I/ Đề tài: HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC QUA VIỆC SOẠN BÀI
VÀ LÀM BÀI TẬP CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN.
II/ Đặt vấn đề : .
Từ thực tiễn dạy học các môn học trong nhà trường nói chung và môn Ngữ
văn nói riêng, chúng tôi nhận thấy việc rèn cho học sinh ý thức tự giác trong học
tập; hình thành thói quen chủ động tìm kiếm, tiếp cận với kiến thức là điều hết sức
quan trọng. Làm sao để các em có thể tự mình tìm hiểu, thu nhận kiến thức; tự
mình khám phá, phát hiện thế giới hình tượng phong phú, đa dạng của văn học và
tham gia vào quá trình lĩnh hội kiến thức trên lớp một cách tích cực, chủ động,
sáng tạo; làm sao để các em thực sự là “trung tâm” của hoạt động dạy và học là
yêu cầu đặt ra cho mỗi người thầy trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay .
Tất nhiên, quá trình dẫn dắt, định hướng “chèo lái”, “đạo diễn” của người
thầy trong tiết dạy trên lớp là khâu quyết định kết quả của hoạt động dạy và học.
Song, muốn cho quá trình này phát huy được tính tích cực, chủ động; phát huy
năng lực sáng tạo của học sinh thì khâu hướng dẫn học sinh tự học qua việc soạn
bài- chuẩn bị bài ở nhà trước tiết học và làm bài tập chuyên đề nâng cao (đối với
các nhóm đối tượng học sinh khá giỏi và HS lớp chuyên Văn) sau tiết học là khâu
rất quan trọng. Bắt buộc thực hiện tốt hai khâu này, các em sẽ dần dần hình thành
thói quen tự học, tạo được niềm say mê, hứng thú trong học tập và các em cũng sẽ
có được tư thế và tâm thế chủ động, tự giác, tự tin trong quá trình tiếp nhận kiến
thức, để các em thực sự trở thành “trung tâm”của hoạt động dạy và học trên lớp.
Một thực trạng của việc dạy và học bộ môn Ngữ văn hiện nay cũng rất đáng
quan tâm, đó là, học sinh ngày càng không mấy mặn mà với môn Ngữ văn – nhất
là học sinh các khối chuyên khoa học tự nhiên, việc học chủ yếu là “cho có”, soạn
bài chỉ là để “đối phó” với thầy cô; lên lớp thầy giảng trò nghe, trò miệt mài ghi
chép lời thầy “cho phải phép”, nên kết quả là không ít bài làm trong các kì thi thể
hiện cách hiểu tác phẩm nông cạn, thậm chí lệch lạc, méo mó… khiến những
người dạy không khỏi trăn trở. Thiết nghĩ, một cố gắng dù nhỏ để góp phần nâng
cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học cũng như góp phần cải thiện tình hình
trên cũng là rất cần thiết. Do vậy, chúng tôi mạnh dạn trình bày một cách làm đã
thử nghiệm trong thực tế giảng dạy và đã mang lại hiệu quả nhất định, mong được
tiễn. Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh là
một việc làm rất cần thiết.”
Trong yêu cầu chung đó, đối với môn Ngữ văn, vấn đề đổi mới phương
pháp dạy học cũng đã được đặt ra cấp thiết. Cách dạy và học văn theo lối cũ (giảng
văn) đã không còn phù hợp với chiến lược giáo dục và đào tạo con người trong
tình hình mới, cũng như sự thay đổi hệ hình dạy học trên thế giới hiện nay. “Xu
hướng chung của dạy học văn hiện đại là chuyển từ trung tâm giáo viên, văn bản
sang trung tâm học sinh, phát huy vai trò năng động của người đọc- học sinh
trong đáp ứng văn học” (Các nhà văn bàn về dạy học văn trong nhà trường-Hà
Minh Đức). Nói cách khác, thay vì giảng văn đơn phương, một chiều, là việc dạy
cho học sinh cách đọc văn, tạo các cơ hội và điều kiện để người học trở thành độc
giả, bạn đọc sáng tạo của các nhà văn qua quá trình tiếp nhận tác phẩm, nhất là tạo
cho HS ý thức tự học và có hứng thú thực sự trong quá trình tìm tòi khám phá văn
học. Cho nên, ngoài giờ học rất ít ỏi trên lớp, rất cần thiết phải chú trọng tới việc
hướng dẫn học sinh tự học: “Người có học là người biết tự học” (Hà Minh Đức) .
