Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp việt nam hiện nay - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_____________________________

NGUYỄN THỊ KIM CHI

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_____________________________

NGUYỄN THỊ KIM CHI

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62 22 85 05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Chủ tịch Hội đồng Khoa học

GS. TS Hoàng Chí Bảo


hội của doanh nghiệp ở Việt Nam......................................................................16
1.2.2. Những công trình nghiên cứu về định hướng nâng cao việc thực hiện
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới...................20
1.3. Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp và hướng tiếp cận của luận án đối với trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp .........................................................................................................24
1.3.1. Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp ...............................................................................................24
1.3.2. Hướng tiếp cận của luận án đối với trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp .................................................................................................................26
Tiểu kết chương 1 ..................................................................................................30
Chƣơng 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA DOANH NGHIỆP ..........................................................................................31
2.1. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ..........................31
2.1.1. Khái niệm trách nhiệm, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp ......................................................................................................31
2.1.2. Đặc điểm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ......................................43
2.2. Nội dung và hình thức biểu hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ..............46
2.2.1. Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ......................................46
2.2.2. Các hình thức biểu hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ...............54
2.3. Ý nghĩa của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp .................60
2.3.1. Đối với doanh nghiệp ..............................................................................60


2.3.2. Đối với xã hội ..........................................................................................62
Tiểu kết chương 2 ..................................................................................................66
Chƣơng 3. THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH
NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ KẾT QUẢ VÀ HẠN CHẾ ......68
3.1. Phân loại và đặc điểm doanh nghiệp ở Việt Nam............................................68
3.1.1. Phân loại doanh nghiệp ở Việt Nam ........................................................68


BHTN

2

Bảo hiểm xã hội

BHXH

3

Bảo hiểm y tế

BHYT

4

Bộ quy tắt ứng xử

CoC

5

Cơ sở hạ tầng

CSHT

6

Doanh nghiệp


KTTT

12

Thu nhập quốc dân

GDP

13

Trách nhiệm hữu hạn

TNHH

14

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

TNXH của DN

15

Tổ chức thương mại thế giới

WTO

16

Xã hội chủ nghĩa


Bảng 3.7:

Kết quả thanh tra thuế của doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2014..........95

Bảng 3.8:

Tỷ lệ doanh nghiệp đóng BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn cho
người lao động từ năm 2006 - 2011 ....................................................100

Bảng 3.9:

Tình hình tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc năm 2012 - 2014
của doanh nghiệp Việt Nam ................................................................101

Bảng 3.10: Tình hình chậm đóng, nợ BHXH năm 2012 – 2013 của doanh
nghiệp (Ban hành kèm theo Báo cáo số 143/BC-CP, ngày 16 tháng
5 năm 2014) .........................................................................................102
Bảng 3.11. Số vụ và số người tai nạn lao động năm 2013 ....................................102
Bảng 3.12: Mối tương quan giữa doanh nghiệp và xã hội trong việc thực hiện
TNXH của DN .....................................................................................130


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Doanh nghiệp ngày nay không chỉ đại diện cho mình mà còn đại diện cho
quốc gia trên thế giới. Với vai trò trụ cột nền kinh tế, hơn bao giờ hết, doanh nghiệp
đang có những cơ hội và trách nhiệm chứng tỏ vị thế của mình như một thiết chế
kinh tế, một thực thể, một chủ thể quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã
hội, sự tăng trưởng của đất nước, số lượng việc làm tương đối lớn, tham gia giải

