SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT VÀI SUY NGHĨ KHI DẠY VĂN BẢN BÀI HỌC ĐƢỜNG
ĐỜI ĐẦU TIÊN NGỮ VĂN 6 TẬP 2 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH
HỢP"
PHẦN I:
ĐẶT VẤN ĐỀ
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết việc "Đổi mới phương pháp dạy học" được thực hiện hơn
mười năm qua. Với mục tiêu tổng quát của chương trình Ngữ văn THCS được cụ thể
hoá trong việc dạy của thầy, việc học của trò trên ba phương diện: kiến thức, kĩ năng
và thái độ, tình cảm. Về kĩ năng, chương trình nhấn mạnh: Trọng tâm rèn luyện kĩ
năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kĩ năng nghe, đọc, nói , viết Tiếng
Việt thành thạo theo các kiểu văn bản và có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn
học, bứơc đầu có năng lực cảm nhận và bình giá văn học.
Để thực hiện mục tiêu rèn luyện kĩ năng nói trên, việc dạy học Ngữ văn được tiến
hành theo phương pháp tích hợp. Phương pháp tích hợp đòi hỏi học sinh học tập một
cách sáng tạo, vừa kết hợp các yếu tố đồng qui giữa ba phân môn: Văn học, Tiếng
Việt, Tập làm văn, vừa tích cực chủ động học tập ở từng phân môn.
Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp, tất nhiên sẽ kéo
theo đổi mới qui trình dạy học. Ở đó hình tượng văn học vẫn được tiến hành trong sự
cảm thụ của người học nhưng không còn độc lập riêng rẽ. Nó tiến hành trong sự đồng
bộ cả Tiếng Việt và Tập làm văn để tiến tới kết quả cần đạt của cả bài học Ngữ Văn.
Tuy nhiên, dạy học theo quan điểm tích hợp không phủ định các tri thức, kĩ năng riêng
của từng phân môn. Vấn đề là làm sao phối hợp các tri thức kĩ năng từng phân môn
thật nhuần nhuyễn để đạt kết quả chung chứ không phải là một sự "cưỡng duyên" như
qua hình tượng Dế Mèn với biệt tài liên tưởng, dẫn dắt chuyện hết sức sinh động và
hấp dẫn của nhà văn.
Chúng ta vẫn còn nhớ, trong chương trình cải cách giáo dục năm 1985, tác phẩm
"Dế Mèn phiêu lưu kí" cũng đã được đưa vào trong chương trình Văn học lớp 6 - Tập
I, gồm 6 tiết với các đoạn trích: "Tôi sống độc từ thuở bé - một sự ngỗ nghịch đáng ân
hận suốt đời" (Trích chương I); "Tranh hùng với võ sỹ bọ ngựa - Chánh phó thủ lĩnh
tổng châu chấu - thề rằng sinh tử có nhau ..." (Trích chương VI); "Lại một chuyện rủi
ro với các bạn kiến - Sự tức giận của mấy cô bé học trò - Ai có công nhất" (Trích
chương IX). Với ba đoạn trích trên, chúng tôi thiết nghĩ rằng người chủ biên chương
trình muốn cho học trò biết được sự phát triển nhân cách của nhân vật Dế Mèn. Từ
một kẻ tự cao, tự đại, cho rằng trong thiên hạ không ai bằng mình cho nên đã gây nên
cái chết thương tâm cho Dế Choắt, từ đó mới rút ra bài học đường đời đầu tiên cho bản
thân. Đến việc "Tranh hùng với võ sỹ bọ ngựa" tính nết của Dế Mèn đã hoàn toàn thay
đổi: Qua cuộc đấu võ, Dế Mèn đã tỏ ra là một võ sỹ tài ba, có mưu lược và biết ứng
phó kịp thời nhưng rất khiêm tốn và không màng danh vọng ( mặc dầu khi đánh thắng
xứ này họ yêu cầu làm thủ lĩnh). Đến đoạn trích thứ 3 "Lại một chuyện rủi ro với các
bạn kiến - Sự tức giận của mấy cô bé học trò - Ai có công nhất" thì Dế Mèn không còn
là một gã dế hung hăng, thích gây gổ nữa mà nó đã thực sự đã trở thành môt chàng dế
khôn ngoan, lịch lãm. Như vậy, việc trích học này cũng mới chỉ nhằm cung cấp cho
học sinh hiểu về nội dung ý nghĩa văn chương chứ chưa quan tâm gì đến các vấn đề
khác liên quan. Điều này thể hiện rõ ràng trong quan điểm viết sách lúc bấy giờ là tách
riêng 3 phân môn: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn thành 3 quyển khác nhau với một
ranh giới khá rạch rời.