Nhưng làm sao để học sinh tự giác học tập thì giáo viên phải là người hướng dẫn,
định hướng cụ thể qua các yêu cầu, cách thức, việc làm cụ thể. Giáo viên cần phải
tạo các cơ hội để học sinh được tự mình tham gia vào việc đọc văn, cảm thụ văn
chương thay vì thầy giáo đọc hộ, cảm hộ.“Thầy, cô dạy văn nên giúp các em tự
cảm thụ trước rồi mới bổ sung thêm những cảm thụ của riêng mình để các em
tham khảo. Và cuối cùng là để các em tự thu hoạch lấy” [Nhà thơ Phạm Hổ].
“Giờ văn phải là một giờ học thật thoải mái, học sinh được giáo viên hướng dẫn
đọc văn, phát hiện những điều thú vị của văn chương, cuộc đời và sau mỗi giờ học
lại tiếp tục suy nghĩ, tìm tòi rồi hình thành thói quen tự học” (Hà Minh Đức-các
nhà văn bàn về dạy văn)
Từ những cơ sở lí luận đó, theo nhận thức và qua thực tiễn dạy học, chúng
tôi thấy bước hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà và hướng dẫn làm bài tập
chuyên đề sau khi tiếp nhận kiến thức bài học là những bước cần thiết có tác dụng
hình thành ý thức và phương pháp tự học cho học sinh, nhưng đáng tiếc là việc
đầu tư của giáo viên cho công việc này thường vẫn còn nhiều hạn chế. Đó cũng là
Nếu đối tượng học sinh là những lớp đa số đều chăm ngoan (như đối tượng học
sinh lớp chuyên Văn chẳng hạn) thì hầu như tất cả các em đều thực hiện nghiêm
túc, đầy đủ vở soạn, bài soạn, thậm chí những cuốn vở soạn mà chúng tôi kiểm tra
đều rất sạch đẹp, chứng tỏ các em rất có ý thức trong học tập. Tuy nhiên, đó mới
chỉ là dấu hiệu hình thức bên ngoài. Còn thực chất về chất lượng bài soạn của các
em, qua thực tế vở soạn và theo dõi quá trình hoạt động của học sinh trên lớp,
chúng tôi thấy, trừ số ít học sinh soạn theo cách trả lời các câu hỏi trong sách giáo
khoa, dĩ nhiên là nội dung cũng rất sơ sài, còn lại phần lớn bài soạn là kết quả của
việc các em chép lại nguyên xi nội dung từ các cuốn sách “Giúp em học tốt môn
Ngữ văn…” rất phổ biến hiện nay trên thị trường. Hoặc có em “thức thời” hơn
bằng cách mượn lại những cuốn vở học của các anh chị khóa trước - đã được học
với thầy cô giáo đang dạy - rồi chép lại nguyên nội dung bài học (cho chắc ăn ! )
Hiển nhiên, đây cũng là một cách và xét cho cùng cũng không có gì là đáng chê
trách. Vì khi chép như vậy, chí ít các em cũng có thể phần nào nắm được nội dung
bài học. Nếu đó là những trường hợp học sinh có ý thức tìm tòi và có khả năng
cảm nhận, có suy nghĩ độc lập thì những “bài mẫu” này cũng có thể là cơ sở ban
đầu giúp định hướng nội dung cơ bản của bài học, để từ đó các em tìm tòi, suy
ngẫm và đề xuất những phát hiện, đánh giá riêng. Tuy nhiên, nếu theo dõi kết quả
qua tiết dạy trên lớp, qua nội dung các em tham gia phát biểu xây dựng bài, nhiều
trường hợp các em chỉ nói lại những nội dung trên như những con vẹt và giáo viên
3
chỉ cần nêu thêm một vài câu hỏi dạng yêu cầu lí giải, suy luận là ngay lập tức
những em này lâm vào thế bí, trả lời rối rắm, lúng túng …
Hơn nữa, nếu gặp trường hợp thầy cô giáo dạy nguyên xi bài học theo thiết
kế của những năm trước, hoặc nội dung kiến thức không có gì mới mẻ so với “bài
mẫu” mà các em đã chép vào vở soạn, sẽ dẫn đến tình trạng lơ là trong việc theo
dõi, ghi chép bài học trên lớp. Thực tế là những kiến thức mà các em nghĩ mình đã
biết cũng chỉ rất hời hợt, nông cạn. Hoặc vì việc soạn bài của các em chỉ là chuyện
những nhiệm vụ của học sinh trong năm học liên quan đến môn học nhằm xác
định tư tưởng, ý thức và thái độ học tập bộ môn.