doanh nghiệp và xã hội thì sẽ không thể nhận thức và thực hiện TNXH của DN một
cách toàn diện. Vì vậy, tiếp cận TNXH của DN dưới góc độ triết học góp phần khái quát
hóa vấn đề trên ở tầm nhận thức xã hội, tư tưởng xã hội, xây dựng định hướng thực
hiện TNXH của DN một cách hệ thống; lý giải biện chứng về bản chất hiện tượng
TNXH của DN, từ quá trình nhận thức đến hành động thực tiễn, xu hướng vận động của
nó. TNXH của DN được coi như một hoạt động tất yếu doanh nghiệp phải thực hiện
ngay từ khi ra đời. Doanh nghiệp không thể có điều kiện thì làm, không có điều kiện thì
không làm. Doanh nghiệp cũng không thể làm do sức ép từ bên ngoài mà xuất phát từ
chính vì lợi ích của bản thân doanh nghiệp và vì lợi ích của xã hội. Doanh nghiệp sẽ
nhận được nhiều lợi ích từ việc thực hiện TNXH của DN như: góp phần xây dựng
thương hiệu mạnh, gia tăng doanh thu, lợi nhuận, thu hút vốn đầu tư, nhân tài, cải thiện
mối quan hệ với chính quyền, với người lao động, không ngừng phát triển sản phẩm
mới, tạo dựng lòng tin với khách hàng và xã hội. Uy tín cũng như sức cạnh tranh của
một doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả kinh doanh và những việc làm cụ
thể mang tính xã hội của doanh nghiệp đó. Để thay đổi hành vi thực hiện TNXH của DN
trước hết chủ thể doanh nghiệp phải thay đổi từ nhận thức của mình và sau đó là sự tác
động của chủ thể khác trong xã hội. Nếu chưa nhận thức đúng thì việc thực hiện chỉ
mang tính manh mún, lẻ tẻ và tự phát vì lợi nhuận của doanh nghiệp chứ chưa vì lợi ích
của xã hội.
Ở Việt Nam, doanh nghiệp có những bước phát triển mạnh mẽ. Việt Nam đã trở
thành một trong số các nước xuất khẩu lớn trên thế giới về hàng dệt, may mặc, da giầy,
nông, thuỷ sản, đồ gỗ và hàng thủ công mỹ nghệ... Xuất khẩu đã giúp cho các doanh
nghiệp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu mà ở đó các nguyên
tắc thương mại mang tính ràng buộc được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, nhận thức và
thực tiễn thực hiện TNXH của DN ở Việt Nam đang gặp những khó khăn nhất định,
bởi đây vẫn là vấn đề mới mẻ, chỉ xuất hiện vài thập niên gần đây và còn ít doanh
nghiệp quan tâm. Đa phần các doanh nghiệp ở Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ,
vốn ít, thiếu kinh nghiệm hoạt động trong kinh tế thị trường, do đó các chủ doanh
nghiệp mới chỉ quan tâm tới số lượng, ít nhiều tới chất lượng sản phẩm, chưa quan tâm
tới lợi ích người lao động, người tiêu dùng, cộng đồng xã hội; hoạt động bảo vệ môi

trường quốc tế.
Mặc dù là quốc gia đi sau trong việc tiếp cận vấn đề TNXH của DN nhưng Việt
Nam cần hiểu đúng và cập nhật để hội nhập với các tiêu chuẩn về TNXH của DN của thế
giới, từ đó thực hiện tốt TNXH của DN ngay từ đầu. Vì vậy, nghiên cứu TNXH của DN
cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn để nhận thức đúng bản chất và thúc đẩy việc thực
hiện TNXH của DN. Những câu hỏi như cần hiểu như thế nào cho đúng bản chất của hiện
tượng TNXH của DN; việc thực hiện TNXH của DN ở Việt Nam đã đạt những kết quả,