Năm 2002-2003 đến nay, thực hiện "Đổi mới phương pháp dạy học" theo quan
điểm tích hợp thì việc dạy học 3 phân môn trong từng bài học phải như một thể thống
nhất, làm sao kết hợp được thật tốt việc hình thành cho học sinh năng lực phân tích,
bình giá và cảm thụ Văn học với việc hình thành 4 kỹ năng: Nghe, Đọc, Viết, vốn là
hai quá trình gắn bó hữu cơ và hỗ trợ cho nhau hết sức đắc lực. Bởi vậy, trong mỗi bài
làm cho việc tiếp nhận văn bản không thống nhất và không đạt hiệu quả cao. Vì mỗi
văn bản trong chương trình được xem như một tác phẩm văn học, mà bản chất của văn
học là nghệ thuật ngôn từ - một thứ ngôn từ đa nghĩa, giàu tính hình tượng, giàu sác
thái biểu cảm. Bởi vậy, khi tìm hiểu về tác phẩm không thể không thông qua ngôn từ,
nhưng cái chính là giáo viên biết hướng học sinh chỉ ra được tính nghệ thuật, tính hiệu
quả của ngôn từ, của cách viết, cách nói trong tác phẩm chứ không giải mã nó một
cách khô cứng, máy móc. Chính vì vậy, sau khi đã tham khảo giáo viên phải tự đầu tư
suy nghĩ để lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp nhất, làm thế nào để học sinh
chiếm lĩnh được kiến thức một cách dễ dàng và hiệu quả nhất theo quan điểm dạy học
như trên đã nêu.
II- CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy, được dự giờ của các đồng nghiệp tôi nhận
thấy: dạy học theo quan điểm tích hợp có rất nhiều ưu thế. Trong giờ dạy văn những
kiến thức kỹ năng của 3 phân môn không còn bi coi như những mảng kiến thức độc
lập, tách rời mà đã được dạy trong mối liên hệ hỗ trợ lẫn nhau trong từng giờ dạy. Bởi
thế nó vừa tạo nên được tính tích cực trong hoạt động của học sinh, vừa hình thành rèn
luyện được cho các em kiến thức kỹ năng một cách toàn diện hơn. Thế nhưng trong
giảng dạy vẫn bộc lộ rõ một số nhược điểm đáng kể, đó là: sự hiểu biết, vận dụng
phương pháp theo hướng tích cực vào quá trình dạy học ở một số giáo viên còn tỏ ra
quá máy móc, thô cứng và làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện mục tiêu bài
học.
Không ít giáo viên cho rằng: một giờ học sử dụng được nhiều kiến thức của các
phân môn, sự tích hợp được thực hiện trên một diện rộng xem đó là phương pháp tốt.
Song họ quên rằng, sự tích hợp ấy đã thích hợp chưa, có tác dụng gì không?
Tôi xin nêu ra đây một số ví dụ từ thực tế mà giáo viên đã thể hiện khi dạy văn
bản "Bài học đường đời đầu tiên".
Ví dụ: Khi tìm hiểu về hình ảnh Dế Mèn ( Bức chân dung tự hoạ - Phần 1 của
văn bản). Sau khi học sinh phát hiện các chi tiết và nhận xét được nghệ thuật miêu tả
Qua thực tế trên, kết hợp với việc tìm tòi sách vở, nghiên cứu tài liệu, bản thân
tôi xin nêu lên một vài suy nghĩ - xem như là những định hướng tối thiểu cho việc việc
thực hiện phương pháp tích hợp trong khi dạy văn bản.
Trước hết là cần xác định được lượng kiến thức cần thiết ở từng phân môn trong
bài sao cho phù hợp với việc thực hiện phương pháp tích hợp.
Có thể trong văn bản, có nhiều kiến thức liên quan đến những bài Tiếng Việt,
Tập làp văn đã học hoặc sẽ học thì giáo viên cần lựa chọn những đơn vị kiến thức nào
để góp phần soi sáng cho vẻ đẹp của tác phẩm văn chương (văn bản) giúp học sinh mà
mở ra được hướng đi có hiệu quả trong việc khám phá giá trị tác phẩm. Như vậy qua
giờ dạy có thể củng cố kiến thức cũ cho học sinh, nhưng quan trọng hơn là rèn luyện
cho các em kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để xử lý một vấn đề mới trước mắt chứ
không phải chỉ là để học sinh nhắc lại kiến thức cũ một cách đơn thuần nhạt nhẽo.