+ Việc soạn bài – chuẩn bị bài học trước khi đến lớp cần đặt ra nghiêm túc
với những quy định và hướng dẫn cụ thể như sau :
- Quy định: Không dùng vở soạn riêng như thường làm mà vở soạn bài và
ghi bài sẽ dùng chung và yêu cầu học sinh chuẩn bị loại vở dày trang để tránh
thay vở giữa chừng (ít nhất mỗi cuốn vở phải đủ dùng cho một học kì)
- Hướng dẫn cách soạn:
4
Giáo viên yêu cầu học sinh chia trang vở thành 2 phần theo cột dọc: Phần
soạn phía bên trái chiếm 2/3, phần ghi bài bên phải chiếm 1/3 (Vì khi học sinh
soạn bài kĩ , bài soạn có chất lượng, thiết kế hệ thống ý hợp lí thì phần ghi sẽ ít
hơn), hoặc có thể chia đôi trang vở cho phần soạn ở nhà và ghi bài trên lớp tùy tình
hình (Vì có thể đầu học kì, học sinh chưa quen với cách soạn bài này nên soạn dài
và phần ghi cũng nhiều do điểm gặp gỡ giữa phần soạn và ghi còn hạn chế, dần
dần tỉ lệ này sẽ thay đổi, phần ghi bài trên lớp sẽ chỉ tập trung vào những kiến thức
mới bổ sung qua bài học, hoặc nâng cao so với phần soạn). Cụ thể như sau:
* Bài đọc – hiểu: Hướng dẫn học sinh cách thức cụ thể
PHẦN SOẠN BÀI Ở NHÀ
PHẦN GHI BÀI TRÊN
(Hướng dẫn các nội dung soạn bài)
LỚP
(Hướng dẫn cách ghi bài)
Đối với bài học đọc – hiểu, GV cần yêu cầu và hướng Phần này nếu phần soạn
dẫn HS soạn các nội dung sau:
của học sinh đáp ứng tốt
I/ Tìm hiểu chung: Những kiến thức ngoài văn bản các yêu cầu thì HS chỉ
giúp cho việc tìm hiểu, phân tích lí giải, đánh giá văn ghi các nội dung:
+ Đánh giá chung
văn (tác phẩm đang đọc –
+ Tác phẩm tiêu biểu: Nêu từ 3-5 tác phẩm tiêu biểu hiểu) hoặc những yếu tố
nhất ( theo thứ tự thời gian sáng tác)
nào giúp chúng ta tìm
+ Nội dung sáng tác: Chú ý đề tài quen thuộc và hiểu tác phẩm của nhà
những nội dung chủ yếu nổi bật
văn ?