3


có hạn chế gì; những cơ hội và thách thức đối với việc thực hiện TNXH của DN ở Việt
Nam ra sao; những định hướng nào cho doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiểu quả việc
thực hiện TNXH trong thời gian tới… Trả lời cho những câu hỏi trên có ý nghĩa thực tiễn
đối với xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp và phát triền kinh
tế của Việt Nam. Phát triển kinh tế làm sao phải vừa đạt tốc độ tăng trưởng bền vững, vừa
phải bảo vệ được các lợi ích công cộng và mục tiêu xã hội, môi trường sinh thái. Vì những
lý do trên, tôi chọn vấn đề Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận về TNXH của DN, những
kết quả, hạn chế trong việc thực hiện TNXH của DN ở Việt Nam những năm gần đây,
luận án đề xuất một số định hướng, khuyến nghị nâng cao hiệu quả việc thực hiện
TNXH của DN ở Việt Nam trong thời gian tới.
Nhiệm vụ: Để đạt mục đích trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu về TNXH của DN và đưa ra hướng tiếp
cận mới của luận án.
- Nêu và phân tích một số vấn đề lý luận về TNXH của DN: Khái niệm, đặc
điểm, nội dung, hình thức, ý nghĩa của thực hiện TNXH của DN.
- Phân tích kết quả, hạn chế trong việc thực hiện TNXH của DN ở Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên phương pháp luận biện chứng duy vật với việc
sử dụng một số phương pháp khác như: logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, thống kê,
so sánh, quan sát,…
Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử:
Luận án tiếp cận vấn đề TNXH của DN từ góc độ của CNDVBC và CNDVLS,
cụ thể tác giả sử dụng chủ yếu 3 cặp phạm trù: cái chung – cái riêng, nội dung - hình
thức, nguyên nhân - kết quả, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát
triển trong việc xây dựng, phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức của hiện
tượng TNXH của DN nhằm tìm ra bản chất, tất yếu, phổ biến của hiện tượng này.
Ngoài ra, tác giả sử dụng quan điểm của triết học về mối quan hệ giữa CSHT và
KTTT, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, từ nhận thức đến tư duy hành động, quy
luật mâu thuẫn biện chứng làm cơ sở xây dựng và phân tích quá trình thực hiện TNXH
của DN ở Việt Nam.
Phương pháp lôgic - lịch sử: Xem xét tính lịch sử, tính lôgic của quá trình phát
triển hiện tượng TNXH của DN về mặt lý luận cũng như quá trình thực hiện TNXH
của DN ở Việt Nam những năm qua, từ đó đánh giá, đề xuất một số định hướng thúc
đẩy thực hiện TNXH của DN hiệu quả ở Việt Nam trong thời gian tới.
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Trên cơ sở phân tích tài liệu trong và ngoài
nước về vấn đề TNXH của DN, tác giả tổng hợp các kết quả nghiên cứu đó, đưa ra

5


quan điểm, nhận định của tác giả về vấn đề TNXH của DN ở Việt Nam trên bình diện
lý luận và thực tiễn. Các tài liệu thứ cấp đó đã giúp tác giả có những dữ liệu minh
chứng cho luận điểm dưới góc độ triết học của mình.
Phương pháp thống kê, so sánh: Tác giả tiến hành thu thập, thống kê những
tài liệu, số liệu liên quan đến vấn đề TNXH của DN ở Việt Nam và thế giới, so sánh
các công trình, số liệu sau đó tổng hợp lại trong một số nhận xét và bảng biểu. Các số


của cơ quan nhà nước, của các bên hữu quan còn yếu, thiếu kinh nghiệm. Nguyên
nhân chính là do mâu thuẫn về lợi ích, mâu thuẫn giữa yếu tố chủ quan và khách quan;
mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức.
- Để khắc phục hạn chế trong việc thực hiện TNXH của DN ở Việt Nam, định
hướng đầu tiên bắt đầu từ thay đổi nhận thức và hành động của chủ thể doanh nghiệp
đến nâng cao vai trò quản lý, giám sát của nhà nước cũng như sự tham gia tích cực của
các hiệp hội, tổ chức xã hội và cộng đồng xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của doanh
nghiệp mang tính TNXH hơn.
6. Đóng góp mới của luận án
- Luận án tổng kết và cập nhật những công trình nghiên cứu về TNXH của DN
và chỉ ra hạn chế của một số lý thuyết về vấn đề TNXH của DN. Qua đó, tác giả luận
án tiếp cận hiện tượng TNXH của DN dưới góc độ triết học nhằm tìm ra bản chất của
hiện tượng này.
- Từ góc độ tiếp cận triết học, luận án đã chỉ ra rằng: TNXH của DN là một hiện
tượng xã hội, một thuộc tính vận động của doanh nghiệp, tồn tại, vận động cùng sự
vận động của doanh nghiệp. TNXH của DN là một hoạt động nội tại của bản thân
doanh nghiệp, song hành với hoạt động sản xuất kinh doanh (ra đời từ khi doanh
nghiệp hình thành). Từ đó, luận án góp phần xây dựng nhận thức đúng đắn về TNXH
của DN. TNXH của DN không cố định mà biến đổi theo sự biến đổi, phát triển của
doanh nghiệp và xã hội. Doanh nghiệp có ba vị thế chính. Với tư cách là thiết chế kinh
tế thuộc cơ sở hạ tầng, doanh nghiệp có mối quan hệ với thượng tầng kiến trúc, với tư
cách là thực thể xã hội, doanh nghiệp có mối quan hệ với tự nhiên, với tư cách là chủ
thể trong xã hội, doanh nghiệp có mối quan hệ với các chủ thể khác trong xã hội. Luận
án phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức biểu hiện của TNXH của DN
thông qua ba vị thế đó và khẳng định rằng TNXH của DN có ý nghĩa quan trọng đối
với sự phát triển của doanh nghiệp và xã hội.
- Luận án cũng đưa ra những đặc thù của doanh nghiệp Việt Nam. Bằng các dữ
liệu phong phú, các minh chứng, luận án phân tích khái quát kết quả, hạn chế trong việc
thực hiện TNXH của DN ở Việt Nam những năm gần đây để khẳng định bên cạnh cơ