Đồng thời việc tích hợp phải được thực hiện một cách nhuần nhuyễn, đúng lúc,
đúng chỗ.
Ở trên chúng ta đã nói chương trình SGK được xây dựng theo nguyên tắc tích
hợp nhưng không có nghĩa là phủ nhận đặc trưng riêng của từng phân môn. Nếu
chúng ta sử dụng phương pháp không đúng lúc đúng chỗ thì sẽ làm ảnh hưởng đến
quá trình tiếp nhận - khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn chương. Có nghĩa là làm mất
đi chất văn của văn bản, không đảm bảo được nét đặc trưng của phương pháp dạy văn.
Nhận thức rõ được những điều đó chính là điều kiện để dạy hiệu quả hơn đối với
văn bản "Bài học đường đời đầu tiên".
IV- ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI ĐỀ TÀI:
1- Đối tượng:
Là học sinh khối 6, đặc biệt là những lớp tôi đang trực tiêp giảng dạy năm học 2011
- 2012
2- Phạm vi nghiên cứu
Một số phát hiện mới về phương pháp dạy học tích cực đối với bài: "Bài học
đường đời đầu tiên"
Theo phân phối chương trình thì văn bản này được học trong 2 tiết:
Tiết 1: Dành cho giới thiệu bài, tìm hiểu chung và tìm hiểu phần I của văn bản.
Tiết 2: Các nội dung còn lại, có thể đọc thêm tại lớp một vài đoạn khác trong
truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký". Trong phần này, tôi xin nêu lên một số vấn đề có tính
chất bổ sung mà theo tôi là cần thiết trong khi dạy bài này.
1- Vấn đề giới thiệu tác giả, tác phẩm:
Do thời gian có hạn, chỉ được dạy trong 2 tiết mà đây là một tác phẩm lớn, nổi
tiếng của nhà văn Tô Hoài viết cho thiếu nhi, vậy giáo viên nên tạo điều kiện và
khuyến khích học sinh tìm đọc truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký" ở nhà, đến lớp cho học
sinh kể lại rồi giáo viên bổ sung trong phần giới thiệu chung về tác phẩm. Có như thế
học sinh mới nắm bắt được cả tác phẩm chứ không phải chỉ là đoạn trích này.
Trước khi vào bài giảng, cần dành 10 phút giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm.
Giáo viên dựa vào phần chú thích (*) của Sách giáo khoa . Cần lưu ý một số điểm:
- Truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký": Ghi lại những cuộc phiêu lưu của Dế Mèn (kí là
thể văn ghi chép, thuật lại những việc, câu chuyện đã xẩy ra). Trong tác phẩm, Tô
Hoài tưởng tượng ra lời của một con dế tự kể về mình, về những cuộc phiêu lưu và
những điều mắt thấy tai nghe, những sự việc đã xẩy ra trong những cuộc phiêu lưu ấy.
Làm như thế sẽ có nhiều cái lợi. Thứ nhất, nó tạo cho câu chuyện có vẻ khách quan và
tự nhiên hơn. Thứ hai, khi tự kể về mình dưới hình thức tự truyện, chú Dế Mèn cũng
có dịp giãi bày tường tận với bạn đọc những tâm sự sâu kín, những xúc cảm chân
thành trên đường đời và cả những nỗi ân hận mà chú đã phải trải qua.
- Truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký" viết về thế giới loài vật nhỏ bé ở đồng quê rất
sinh động, hóm hỉnh, đồng thời cũng gợi ra những hình ảnh của xã hội con người và
thể hiện những khát vọng đẹp đẽ của tuổi trẻ. Tô Hoài đã thành công khi dựng lên cả
một thế giới loài vật trong trắng, ngây thơ, ngộ nghĩnh, khao khát say mê lý tưởng rất
phù hợp với tâm lý của tuổi thơ. Chính vì vậy, nó đã trở thành tác phẩm nổi tiếng nhất
của Tô Hoài viết về loài vật dành cho thiếu nhi. Cho nên tác phẩm của ông đã được
dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới (Nga, Pháp, Đức, Ba Lan, Nhật Bản....)
