Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Pdf 40

Mục lục
I ) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.................................................................3
1)Trách nhiệm xã hội là gì.................................................................................3
2) Lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội...............................................3
3)Những tiêu chuẩn và công cụ quản lí trách nhiệm xã hội...............................5
4) Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội............................................................6
II) Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội............................................................8
1) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với bên ngoài...........................12

2)Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với bên trong..............................14
III) Giải pháp.........................................................................................................16
1) Thay đổi nhận thức của doanh nghiệp........................................................16
2) Một số giải pháp khác................................................................................17

IV) Kết luận........................................................................................................... 19

1


3)
Nước ta có Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ môi trường và những nghị định
hướng dẫn thi hành nhưng doanh nghiệp Việt Nam chưa thể hiện một cách rõ
ràng việc thực hành những văn bản pháp quy đó bằng những tiêu chuẩn kiểm
định và công bố hiệu quả thực hiện. Ở các nước khác, mối quan tâm của lãnh
đạo doanh nghiệp về lao động và môi trường được gom chung vào một khái niệm
gọi là trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.
I)

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1) Trách nhiệm xã hội là gì?


tranh đặc thù cho doanh nghiệp, thì "niềm tin càng trở nên cần thiết. Đạo đức kinh doanh và
trách nhiệm xã hội trở thành nền tảng cho việc xây dựng thương hiệu thật sự mạnh. Điều này
đồng nghĩa với việc có được sự sâu đậm trong việc "chia sẻ tâm trí" với người tiêu dùng song
hành với sự "chiếm lĩnh thị phần"! Tình bạn, sự hiểu biết lẫn nhau và sự hợp tác với nhau
trên cơ sở cùng tôn trọng những giá trị đạo đức cao quý và tinh thần trách nhiệm, trung thực
với các nhà đầu tư và người tiêu dùng là cách tốt nhất để dánh bóng thương hiệu một cách
chuyên nghiệp và thực chất. Uy tín xã hội ngày càng có ảnh hưởng lớn tới thương hiệu của
các công ty, lớn hơn cả quảng cáo và chính sách tài chính. Theo công tình nghiên cứu do
hãng tiếp thị Environics tiến hành tại 20 quốc gia trên thế giới, uy tín xã hội của công ty có
vai trò vô cùng to lớn đối với các nhà đầu tư. Ví dụ như ở Mỹ, hiện đang có khoảng 60% dân
số đang sở hữu cổ phiếu của các hãng tư nhân. 28% trong số này khi quyết đinh làm như vậy
đã dựa vào những thông tin thu thập được về hình ảnh của công ty trong con mắt xã hội.
Tăng lợi nhuận doanh nghiệp.
Tôn trọng luân lý xã hội và thực hiện đạo đức trong kinh doanh chính là những hành vi
đầu tư vào việc gia tăng lợi nhuận và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Giữ được chữ
tín với khách hàng, bạn hàng, nhân viên, cộng đồng và nhà nước tạo nhiều cơ hội kinh doanh
cho doanh nghiệp, giữ được mối làm ăn bạn hàng, nhân viên và điều này lại tạo cho doanh
nghiệp cơ hội có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hơn nữa. Trong một thị trường cạnh tranh, điểm
"cân bằng tối ưu" và lợi nhuận doanh nghiệp chỉ có thể hình thành trên cơ sở của sự liên kết
và sự tin tưởng giữa các đối tác chứ không thể trên nền tảng của sự lừa dối lẫn nhau. Trong
cạnh tranh kinh tế, nếu mỗi đối tác đều mù quáng chạy theo quyền lợi riêng tư của mình thì
rốt cuộc tất cả dều bị thua thiệt nặng nề. Công trình nghiên cứu của hai giáo sư John Kotter
và James Heskett ở trường đào tạo quản lý kinh doanh thuộc Harvard cho thấy, trong vòng 11
năm, những công ty "đạo đức cao" đã nâng được thu nhập của mình lên tới 682% (trong khi
những công ty đối thủ thường thường bậc trung về chuẩn mực đạo đức chỉ đạt được 36%).
Giá trị cổ phiếu của những công ty "đạo đức cao" trên thị trường chứng khoán tăng tới 901%
(còn ở các đối thủ "kém tắm" hơn, chỉ số này chỉ là 74%). Điều này cho thấy, các công ty có
đạo đức sẽ dễ làm ăn phát đạt hơn.
Đạo đức và trách nhiệm xã hội - gánh nặng hay cơ sở thành công của doanh nghiệp
Xem đạo đức và trách nhiệm xã hội là một phần thiết yếu của chiến lược kinh doanh, các