Chương 2. Một số vấn đề lí luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Chương 3. Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
- một số kết quả và hạn chế
Chương 4. Cơ hội, thách thức và một số định hướng, khuyến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện việc trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam

8


Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các học thuyết tiêu biểu và trào lƣu điển hình về trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
Hiện nay, thuật ngữ “TNXH của DN” (Corporate Social Resposibility) không
chỉ được sử dụng thường xuyên trong các tài liệu sách, báo cáo khoa học, mà còn được
sử dụng khá thông dụng trong các chương trình phát thanh, truyền hình liên quan,
trong khẩu ngữ giao tiếp của công chức, doanh nhân, nhà báo, các nhà khoa học… ở
nhiều quốc gia. TNXH của DN đã, đang và sẽ trở thành mối quan tâm của quốc tế, của
thời đại. Trên công cụ tìm kiếm khi gõ thuật ngữ Corporate Social Resposibility, Google cho ra gần 81.000.000 kết quả liên quan đến công trình viết về TNXH của DN.
Con số này cho thấy, TNXH của DN đang là mối quan tâm của toàn thế giới. Điều đó
còn cho thấy sự quan tâm của xã hội đến TNXH của DN ngày càng nhiều. Đa số các
công trình nghiên cứu về vấn đề TNXH của DN chỉ mới được bắt đầu từ cuối những
năm 90 của thế kỷ XX. Những công trình này bao gồm những cuốn sách, các báo cáo
của các tổ chức phi chính phủ, các bài báo trên tạp chí, các đề tài nghiên cứu hay
những bài phát biểu tại các hội nghị, hội thảo quốc tế.
1.1.1. Các học thuyết tiêu biểu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
- Học thuyết về giá trị dành cho các cổ đông (shareholder value theory):
Đây là một học thuyết của Milton Friedman, một nhà kinh tế học đoạt giải Nobel
năm 1970 được đề cập trong công trình The Social Responsibility of Business is to

coi mình là những nhà hoạch định chính sách không được ủng hộ. Ông đặt ra câu hỏi
liệu các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thành thạo trong việc ra quyết định xã hội
không. Những vị đại diện về chính trị được bầu ra là để đưa ra các quyết định, chính
sách. Vậy nên, theo Friedman, TNXH duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi
nhuận. Luận điểm của Friedman là một “cái phao” giúp các doanh nghiệp biện minh
cho hành động không thực hiện TNXH nếu doanh nghiệp chưa thấy cần thiết.
Thứ hai, doanh nghiệp vốn là một chủ thể có tư cách pháp nhân, nhưng là một
chủ thể “vô tri, vô giác” do con người tạo ra. Do đó, doanh nghiệp không thể tự nhận
thức và gánh vác nghĩa vụ đạo đức, vốn chỉ có con người mới có. Bởi vì, chỉ có từng
cá nhân con người mới có lương tâm để nhận thức sự việc đúng hay sai.
Thứ ba, TNXH thuộc lĩnh vực của nhà nước, là chủ thể cung cấp các dịch vụ
công, vì lợi ích công cộng, phi lợi nhuận. Chỉ có nhà nước mới có đủ thông tin để
quyết định đúng đắn trong việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả. Trách nhiệm
của doanh nghiệp là tạo ra giá trị gia tăng, phát triển công nghệ (bởi vì doanh nghiệp là
chủ thể vì lợi nhuận duy nhất trong xã hội) đem lại lợi nhuận, tạo ra việc làm và thu
nhập cho người lao động. Trách nhiệm chính của doanh nghiệp là đóng góp thuế và
trách nhiệm của nhà nước là làm sao dùng tiền thuế đó hiệu quả nhất vì lợi ích công
cộng. Nếu doanh nghiệp cũng thực hiện TNXH thì sẽ có sự trùng lặp và doanh nghiệp