5
+ Phong cách nghệ thuật: Sở trường, sở đoản, đóng
góp nổi bật…
2) Tác phẩm: Yêu cầu học sinh tìm hiểu các yếu tố
như:
+ Xuất xứ:
+ Thể loại : Trong SGK nâng cao phần này thể hiện ở
mục Tri thức đọc- hiểu giúp học sinh nắm chắc đặc
trưng thể loại làm cơ sở cho phần đọc – hiểu.
+ Hoàn cảnh ra đời: Hoàn cảnh rộng, hoàn cảnh
hẹp…(những yếu tố giúp tìm hiểu tác phẩm)
+ Kết cấu , bố cục, mạch cảm xúc, mạch truyện, lô
gich luận điểm…( theo đặc trưng thể loại )
+ Nội dung chủ yếu, nghệ thuật nổi bật
+ Tư tưởng chủ đề…( Phần này có thể đưa xuống
dưới sau phần tìm hiểu giá trị nội dung nghệ thuật)
II/ Phần đọc – hiểu văn bản:
- Phần này cần hướng dẫn kĩ cách soạn để giúp học
sinh chủ động tìm hiểu bài, đồng thời rèn kĩ năng đọc
hiểu tác phẩm như thế
nào? Có định hướng nào
không ?
+ Khám phá, phát hiện
ban đầu của em về kết
cấu, về mạch truyện (lô
gich thời gian, không
gian, diễn biến…) như thế
nào…? Mạch cảm xúc
của nhân vật trữ tình
chuyển biến như thế
nào…?
II/ Phần đọc – hiểu văn
bản: Hướng dẫn ghi
-Phần này học sinh ghi
nội dung theo định hướng
của Gv trong tiết dạy –
theo Chuẩn kiến thức - kĩ
năng và kiến thức mở
rộng, nâng cao, sau khi
tổng hợp ý kiến trao đổi
thảo luận của HS .
-Nếu sườn bài học được
định hướng không trùng
với cách xây dựng của
mình trong bài soạn thì
cần ghi đầy đủ bố cục mới
để so sánh rút kinh
nghiệm về lập luận.
-Nếu lô gich ý thầy cô
đóng tập, trở thành tài liệu trao đổi học tập chung cho triết lí; giá trị nghệ thuật
lớp rất thuận tiện )
… của tác phẩm qua phần
* Xây dựng bài soạn bằng hình thức lập dàn ý chi củng cố của GV sau mỗi
bài học.
tiết:
Có thể soạn theo 2 cách:
* Câu hỏi dẫn dắt, định
- Soạn theo cách lần lượt trả lời các câu hỏi- có hướng trong thiết kế dạy
phân tích cảm nhận. (Cách này đơn giản nên hạn học do vậy cũng chú ý
chế về hiệu quả rèn kĩ năng tổng hợp.)
hướng tới việc kiểm tra
- Từ các câu hỏi trong SGK, học sinh rút ra các vấn việc soạn bài và mở ra
đề cần tìm hiểu, sắp xếp theo hệ thống luận điểm hướng trao đổi cho cả lớp:
lớn, luận điểm nhỏ…Và vận dụng các thao tác + Dựa vào câu hỏi định
phân tích, chứng minh, bình luận…để làm rõ các hướng trong SGK, theo
vấn đề . ( Nên hướng dẫn HS soạn theo cách này em nội dung chính cần đạt
để có thể tích hợp rèn kĩ năng thực hành tổng hợp qua bài đọc – hiểu này là
cho các em).
gì?
Mô hình chung phần đọc – hiểu văn bản là:
+ Từ đó, em đã xây dựng
1) Ý lớn 1:
Ý nhỏ 1.a ( phân tích dẫn chứng)
hệ thống ý như thế nào?
Ý nhỏ 1.b ( …………………….)