(International Organization for Standardization, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế) đã
công bố bộ tiêu chuẩn ISO 9000 về hệ thống quản lý chất lượng và ISO 14000 về hệ
thống quản lý môi trường. Hai tiểu ban của ISO chuyên về các bộ tiêu chuẩn này đã
thống nhất những phương pháp thực hành tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp thiết lập
một chính sách toàn bộ chung cho cả hai hệ thống quản lý chất lượng và môi trường.
Còn về khía cạnh quản lý nhân lực, vấn đề này phức tạp vì không phải là một vấn
đề kỹ thuật. Mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau: (a) an toàn lao động là trách
nhiệm cá nhân hay là trách nhiệm tập thể, (b) quyền lợi tối thiểu của người lao động
về nhân phẩm và tính dân chủ do phía thuê lao động tự nguyện ban cho hay phải theo
quy định của nhà nước và thương lượng tập thể.
Nhóm làm việc của ISO về trách nhiệm xã hội (WG SR) đã tham khảo rộng rãi
mọi đối tác. Chỉ riêng trong năm 2007 có 320 đại diện của 55 nước và 26 tổ chức
quốc tế tham gia hội nghị của WC SR. Nếu không có gì thay đổi thì tiêu chuẩn hướng
dẫn ISO 26000 sẽ được công bố vào năm 2010. Điều cần chú ý là tiêu chuẩn ISO
26000 chỉ là một tiêu chuẩn hướng dẫn nên không thể dùng làm cơ sở để chứng nhận
một doanh nghiệp.
4


Dưới đây là những tiêu chuẩn có thể dùng làm cơ sở để chứng nhận một doanh
nghiệp: Các tiêu chuẩn của ILO (International Labor Organization, Tổ chức Lao động
quốc tế), ISO 9001 về hệ thống quản lý chất lượng, ISO 14001 về hệ thống quản lý
môi trường, OHSAS 8001 về an toàn lao động, và SA 8000 về quản lý nhân sự.
Ngoài ra có một số tài liệu hướng dẫn cách trình bày một báo cáo về trách nhiệm
xã hội như là GRI (Global Reporting Initiative, khởi đầu báo cáo toàn diện) hay AA
1000 Asurance Standard của ISEA (Institute of Social and Ethical Accountability,
Viện Trách nhiệm xã hội và đạo đức).
Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đã dịch sang tiếng Việt các bộ tiêu
chuẩn ISO 9000 và ISO 14000. Để hoàn tất, tổng cục còn phải tiếp tục dịch và đưa
ngay vào thực hành những tiêu chuẩn và văn bản hướng dẫn khác vừa nêu trên.

hoá thành các nghĩa vụ pháp lý

b.Khía cạnh pháp lý
Khía cạnh pháp lý trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là doanh nghiệp phải
thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan. Những
điều luật như thế này sẽ điều tiết được cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ môi trường,
thúc đẩy sự công bằng và an toàn và cung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi sai
trái. Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong luật dân sự và hình sự. Về cơ bản, nghĩa vụ
pháp lý bao gồm năm khía cạnh:
(1) Điều tiết cạnh tranh
(2) Bảo vệ người tiêu dùng
(3) Bảo vệ môi trường
(4) An toàn và bình đẳng
(5) Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái.
Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các hành vi
được chấp nhận. Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách nhiệm
pháp lý của mình

c. Khía cạnh đạo đức
Khía cạnh đạo đức trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là những hành vi và
hoạt động mà xã hội mong đợi ở doanh nghiệp nhưng không được quy định trong hệ thống
luật pháp, không được thể chế hóa thành luật.
Khía cạnh này liên quan tới những gì các công ty quyết định là đúng, công bằng vượt qua
cả những yêu cầu pháp lý khắc nghiệt, nó chỉ những hành vi và hoạt động mà các thành viên
của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi từ phía các doanh nghiệp dù cho chúng không
được viết thành luật.
6


Khía cạnh đạo đức của một doanh nghiệp thường được thể hiện thông qua những nguyên

Bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng

Bên trong:
-

Quan hệ tốt với người lao động

-

Đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong doanh nghiệp.