- Văn bản "Bài học đường đời đầu tiên" được trích từ chương I của tác phẩm gồm
hai đoạn chính:
Tác giả rất tài tình khi sử dụng nghệ thuật nhân hoá. Tô Hoài đã để cho Dế Mèn tự
hoạ về chân dung của mình vô cùng sống động. Loài vật ở đây cũng biết nói năng, suy
nghĩ, cũng có tình cảm, tâm lý và các quan hệ như ở con người. Nhưng chúng không
bị biến thành những biểu tượng thuần tuý nhằm nêu lên những bài học luân lý, đạo
đức như trong truyện ngụ ngôn mà vẫn là hình tượng sinh động, đúng với hình ảnh
của loài vật trong thế giới tự nhiên. Mỗi lời đối thoại của Dế Mèn cùng Dế Choắt và
các loài khác trong tác phẩm chẳng khác nào những lời đối thoại của thế giới loài
người. Những giây phút kiêu căng, những hành động thiếu suy nghĩ, những giọt nước
mắt muộn màng và những suy tư, ăn năn hối hận.... tạo nên sự sinh động trong tính
cách Dế Mèn, nó chẳng khác gì tính cách của một con người.
4- Nghệ thuật miêu tả loài vật: (Tích hợp với phần Tập làm văn)
Sản phẩm của những trang viết miêu tả thành công là phải làm cho người đọc
hình dung rõ mồn một trước mắt mình về cảnh vật, con người.... được miêu tả. Lấy
chuẩn đó để đo và kết luận thì không ai dám nghi ngờ về tài năng của Tô Hoài trong
"Dế Mèn phiêu lưu ký". Nhờ óc quan sát tinh tế, tỷ mỷ, trí tưởng tượng phong phú và
nghệ thật miêu tả bậc thầy, đoạn văn miêu tả (chàng dế thanh niên cường tráng) có thể
xem là đoạn văn mẫu mực về tả loài vật mà Tô Hoài đem đến cho người đọc. Nhà văn
Tô Hoài đã dựng lên trước mắt chúng ta bức chân dung Dế Mèn hấp dẫn đến từng chi
tiết: Đôi càng mẫm bóng, những cái vuốt, ở khoeo cứng dần và nhọn hoắt; đầu to và
nổi từng tảng, rất bướng; sợi râu dài uốn cong rất đỗi hùng dũng.....Đặc biệt khi tác giả
miêu tả sự hoạt động của những bộ phận trên cơ thể chàng dế: mỗi khi tôi vũ lên đã
nghe tiếng phành phạch giòn giã; lúc đi bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu
bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. "Ta thấy Dế Mèn như một đô vật thể hình
đang biểu diễn các động tác gân bắp của mình trước khán giả với một vẻ kiêu hãnh
ngầm tự hào" - (Chu Huy - Bình giảng tác phẩm Văn học 6). Cùng với sự phát triển về
thể chất, vẻ kiêu kỳ ngầm ấy cho ta thấy một sự thay đổi về tính cách: Dế Mèn đã trở
thành một võ sỹ "đi đứng oai vệ; tợn lắm; dám cà khịa với tất cả bà con trong xóm".
Và khi thấy ai cũng phải nhịn, Dế Mèn cho mình là giỏi nhất rồi. Ngông cuồng hơn,
- Rèn luyện được kỹ năng đọc, kể : lời đối thoại phù hợp với tính cách các nhân vật,
tả loài vật.
B- Tiến trình tổ chức các hoạt động:
Hoạt động 1: Ổn định tổ chức lớp.
Hoạt động 2: Kiểm tra vở soạn của học sinh.
(Đây là tiết học đầu tiên của chương trình học kỳ II nên giáo viên chỉ kiểm tra vở
soạn của học sinh để nắm được tình hình chuẩn bị của các em ở nhà như thế nào, cách
soạn, cách làm đã đúng với yêu cầu chưa. Từ đó, kịp thời nhắc nhở, uốn nắn tạo kỹ
năng thành thạo cho việc soạn bài ở nhà).
Hoạt động 3:
Bài mới
Tiêt 1:
Giới thiệu bài mới: Cho học sinh xem chân dung Tô Hoài, xem cuốn truyện "Dế
Mèn phiêu lưu ký" và giới thiệu nội dung bài học:
Trên thế giới và ở nước ta có những nhà văn nổi tiếng gắn bó cả đời viết của mình
cho đề tài trẻ em - một trong những đề tài khó khăn và thú vị bậc nhất. Tô Hoài là một
tác giả như thế. Truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký" là một truyện đã và đang được được
nhiều người hâm mộ với nhiều lứa tuổi khác nhau - đặc biệt là lứa tuổi thiếu niên
chúng ta. Nhưng Dế Mèn là ai? Chân dung và tính nết như thế nào? Bài học cuộc đời
đầu tiên mà anh ta nếm trải ra sao? Đó chính là nội dung bài học đầu tiên của học kỳ
II này.