10


sẽ trở thành người vừa đóng thuế, vừa quyết định việc chi tiêu khoản thuế đó ra sao.
Như vậy, học thuyết của Friedman chỉ xem xét TNXH của DN trong mối quan
hệ duy nhất: doanh nghiệp - cổ đông, điều này có nghĩa là, những mối quan hệ khác
thuộc môi trường bên trong và môi trường bên ngoài doanh nghiệp sẽ bị bỏ qua hay
doanh nghiệp không quan tâm đến. Doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy nhất là
tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị cổ đông, trong khuôn khổ luật chơi của thị trường
là cạnh tranh trung thực và công bằng. Lợi ích xã hội được đảm bảo một cách tốt nhất
gián tiếp thông qua hoạt động kinh tế, cụ thể là việc thu lợi nhuận và phân phối lợi

thực tế. Chắc chắn rằng không ai có thể làm hài lòng tất cả mọi đối tượng trong xã hội;
cũng không nhất thiết phải tìm hiểu và thỏa mãn hết mong muốn của mọi đối tượng xã
hội khác nhau, kể cả những người không hề có bất kỳ ràng buộc hay cảm thấy có ràng
buộc với hoạt động của doanh nghiệp. Chỉ những người có liên quan là những đối
tượng có lợi ích bị ràng buộc với hoạt động của doanh nghiệp và thực sự quan tâm đến
việc bảo vệ lợi ích của họ. Họ chính là người đại diện cho toàn thể xã hội trong hoạt
động của doanh nghiệp [71;151]. Thuật ngữ các bên liên quan xuất hiện trong hướng
tiếp cận chiến lược của doanh nghiệp cũng như trong phân tích mối quan hệ giữa
doanh nghiệp với môi trường mà ở đó doanh nghiệp ra quyết định và tiến hành các
hoạt động kinh doanh. Theo học thuyết này, quá trình quản trị chiến lược của doanh
nghiệp phải xem xét và tính đến những lợi ích, những quan ngại, đòi hỏi của những cá
nhân, nhóm xã hội trong môi trường kinh doanh. Bất cứ cá nhân hay tổ chức nào có
ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi hoạt động của doanh nghiệp đều được coi là các bên
có liên quan. Như vậy, khách thể của TNXH của DN theo cách hiểu của Freeman khá
rộng, sẽ có thể tác động lên hoạt động của doanh nghiệp hoặc ngược lại chịu sự tác
động từ những hoạt động đó. Nó bao gồm các bên liên quan sơ cấp (là những người,
nhóm người có quan hệ hợp đồng trực tiếp với doanh nghiệp: người lao động, người
tiêu dùng, nhà cung cấp, cổ đông, các tổ chức tài chính, tín dụng) và các bên liên quan
thứ cấp (là những người, nhóm người có quan hệ hợp đồng trực tiếp với doanh nghiệp:
các cộng đồng địa phương, các hội hay các tổ chức phi chính phủ…). Doanh nghiệp,
khi thực thi TNXH phải xác định một cách đầy đủ những người, nhóm người được coi
là các bên liên quan, để từ đó, quan tâm và thỏa mãn những lợi ích hợp pháp, chính
đáng của họ. Thực tế cho thấy, việc xác định những bên liên quan của doanh nghiệp sẽ
phụ thuộc rất nhiều vào vị thế mà doanh nghiệp đó nắm giữ cũng như vào xã hội mà ở
đó doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình.
Thực tế, nếu giả định rằng, lợi ích của các bên liên quan hội tụ với nhau thì tổng
lợi ích của các bên liên quan đó cũng không thể tương xứng với lợi ích của xã hội. Về
mặt quốc gia, nhà nước là chủ thể có vai trò bảo vệ lợi ích chung, nhưng ở tầm quốc
tế, quyền lực này thuộc về ai là câu hỏi khó có thể trả lời được bằng lý thuyết của các
bên liên quan vì họ cho rằng, vai trò đó được trao cho các doanh nghiệp đa quốc gia.

yêu cầu của nhà chức trách địa phương. Doanh nghiệp thực hiện TNXH là để đáp lại sức
ép cũng như mong đợi của các tác nhân cung ứng các nguồn tài nguyên phục vụ cho sự
tồn tại của doanh nghiệp.
Trên cơ sở tiếp cận một số học thuyết nêu trên, tác giả luận án có thêm những
luận cứ để nhìn nhận TNXH của DN dưới góc nhìn triết học. Học thuyết của Friedman
cho thấy, ông chỉ nhìn khái niệm TNXH của DN thuần túy dưới góc độ kinh tế nên đã