Trong đó, bốn yếu tố đầu tiên thể hiện trách nhiệm bên ngoài của doanh nghiệp, còn hai
yếu tố cuối thể hiện trách nhiệm bên trong, nội tại của doanh nghiệp. Tất nhiên, sự phân chia
thành trách nhiệm bên ngoài và trách nhiệm bên trong chỉ có ý nghĩa tương đối và không thể
nói trách nhiệm nào quan trọng hơn trách nhiệm nào.
-

Bảo vệ môi trường:

Môi trường sống là ngôi nhà chung của con
người và tất cả các loài đông thực vật khác, bảo vệ
môi trường chính là bảo vệ nguồn sống của chính
7


chúng ta, có thể nói nếu loài người muốn sinh tồn và phát triển thì chỉ có cách duy nhất là bảo vệ
môi trường. Đó cũng chính là trách nhiệm xã hội hàng đầu được đặt ra hiện nay cho các doanh
nghiệp.
Nhãn hàng nước giải khát Vfresh thuộc Công ty CP Sữa Việt Nam Vinamilk phối hợp giữa Tổng
cục Môi trường (VEA) xây dựng nên “Quỹ 1 triệu cây xanh cho Việt Nam” bằng việctrích 50 đồng trên


-

Đóng góp cho cộng đồng xã hội:

Hiện nay, ở Việt Nam đã bắt đầu có khá nhiều tập đoàn ngoài chuyện đóng thuế
cho chính phủ, họ đã tổ chức xóa đói giảm nghèo bằng cách là trong những trường
hợp có lũ lụt thì họ đóng góp họ gây quĩ. Rồi họ đóng góp trong những chương trình
8


hỗ trợ những người có công với đất nước, hay là hỗ trợ những bản những thôn của
người dân tộc hay những chương trình về văn hóa về giáo dục, chương trình dành cho
sinh viên nghèo.
Tiêu biểu là tập đoàn Vinamilk, một trong những doanh nghiệp đã và đang chung
tay góp sức xây dựng một cộng đồng vững mạnh về thể chất lẫn tinh thần. Với các
chương trình như:
 Học bổng “Vinamilk–Ươm mầm tài năng trẻ

Việt Nam”
Tổng trị giá 1 tỷ đồng của 1000 suất học bổng
này đã đóng góp vào con số 18 tỷ đồng mà Quỹ
học bổng đã trao hơn 33 ngàn em học sinh tiểu
học tại 63 tỉnh thành cả nước trong suốt những
năm qua.
 Quỹ sữa “Vươn cao Việt Nam” khởi nguồn từ

quỹ 1 triệu ly sữa, 3 triệu ly sữa và 6 triệu ly sữa cho trẻ em nghèo Việt Nam do
Vinamilk kết hợp với Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam thực hiện vào năm 2008 2009. Chương trình có mục đích chia sẻ những khó khăn của trẻ em nghèo, có
hoàn cảnh đặc biệt, bị suy dinh dưỡng. Đây là hoạt động mang tính chất xã hội của

