
GV giới thiệu thêm đây là phản ứng toả nhiệt, ngoài Na ra nước còn có thể
tác dụng với K , Ca … ở nhiệt độ thường.
GV chứng minh đây là phản ứng toả nhiệt bằng cách cho HS sở vào thành
cốc sau khi phản ứng xảy ra
GV hỏi: Tại sao ta chỉ dùng 1 lượng nhỏ Na mà không dùng một lượng
lớn ?
HS trả lời
Thí nghiệm 2 : Nước tác dụng với một số oxit bazơ
- GV chọn vôi sống (canxi oxit) làm oxit bazơ điển hình
GV làm thí nghiệm : Cho một cục vôi nhỏ vào bát sứ, rót một ít nước vào
vôi sống
Yêu cầu học sinh quan sát và nhận xét
- GV nhúng một mẩu quì tím vào dung dịch thu được yêu cầu HS nhận
xét
Hợp chất tạo thành thuộc loại chất gì ? Có công thức hoá học như thế nào ?
- 19 -
(GV hướng dẫn HS dựa vào hoá trị của Ca và nhóm OH để lập công thức
hoá học)
SL
%
17
19,1
Điểm 6,5-7,9
SL
%
38
42,7
- 20 -
Điểm 0-2
SL
%
0
0
TB trở lên
SL
%
86
96,6
Ghi
chú
3/PHẦN KẾT LUẬN
Qua thời gian tìm hiểu và nghiên cứu bản thân tôi rút ra được một vài kinh
+ GV phải thực hiện thí nghiệm đúng các thao tác với phong cách dứt khoát
và tự tin.
+ Chuẩn bị bài giảng thật chu đáo, đưa ra những câu hỏi phải rõ ràng, dễ
hiểu.
+ Thí nghiệm phải rõ ràng, học sinh quan sát đầy đủ
+ Thí nghiệm phải đơn giản, mỹ thuật vừa sức học sinh
+ Số lượng thí nghiệm vừa phải: Không nên làm quá 3 thí nghiệm trong
một tiết dạy vì vậy GV phải chọn thí nghiệm phục vụ trọng tâm của bài.
+ Phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu diễn thí nghiệm và lời giảng
của giáo viên.
Thí nghiệm hoá học giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình nhận thức,
phát triển và giáo dục. Sử dụng thí nghiệm góp phần nâng cao chất lượng dạy
học môn Hoá học. Đặc biệt là khi sử dụng thí nghiệm biểu diễn bằng phương
pháp nghiên cứu vì phương pháp này phát huy được tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh. Do đó, giáo viên cần chú trọng sử dụng phương pháp này
trong quá trình giảng dạy bộ môn. Nếu trong một thí nghiệm biểu diễn có thể sử
dụng được cả hai phương pháp minh hoạ và phương pháp nghiên cứu thì giáo
viên thường phải sử dụng phương pháp thứ hai. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào mục
tiêu của bài học mà giáo viên có thể lựa chọn phương pháp minh họa hay
phương pháp nghiên cứu cho phù hợp. Mặt khác, giáo viên cần vận dụng linh
hoạt việc đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương tiện dạy học hiện
đại và nhất là đảm bảo thí nghiệm thành công ở mức cao nhất, tạo được niềm tin
khoa học cho học sinh. Điều này chỉ có được khi giáo viên tích cực tìm tòi
nghiên cứu, làm nhiều thí nghiệm để rút ra được những bài học kinh nghiệm cho
bản thân.
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm trên đã được kiểm nghiệm qua thực tế
giảng dạy tại trường cho thấy nó phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học
hiện nay. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song có thể còn những thiếu sót, rất
mong nhận được sự đóng góp của quý cấp trên và đồng nghiệp để sáng kiến
kinh nghiệm của tôi hoàn thiện hơn.