13


giới hạn phạm vi TNXH của DN ở những hoạt động có tính chất kinh tế. Mục đích
kinh tế luôn đóng vai trò quyết định, vì nếu doanh nghiệp không có lợi nhuận thì khó
có thể thực hiện được TNXH. Nhưng hoạt động TNXH của DN không chỉ bao gồm
các hoạt động kinh tế bởi nó luôn đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với sự vận động của
xã hội, chịu sự tác động của xã hội. Cho nên doanh nghiệp quan tâm đến những vấn đề
xã hội chính là thể hiện trách nhiệm đến môi trường hoạt động rộng lớn của mình.
1.1.2. Các trào lưu điển hình về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Khái niệm về TNXH của DN mới ra đời vài thập niên trở lại đây, song quan niệm
về nó đã có từ khá lâu. Trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”, Michel
Capron (Giáo sư Khoa học quản lý của Đại học Paris VIII - Saint Denis và Paris XII - ValdeMarne); Francoise Quairel - Lanoizelee (Giảng viên Đại học Paris -Dauphine, người
trực tiếp giảng dạy môn TNXH của DN trong chương trình cao học) cho rằng:
“Từ thời kỳ Cổ đại, giữa hoạt động kinh tế và xã hội luôn có mối quan hệ căng
thẳng, dao động giữa hai cực: một bên là việc săn tìm nguồn tài nguyên tự nhiên và tài
nguyên con người, một bên là đóng góp vào việc thỏa mãn những nhu cầu của các dân
tộc. Nói cách khác, đó là sự căng thẳng giữa nhu cầu sản xuất và khả năng gánh chịu
những nguy cơ nảy sinh từ việc sản xuất ra các vật phẩm phục vụ nhu cầu con người. Từ
bộ luật Hammourabi yêu cầu phải bảo vệ những người nô lệ, cho đến việc quản lý các
khu rừng thể hiện trong đạo luật Collbert với tầm nhìn dài hạn, hay mối bận tâm làm sao
tạo ra được sự cân bằng giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và ngành chăn nuôi gia súc trong
các đại điền trang của những dòng tu thời Trung cổ, người ta luôn bắt gặp mối lo âu

coi TNXH là hoạt động được đánh giá đặt trong khuôn khổ của các hoạt động thông
thường của doanh nghiệp. Có một số khái niệm liên quan như công dân tập đoàn tốt
(good corperate citizenship); thương mại có đạo đức (ethical trading); lao động công
bằng (fair labor); lương theo mức sống (living wage); chống xưởng bóc lột (no
sweatshop) và được soạn ra thành các tiêu chuẩn. Có ba lý do làm cho vấn đề “TNXH
của DN” được chú ý nhiều ở Châu Âu.
- Trong hai mươi năm cuối cùng của thế kỷ XX, người ta chứng kiến cái gọi là “xã
hội rủi ro” được thể hiện qua việc giảm bớt khả năng chấp nhận rủi ro ở các doanh nghiệp
cũng như các cổ đông, những người lao động ăn lương.
- Mọi người ngày càng ý thức hơn về sự đe dọa của những mối hiểm họa có nguồn
gốc từ hoạt động của doanh nghiệp, có thể gây ra những hậu quả không thể đảo ngược
(chẳng hạn như hủy hoại sinh quyển, sự gia tăng của tình trạng bất bình đẳng đe dọa sự cố
kết xã hội, những tổn hại tới sức khỏe cộng đồng). Trong đó, hoạt động kinh tế nói chung
và các doanh nghiệp lớn nói riêng bị xem như thủ phạm gây ra những thảm họa đó.
- Nhiều phong trào xuất phát từ các tổ chức xã hội dân sự đã gây sức ép ngày
càng tăng lên hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là trong vấn đề liên quan đến việc
tôn trọng các quyền con người, quyền xã hội, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng
đồng. Nhiều cuộc thăm dò cho thấy, ngày nay mong đợi của công chúng đối với doanh