= > GV sau khi kiểm tra
Ý nhỏ 1.c ( ……………………)
qua một vài bài soạn của
học sinh , gọi 1 vài em
- Cảnh đói ( Hình ảnh, âm thanh, mùi…)
- Người đói (Dân xóm ngụ cư, người từ Nam
Định, Thái Bình lên…, gia đình anh Tràng, người
đàn bà…)
+ Giá trị nhân đạo : Những khám phá, phát hiện, trân
trọng, ngợi ca những vẻ đẹp phẩm chất tâm hồn của
những người nghèo trong hoàn cảnh đói kém khủng
khiếp, qua 3 nhân vật:
+ Anh Tràng: Khao khát hạnh phúc gia đình…
+ Bà cụ Tứ: tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương con
vô bờ bến…
+ Người vợ nhặt: Khao khát sống mãnh liệt; đảm
đang, chu toàn, đúng mực…
=> Khái quát : Cái nhìn nhân đạo sâu sắc của nhà văn:
Cảm thông, thấu hiểu, trân trọng…
2) Giá trị nghệ thuật:
+ NT xây dựng tình huống truyện (lạ, éo le)
+ NT trần thuật
+ NT tả tâm lí, dựng bối cảnh, dựng đối thoại
3) Ý nghĩa văn bản: Tư tưởng – chủ đề, ý nghĩa triết
lí….
* Cách 2:
+ Giá trị nội dung : Vợ nhặt thể hiện cái nhìn nhân
đạo của nhà văn đối với số phận những người nghèo
trong nạn đói khủng khiếp năm 1945
-Cái nhìn thấu hiểu, cảm thông đối với tình cảnh thê
thảm của những người nghèo bị đẩy đến bờ vực của
cái chết <-> lên án tố cáo tội ác của bọn thực dân phát
xít:
. Cảnh đói…
đẹp:
. Tấm lòng nhân hậu bao dung , sẻ chia…
. Khao khát hạnh phúc gia đình, khao khát sống
mãnh liệt…
+ Giá trị nghệ thuật:
- Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo
- Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật…
- Nghệ thuật miêu tả cảnh, dựng bối cảnh…
- Ngôn ngữ…
+ Chủ đề:…
III/ Phần bài tập luyện tập hoặc bài tập nâng cao :
Học sinh cũng thực hiện bài tập theo cách lập ý – dàn
ý chi tiết
III/ Phần bài tập luyện
tập : GV cần dành một
thời lượng nhất định để
hướng dẫn các em luyện
tập và chốt lại ý chính .
Học sinh đối chiếu với
phần soạn của mình và
ghi bổ sung nội dung
* Đối với các bài học và luyện tập về kiến thức và kĩ năng : Chúng tôi cũng
yêu cầu học sinh soạn theo cách chia 2 cột như trên, trong đó:
+ Cột soạn bài : HS soạn các bài tập thực hành luyện tập; Các kiến thức cơ bản
của bài học hoặc rút ra từ phần bài tập; các nhận xét …
+ Cột ghi bài: HS ghi kết quả luyện tập theo hướng dẫn của GV trên lớp, chú ý
các bài tập vận dụng, các bài tập mới (ngoài SGK) do GV đưa vào luyện tập
nhằm giúp các em, hiểu kĩ và khắc sâu kiến thức bài học, nâng cao kĩ năng vận
dụng phương pháp vào thực tiễn bài làm.