Lâm Đồng đã và đang thực hiện một cách tốt đẹp. Theo số liệu thống kê của ngành nông
nghiệp tỉnh, hiện mỗi năm Lâm Đồng sản xuất được gần 43.600 ha rau, quả các loại với sản
lượng gần 1,3 triệu tấn. Tuy diện tích và sản lượng lớn, nhưng nhìn chung lượng rau sản xuất
ra vẫn chưa hội đủ các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Trước tình hình thực tế, thời gian qua, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn – Chi cục bảo
vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng – Chi cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản Lâm
Đồng và TP HCM đã ký kết hợp tác về sản xuất và tiêu thụ rau, quả an toàn. Theo đó đến nay
nhiều đơn vị doanh nghiệp sản xuất rau trên địa bàn tỉnh như trang trại Phong Thúy, doanh
nghiệp tư nhân Phú Sỹ Nông, HTX Xuân Hương, HTX dịch vụ nông nghiệp Anh Đào đã tiến
hành ký kết tiêu thụ nông sản theo hướng ổn định và bền vững cho một số địa chỉ lớn như
siêu thị Coop Mart TP HCM, chợ đầu mối nông sản thực phẩm Thủ Đức, Chợ đầu mối nông
sản thực phẩm Hóc Môn .v.v…
Theo đại diện của các siêu thị, chợ đầu mối tại Tp HCM, Lâm Đồng là vùng sản xuất rau
quả lớn và đang được thị trường ưu chuộng. Trong tổng số gần 60 tấn rau, củ các loại được
hệ thống siêu thị Coop Mart Tp HCM nhập về hàng ngày để phục vụ người tiêu dùng thì đã
có đến gần 70% sản lượng được nhập từ tỉnh Lâm Đồng. Vì thế, thông qua ký kết hợp tác về
sản xuất và tiêu thụ rau quả an toàn sẽ là cơ hội để nông dân tại địa phương chú trọng nâng
cao chất lượng sản phẩm cùng doanh nghiệp đưa những sản phẩm sạch, an toàn đến người
tiêu dùng từ khâu sản xuất đến lưu thông hàng hóa, đảm bảo tiêu chí tham gia “chuỗi rau quả
an toàn”.
Tuy nhiên để thực hiện được những điều nói trên thì ngoài sự cộng hưởng của các đơn vị,
doanh nghiệp và người sản xuất rau thì các cơ quan quản lý nhà nước cũng đóng một vai trò
quan trọng trong khâu kiểm định chất lượng sản phẩm, giám sát việc sử dụng phân bón, kiểm
định dư lượng thuốc bảo vệ thật vật, trao đổi thông tin hai chiều về thị trường, nhu cầu tiêu
thụ trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Điều có thể khẳng định rằng, thông qua những ký kết hợp đồng mang tính ràng buộc của
các cơ quan quản lý nhà nước với đại diện những người trồng rau tại Lâm Đồng sẽ là điều
kiện thuận lợi cho ngành rau địa phương mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao chất lượng
sản phẩm đáp ứng ngày càng cao của thị trường trong bối cảnh hội nhập và phát triển.
1) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với bên ngoài

mục tiêu của nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Với định hướng phát triển tập trung nhằm tối đa
hóa lợi ích khách hàng, các doanh nghiệp đã nắm bắt nhu cầu thực sự của người tiêu dùng, từ
đó nghiên cứu và phát triển sản phẩm một cách đúng đắn. Kết quả là, thị trường hàng tiêu
dùng Việt Nam đang ngày càng phát triển phong phú, các sản phẩm sở hữu nhiều tính năng
hiện đại, góp phần nâng cao giá trị cho cuộc sống.
Vd: Kế hoạch sản xuất “ chuỗi sản phẩm sạch” của Tổng công ty công nghiệp thực phẩm
(Dofico) triển khai thực hiện chuỗi liên kết mô hình “Từ trang trại đến bàn ăn”. Đây là mô
hình hoàn toàn phù hợp với xu thế quản lý hiện đại về an toàn thực phẩm và tương lai ngành
sản xuất thực phẩm nói chung cũng phải phát triển theo hướng này. Qua đó có thể kiểm soát
được chất lượng từ đầu vào đến đầu ra của sản phẩm, đặc biệt là việc truy xuất nguồn gốc.
Tuy nhiên, thời gian qua mô hình này chưa phát triển mạnh cũng bởi các khâu trong chuỗi đó
chưa thực sự có liên kết chặt với nhau mà ở đó tính lợi ích của các thành viên còn quá chú
trọng. Qua sự việc vừa rồi các thành viên đã thấy rõ, bất kể một khâu nào trong chuỗi bị trục
trặc cũng sẽ gây ảnh hưởng cho toàn chuỗi ngay, mà mắt xích cuối cùng là người tiêu dùng.
Theo tôi, lợi ích của người tiêu dùng phải được đặt lên trước. Điều đó cũng đã được chứng
minh vừa qua khi người tiêu dùng “ngoảnh mặt” với thịt heo không chỉ khâu chăn nuôi bị
khó khăn mà nhà sản xuất cám cũng ảnh hưởng ngay lập tức. Mô hình mà Dofico đang triển
khai sẽ mang lại hiệu quả thiết thực và ngày càng hoàn thiện, góp phần mang lại những sản
phẩm an toàn, dinh dưỡng và truy xuất được nguồn gốc để người tiêu dùng an tâm lựa chọn.
Hiện nay, ngoài những doanh nghiệp đang cố gắng xây dựng thương hiệu, góp phần vì lợi
ích của người tiêu dùng, an toàn cho người sử dụng thì cũng có những doanh nghiệp vì lợi
nhuận bất chấp gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng như việc xúc xích có giòi của công ty
Jupiter Foods, sữa và sản phẩm chế biến từ sữa như bột ngũ cốc, bánh sữa các loại, sô-cô-la,
bột kem làm bánh... có chứa melamine dẫn đến tình trạng ngộ độc cấp do tăng amoniac cấp
tính và suy thận cấp và làm suy giảm hệ miễn dịch của cơ thể, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ.
11