15


nghiệp chủ yếu là cách ứng xử của doanh nghiệp đối với môi trường và người lao động
chứ không phải là hoạt động kinh tế thuần túy.
Ý thức được những vấn đề đó, phản ứng của các doanh nghiệp là cố gắng gây
dựng lại hình ảnh của mình và khôi phục niềm tin đã bị đánh mất. Sự thành công của
một doanh nghiệp nói chung phụ thuộc vào sự quan tâm của doanh nghiệp đến các bên
liên quan (stakeholders), tức là những người và những thực thể mà doanh nghiệp có
những mối quan hệ mang tính khế ước hoặc có thể có một ảnh hưởng nào đó đối với
doanh nghiệp. Như vậy, những mong đợi của xã hội, những phản ứng hay hành động đón

phối hợp công bố như:
- Lê Thanh Hà (2009), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt
Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra bản chất của TNXH của DN, sự cần thiết
phải thực hiện TNXH của DN trong bối cảnh Việt Nam là thành viên chính thức của
WTO, đặc trưng của một số bộ quy tắc phổ biến và mức độ tương thích của chúng với
pháp luật Việt Nam cũng như chỉ ra điều kiện áp dụng TNXH ở Việt Nam hiện nay.
Thông qua trình bày một số vấn đề có tính cơ sở lý luận và thực tiễn về TNXH của DN
nêu trên, tác giả Lê Thanh Hà đã phân tích, đánh giá việc thực hiện TNXH của doanh
nghiệp ở Việt Nam qua khảo sát 15 doanh nghiệp của 5 ngành kinh tế điển hình và đề
xuất các giải pháp thúc đẩy việc thực hiện TNXH của DN tại các doanh nghiệp nói
chung. Theo chúng tôi, nếu đặt vấn đề thực thi TNXH của DN chỉ trong điều kiện Việt
Nam bắt đầu gia nhập WTO thì chưa đầy đủ. Những luận cứ mang tính thực tiễn ở Việt
Nam của công trình này giúp tác giả luận án tham khảo đề giải quyết nhiệm vụ đặt ra
trong chương 3: Kết quả thực hiện TNXH của DN ở Việt Nam.
- Nguyễn Đình Tài và cộng sự (2009), Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung
ương, thực hiện đề tài khoa học cấp bộ Tăng cường TNXH của DN đối với người tiêu
dùng và đối với môi trường ở Việt Nam vì sự phát triển bền vững.
Đề tài trên đã triển khai giải quyết bốn nhiệm vụ chính: Làm rõ cơ sở lý luận, ý
nghĩa và vai trò của TNXH của DN đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
và đất nước; tìm hiểu và rút ra các bài học về thực hiện TNXH của DN đối với người
tiêu dùng và đối với môi trường ở một số nước; phân tích, đánh giá khái quát thực
trạng TNXH của DN đối với lĩnh vực tiêu dùng và trách nhiệm môi trường ở Việt
Nam; đề xuất các giải pháp tăng cường TNXH đối với người tiêu dùng và môi trường
nhằm đạt tới mục tiêu phát triển bền vững, hài hòa của nền kinh tế và của chính bản
thân doanh nghiệp. Kết quả nghiên của đề tài này giúp tác giả luận án tham khảo về
tiếp cận nội dung TNXH đối với người tiêu dùng và môi trường trong những năm gần
đây. Đồng thời, những dữ liệu và kết quả đánh giá thực trạng TNXH của DN đối với
hai lĩnh vực trên cũng là tư liệu để tác giả luận án tham khảo nghiên cứu thực trạng
thực hiện TNXH của DN ở Việt Nam hiện nay.

nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp chính là thực hiện tốt TNXH.
- Diễn đàn châu Á hàng năm lần thứ 6 về TNXH của DN đã được tổ chức tại
thành phố Hồ Chí Minh trong 2 ngày 27 và 28/9/2007. Đây là lần đầu tiên, Việt Nam
đăng cai tổ chức Diễn đàn châu Á về TNXH với chủ đề “TNXH của DN - động lực thúc
đẩy quá trình gia tăng và phát triển: Làm thế nào TNXH của DN có thể giảm đói nghèo,
tạo nên hiệu quả đầu tư và thương mại cải tiến hoạt động kinh doanh”. Nhiệm vụ chính
của Diễn đàn là nhấn mạnh đến những chương trình đổi mới và những kế hoạch xây
dựng thực tiễn tốt nhất đối với TNXH của DN như một chiến lược chính trong việc
chuyên tâm đến những nhu cầu và vấn đề cộng đồng. Một trong những hoạt động quan

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status