chúng tôi và cũng chỉ mới thực hiện trong thời gian vài ba năm học trở lại. Lúc
đầu, chúng tôi chỉ thực hiện chủ yếu ở lớp chuyên văn, chuyên Anh – học
chương trình nâng cao do chúng tôi phụ trách, sau nhận thấy tình hình cải thiện
rõ, thái độ học tập của học sinh đã có chuyển biến. Các tiết dạy trở nên sôi nổi
hơn, học sinh dần tích cực và tự tin hơn trong việc tham gia xây dựng bài; kết
quả bài làm kiểm tra định kì và nhất là những bài kiểm tra học kì theo đề chung
của Sở GD-ĐT, theo mặt bằng chung, bài làm của các lớp này đạt tỉ lệ bài khá
giỏi rất cao (11 chuyên Anh, năm học 2012-2013). Quan trọng là đã bước đầu cải
thiện được tình trạng đối phó của học sinh trong qua trình dạy và học. Một số
đồng nghiệp trong tổ cũng đã chia sẻ và thực hiện theo cách của chúng tôi ở các
lớp dạy cũng rất hiệu quả (cô Ngô Thị Minh Thủy, Hồ Kim Uyên)
Một thử nghiệm khác, chúng tôi cũng đã mạnh dạn thực hiện ở một vài lớp
học theo chương trình cơ bản (do chúng tôi giảng dạy) ở năm trước và kết quả đã
cải thiện được những tồn tại như đã nêu. Năm học 2012-2013, khi nhận lớp dạy
12 chuyên Tin, chúng tôi không thực hiện hướng dẫn cách soạn bài như trên mà
quay lại cách bình thường – ‘truyền thống”, kết quả là dù nhắc nhở, kiểm tra
thường xuyên, vẫn không thể khắc phục được tình trạng soạn bài đối phó ở
những học sinh vốn không mặn mà gì với môn Ngữ văn này! Dễ thấy những học
sinh có ý thức một chút thì chủ yếu là chép lại sách mẫu; những học sinh khác thì
soạn qua loa mấy dòng “cho có lệ” hoặc khi hỏi đến vở soạn thì lí do muôn thuở
“Em quên vở!”; trong tiết dạy hiếm có lắm mới có một vài em tự giác tham gia
phát biểu xây dựng bài, còn lại toàn là “bất đắc dĩ” bị gọi đích danh và dĩ nhiên
kiến thức tự học hạn chế không thể đáp ứng việc giải quyết vấn đề của bài học.
Từ đó, chúng tôi càng thấy cần thiết nên thực hiện việc hướng dẫn học sinh soạn
bài như đã làm.
d) Một vài kinh nghiệm rút ra từ quá tình thực hiện hướng dẫn HS tự học
qua việc soạn bài – chuẩn bị bài như trên :
Việc đổi mới cách yêu cầu soạn bài của học sinh nhằm hướng tới mục đích
hướng dẫn học sinh tự học luôn phải gắn với thiết kế dạy học, nhất là hệ thống
câu hỏi tìm hiểu bài, kiến thức mở rộng, nâng cao ở mỗi bài học…Làm sao để
học sinh lớp chuyên văn hoặc các nhóm học sinh khá giỏi diện bồi dưỡng tham
gia các kì thi học sinh giỏi. Loại bài tập này có tác dụng giúp học sinh phát huy
năng lực tìm tòi, tiếp cận thông tin, tư liệu, lựa chọn xử lí thông tin, tư liệu, hình
thành tư duy khoa học, rèn kĩ năng phân tích, tổng hợp, kĩ năng lập luận…Bước
đầu giúp HS làm quen với các phương pháp nghiên cứu khoa học.
Loại bài tập này đòi hỏi cả giáo viên và học sinh phải đầu tư nhiều thời gian
và công sức. Chương trình Ngữ văn chuyên quy định: ngoài 4 tiết dạy theo
chương trình nâng cao, còn có thêm 2 tiết dạy chuyên đề chuyên sâu và các buổi
dạy bồi dưỡng hàng tuần nên chúng tôi rất thuận lợi trong việc hướng dẫn HS
thực hiện loại bài tập này và cũng có thể dành một vài cột điểm thực hành trong
năm học nên cũng tạo cho các em điều kiện và động cơ để cố gắng hoàn thành tốt
đề tài được giao.
* Cách thực hiện của như sau:
a) Bước1: Bước chuẩn bị
- Định hướng đề tài: Để có sự chuẩn bị chu đáo giúp cho việc thực hiện có hiệu
quả bài tập chuyên đề, ngay từ đầu năm, chúng tôi đã giới thiệu, định hướng cho
học sinh những chuyên đề nằm trong chương trình chuyên sâu của năm học hoặc
đề tài có liên quan đến những nội dung trọng tâm ở phần đọc - hiểu, có thể là
những chuyên đề do tổ chuyên môn thống nhất trong chương trình bồi dưỡng
nâng cao, hoặc tự giáo viên thấy cần thiết.