Đặc biệt là vụ hàng loạt hãng nước tương có chứa lượng 3-MCPD gây ung thư vượt mức
cho phép, có loại đến hơn 2.000 lần. Trong đó có các nhãn hiệu Chin-su, Nam Dương... Đầu

trong doanh nghiệp:
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu và động cơ của người lao động cũng có sự
thay đổi tương ứng. Nhiều người lao động không còn đặt mục tiêu kiếm tiền lên hàng đầu khi
lựa chọn chỗ làm việc. Đối với họ, cảm giác được ghi nhận và sống có ích, có động lực cao
hơn nhiều so với việc đếm tiền lương vào cuối tháng. Hoạt động trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp cho họ suy nghĩ rằng họ không phải vất vả để làm giàu cho ông chủ mà công
việc của họ đang tạo ra giá trị và ý nghĩa cho xã hội.
CEO Larry Page của Google khẳng định: “Khi bạn đối xử tốt với nhân viên bạn sẽ nhận
được năng xuất cao hơn. Thay vì quan tâm họ làm việc bao nhiêu giờ hãy chú ý tới năng
suất. Chúng ta nên tiếp tục đổi mới mối quan hệ với nhân viên và tìm ra những điều tốt nhất
12


có thể làm cho họ…”.Suốt 6 năm qua Google luôn đứng trong Top 5 “Doanh nghiệp đáng để
đầu quân nhất”. Để giữ được danh hiệu này Goolge đã không tiếc tiền chi cho các chế độ đãi
ngộ, phúc lợi. Bất kỳ lúc nào các nhân viên của công ty này cũng có thể ra sân chơi bóng
mềm, chơi bowling hay xuống căng-tin thưởng thức vô số loại đồ ăn.
Thành công của các doanh nghiệp thường được đúc kết thành những bài học kinh nghiệm
khác nhau và có một vấn đề mà tất cả đều phải công nhận là một doanh nghiệp không thể
thành công nếu không có một đội ngũ nhân sự giỏi và toàn tâm toàn ý với công việc. Trong
tình huống khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, việc tạo dựng và giữ chân đội ngũ nhân
viên là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể giữ vững vị trí và phát triển bền vững.

"Xây" đã khó, "giữ” còn khó hơn!

So với nguồn vốn hữu hình là tiền và cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực của doanh
nghiệp có đặc điểm là tạo dựng đã khó, giữ được và phát huy hết hiệu quả lại càng khó hơn.
Nếu không khéo xây dựng và gìn giữ, nguồn vốn này rất dễ không cánh mà bay - qua hiện
tượng “nhảy việc”.
Theo các cuộc khảo sát về nhân sự do một số công ty tiến hành trong năm 2008, ngoài

Năm là, nếu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và bộ quy tắc ứng xử được hiểu đúng
và thực hiện đúng, phù hợp với luật pháp quốc gia thì việc thực hiện trách nhiệm xã hội
chính là một việc làm mà các bên đều có lợi: đó là uy tín và tính cạnh tranh của doanh nghiệp
được tăng lên; quyền lợi và nhân phẩm của người lao động được bảo đảm tốt hơn; và việc

14


thực hiện luật pháp quốc gia cũng được tốt hơn, tính cạnh tranh của cả nền kinh tế cũng cao
hơn, môi trường đầu tư tốt hơn.
2)

Một số giải pháp khác đưa ra.

Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp Việt Nam là một công việc không thể bỏ
qua trên con đường hội nhập, vừa lợi ích cho
doanh nghiệp, vừa lợi ích cho xã hội, đặc biệt là
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp, của quốc gia và hỗ trợ thực hiện tốt hơn
Luật pháp Lao động tại Việt Nam, cũng là nội
dung quan trọng trong xây dựng văn hoá doanh
nghiệp trong nền kinh tế hiện đại. Để định
hướng và tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực
hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình, cần phải
thực hiện một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, cần tăng cường thông tin, tuyên
truyền để mọi người hiểu đúng bản chất của vấn
đề “trách nhiệm xã hội” và các bộ quy tắc ứng
xử, nhất là trong các doanh nghiệp, các nhà quản lý, hoạch định chính sách vĩ mô.

tư xã hội trong và ngoàinước.
vi. Miễn, giảm thuế cho các DN trong một số lĩnh vực Nhà nước cần khuyến khích. Có ý
kiến cho rằng vì DN đã giúp hoặc thực hiện thay vai trò của Nhà nước trong một số lĩnh vực
phúc lợi xã hội, vốn lẽ ra Nhà nước phải sử dụng nguồn thu từ thuế để thực hiện trách nhiệm
của mình, cho nên sẽ hợp lý hơn nếu Nhà nước giảm thuế của các DN này.
vii. Cần thực hiện việc chuẩn hóa, xếp loại, đánh giá TNXH của doanh nghiệp theo một
hệ tiêu chí nhất quán, cụ thể, rõ ràng, công khai, minh bạch. Đây là khâu quan trọng, nhưng
cũng là khó nhất đối với cơ quan Nhà nước, bởi vì không có tiêu chí thống nhất sẽ dẫn đến
bất bình đẳng, lách luật, xung đột lợi ích; nhưng tác động xã hội và động cơ không vì lợi
nhuận sẽ rất khó để có thể đo lường. Đáng lưu ý, các tiêu chí cần được thiết kế một cách sát
với thực tiễn của DN. Một hệ thống tiêu chí quá cao sẽ có thể làm mất đi động lực đối với
DN và do đó sẽ cản trở việc khuyến khích, thu hút các DN mới. Nên xây dựng các công thức
lượng hóa được cho một số loại tác động xã hội mà DNXH tạo ra, so sánh giữa chi phí đầu
tư, chi phí cơ hội và hiệu quả thu được. Việc áp dụng kiểm toán tài chính và kiểm toán xã hội
cũng nên được áp dụng rộng rãi hơn.
viii. Hỗ trợ về nâng cao năng lực, đào tạo các kỹ năng về trách nhiệm xã hội cho doanh
nghiệp
ix. Cần phát triển và chú trọng vai trò của các tổ chức trung gian, khuyến khích nhà đầu
tư xã hội; có thể thành lập Hiệp hội các DN làm trách nhiệm xã hội tại Việt Nam; tham vấn
sâu sắc các tổ chức này trong quá trình làm chính sách liên quan đến DN;
x. Cần thực hiện đấu thầu công khai, cạnh tranh để các DNXH có thể tham gia cung cấp
các sản phẩm và dịch vụ công ích, như xử lý rác thải, bảo vệ môi trường, giáo dục, y tế cộng
đồng, sinh kế bền vững...
xi. Có thể ban hành các chính sách quy định các cơ quan nhà nước, tổ chức thuộc khu
vực công phải ưu tiên các sản phẩm, dịch vụ của DN khi thực hiện mua sắm công hoặc thuê
ngoài;
xii. Thực hiện các chương trình nhà ở xã hội theo mô hình DN;

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status