- Giới thiệu tài liệu tham khảo: Cùng với việc giới thiệu các chuyên đề sẽ thực
hiện trong năm học, chúng tôi giới thiệu cho học sinh danh mục tư liệu cần tìm
để các em có cơ sở ban đầu về tài liệu nghiên cứu, từ đó các em tiếp tục thu thập
thêm .
Ví dụ: Ở chương trình Ngữ văn nâng cao 11, một sô tài liệu tham khảo tối
thiểu cần tìm đọc để thực hiện các bài tập chuyên đề như:
Về văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945
11
a) Yêu cầu:
- Lập được kế hoạch thực hiện bài tập chuyên đề (chọn vấn đề, sưu tầm tài liệu,
triển khai công việc, trình bày bài tập chuyên đề,...).
- Nêu được một số cách tiếp cận, tìm hiểu, khám phá đề tài.
- Trình bày được những nội dung cơ bản của chuyên đề.
- Triển khai được một bài tập chuyên đề.
- Bước đầu biết nghiên cứu và có năng lực tư duy lôgic, sáng tạo.
b) Các bước thực hiện bài tập:
1. Xác định, lựa chọn đề tài.
2. Sưu tầm, nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài (lập danh mục tài liệu tham
khảo).
3. Lập đề cương.
4. Tóm tắt kết quả thu được; nêu kết quả mới có ý nghĩa.
5. Viết thành bài hoàn chỉnh.
c) Xây dựng bố cục bài viết theo trình tự:
12
1) Phần mở đầu:
- Giới thiệu đề tài chuyên đề, hướng nghiên cứu/tiếp cận.
- Khái quát lí do nghiên cứu chuyên đề - đề tài/ ý nghĩa của đề tài.
2) Phần nội dung chính:
- Trình bày các nội dung đã nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, đề xuất (nếu có).
3) Phần kết luận:
- Những đúc rút, thu nhận được về mặt nhận thức, tình cảm, tư tưởng
4) Tài liệu tham khảo:
- Ghi đầy đủ những tài liệu tham khảo (tên tài liệu, tác giả, nhà xuất bản, năm
xuất bản)
b) Bước 2: Triển khai thực hiện
- Đầu tiên, chúng tôi tiến hành chia lớp theo từng nhóm nhỏ từ 3-5 học sinh.
biết mở rộng phạm vi đọc của mình sang những loại sách nghiên cứu văn học của
những nhà nghiên cứu có tên tuổi, hay tự tìm kiếm và lựa chọn thông tin trên các
trang báo điện tử …Bước đầu đã hình thành cho các em khái niệm thế nào là
nghiên cứu khoa học và hi vọng trong tương lai khi các em được học lên các bậc
13
cao hơn thì việc nghiên cứu khoa học đối với các em không còn là việc làm mới
lạ nữa.
VI/ Kết quả nghiên cứu:
- Hướng dẫn học sinh soạn bài theo cách trên - sau khi thực hiện thử nghiệm ở lớp
chuyên văn – từ năm học 2009-2010 và tiếp tục thực hiện ở các lớp chuyên Anh,
một số lớp theo chương trình cơ bản trong các năm sau do chúng tôi phụ trách,
nhận thấy tình trạng soạn bài theo kiểu đối phó đã được khắc phục dần. Học sinh
tham gia phát biểu trong tiết học sôi nổi và có chất lượng, có tìm tòi khám phá
riêng. Học sinh tự tin hơn khi trình bày ý kiến và đã từng bước góp phần hình
thành kĩ năng lập luận để bảo vệ ý kiến của cá nhân nhờ nắm vững kiến thức và có
suy nghĩ riêng. Kĩ năng lập luận dần hình thành và phản ánh rõ trong chất lượng
những bài làm văn kiểm tra định kì. Phần ghi chép cũng giảm thiểu, nhất là những
nội dung có tính thông tin vì học sinh đã soạn kĩ, tiết kiệm thời gian dành cho việc
trao đổi thảo luận. Kiến thức do vậy được nắm chắc hơn.
- Một số bài tập chuyên đề được các em trao đổi làm tư liệu tham khảo trong quá
trình học tập và ôn tập. Năm học 2012-2013, chúng tôi đã hưỡng dẫn, định hướng
cho các em thực hiện các đề tài về các tác giả trong phong trào Thơ mới, hỗ trợ
cho chương trình đọc – hiểu Ngữ văn 11 nâng cao, học kì II và ôn tập cho các kì
thi học sinh giỏi
VII/ Kết luận:
Trên đây chỉ là những cách làm giúp tạo điều kiện và rèn ý thức tự học cho
học sinh được chúng tôi thực hiện dựa trên cơ sở thực tiễn là chủ yếu. Những kết
quả cũng chỉ mới là bước đầu, nhưng chúng tôi mạnh dạn trình bày, với mục đích
Đỗ Ngọc Thống – NXB GD 2006 )
3. Đổi mới dạy học môn Ngữ văn ở THCS ( Đỗ Ngọc Thống-NXBGD
2002)
4. Tài liệu phân phối chương trình và chuẩn kiến thức môn Ngữ văn – Năm
học 2008-2009 của Bộ GD-ĐT.
5. Sách Giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn nâng cao lớp 11,12 –NXB
GD
6. Hướng dẫn thực hiện chương trình chuyên sâu THPT chuyên, môn Ngữ
văn của Bộ GD-ĐT, tháng 9/2009
7. Các nhà văn bàn về dạy học văn trong nhà trường (Hà Minh Đức- Bài
viết đăng trên Phongdiep.net
16
XI / Mục lục:
Số TT Tên các phần
1
Tên đề tài
2
Đặt vấn đề
3
Trang
1
Người thực hiện
Hồ Thị Thúy Hằng
14
Hồ Thị Thúy Hằng
7
Kết luận
14
Hồ Thị Thúy Hằng
8
Đề nghị
14
Hồ Thị Thúy Hằng
9
Phụ lục
15
Hồ Thị Thúy Hằng
10
Mẫu SK1
PHIẾU ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2010 - 2011
I. Đánh giá xếp loại của HĐKH Trường ....................................................................
1. Tên đề tài: ....................................................................................................................
..........................................................................................................................................
2. Họ và tên tác giả: .........................................................................................................
3. Chức vụ: ......................................... Tổ: ......................................................................
4. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài:
a) Ưu điểm: ......................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
b) Hạn chế: ......................................................................................................................
.................................................................................................. ...................................
.....................................................................................................................................
5. Đánh giá, xếp loại:
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Trường :.....................................
...................................................................................................................... .....................
thống nhất xếp loại : .....................
Những người thẩm định:
Chủ tịch HĐKH
(Ký, ghi rõ họ tên)
(Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)
............................................................
............................................................
............................................................
II. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Phòng GD&ĐT .....................................................
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Phòng GD&ĐT .........................
..........................................................................................................................................
2. Họ và tên tác giả: .........................................................................................................
3. Chức vụ: ......................................... Tổ: ......................................................................
4. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài:
a) Ưu điểm: ......................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
b) Hạn chế: ......................................................................................................................
.................................................................................................. ...................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
5. Đánh giá, xếp loại:
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Trường (Trung tâm):..................
...................................................................................................................... .....................
thống nhất xếp loại : .....................
Những người thẩm định:
Chủ tịch HĐKH
(Ký, ghi rõ họ tên)
(Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)
............................................................
............................................................
............................................................
II. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam thống
nhất xếp loại: ...............
Những người thẩm định:
Chủ tịch HĐKH
Điểm
tối đa
1. Tên đề tài
2. Đặt vấn đề
1
3. Cơ sở lý luận
1
4. Cơ sở thực tiễn
2
5. Nội dung nghiên cứu
9
6. Kết quả nghiên cứu
3
7. Kết luận
1
8.Đề nghị
9.Phụ lục