Hệ thống câu hỏi định
Định hướng cho hoạt động học
hướng cho hoạt động dạy học
1- Vài nét về tác giả, tác phẩm:
- Học sinh đọc phần chú thích a- Tác giả:
* GV giải thích tên của tác phẩm
- Tác phẩm được dịch ra nhiều thứ
"Dế Mèn phiêu lưu ký": Ghi lại
tiếng trên thế giới.
những cuộc phiêu lưu của Dế Mèn.
(Ký là thể văn ghi chép, thuật lại - Gồm mười chương, kể về những cuộc
những sự việc, câu chuyện đã xẩy phiêu lưu đầy sóng gió và đầy lý thú
ra). Trong tác phẩm, Tô Hoài đã của chàng Dế Mèn.
tưởng tượng ra lời của một con dế tự
kể về mình và những cuộc phiêu lưu,
những điều mắt thấy tai nghe những
sự việc đã trải qua trong các cuộc
phiêu lưu ấy.
H: Nêu vị trí của đoạn trích "Bài học c- Vị trí của đoạn trích:
đường đời đầu tiên"
Trích từ chương I của tác phẩm. Ở
chương này Dế Mèn tự giới thiệu về
mình, đặc biệt kể về một câu chuyện
đáng ân hận - một bài học đường đời
đầu tiên của mình.
2- Đọc - Tìm hiểu chung:
a- Đọc: GV nêu hướng dẫn đọc: Đoạn
Dế Mèn tự tả về chân dung đọc: to,
vang, giọng tự hào, kiêu hãnh, chú ý
đến những tính từ, động từ miêu tả.
Đoạn trêu chị Cốc:đọc giọng trịch
thượng của Dế Mèn; giọng Dế Choắt
- GV đọc mẫu 1 đoạn.
trẻ thơ nói riêng và người Việt Nam nói
chung. Đây là một trong những yếu tố
tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm.
Hỏi: Trong đoạn trích có một số d- Phƣơng thức biểu đạt, ngôi kể:
thành ngữ. Theo em đó là những * Phương thức biểu đạt: Miêu tả, tự sự,
thành ngữ nào?
biểu cảm.
Hỏi: Việc sử dụng một số thành ngữ
và một số quán ngữ (chết ngay đuôi,
nói thẳng thừng, không dám ho he, * Ngôi kể: Ngôi thứ nhất. Dế Mèn tự
bắt chân chữ ngũ...) tạo nên cho em xưng "tôi".
- Cách kể như vậy tạo nên sự thân
những ấn tượng gì?
mật, gần gũi đáng tin cậy đối với
người đọc.
e- Bố cục: 2 phần.
* Từ đầu --> đứng đầu thiên hạ rồi:
Chân dung của Dế Mèn.
* Còn lại: Kể về bài học đường đời đầu
tiên của Dế Mèn.
Hỏi: Văn bản được viết theo phương 3- Tìm hiểu chi tiết:
thức biểu đạt nào?
a- Bức chân dung tự hoạ của Dế
Hỏi: Đoạn trích được kể bằng lời Mèn.
nhân vật nào? Cách lựa chọn ngôi kể
như vậy có tác dụng gì?
* Hình dáng:
- [...] Tôi đã trở thành một chàng dế
Hỏi: Đoạn trích có thể phân thành thanh niên cường tráng .`
mấy đoạn? Ý mỗi đoạn?
- Đi đứng oai vệ [...] mỗi bước đi, tôi
làm điệu dún dẩy [...] cho ra kiểu nhà
võ.
--> Từ ngữ chọn lọc tiêu biểu đặc sắc,
dùng nhiều tính từ, động từ gợi tả, gợi
hình ; sử dụng biện pháp nghệ thuật
H: Khi miêu tả về hình dáng của Dế nhân hoá, so sánh độc đáo, sinh động.
Mèn, tác giả đã tập trung miêu tả bộ
-->Dế Mèn là một chàng Dế đẹp đẽ,
phận nào trước triên? Vì sao?
khoẻ khỏe mạnh, hùng dũng cường
tráng tràn đầy sức sống, tự tin yêu đời
và rất hấp dẫn.
*Với mọi người trong xóm:
- Dám cà khịa tất cả bà con trong xóm
- Quát mấy chị Cào Cào...
- Đá ghẹo anh Gọng Vó...
--> Qua cách cư xử ấy Dế Mèn đã bộc
H: Và những chi tiết nào miêu tả về lộ tính cách của mình, đó là: hung
hăng, hống hách, coi thường mọi
hành động của Dế Mèn?
người, cậy mình có sức mạnh đã bắt
nạt kẻ yếu.
--> Vì Dế mèn mới lớn, sống trong một
thế giới nhỏ bé, xung quanh toàn là
những người hiền lành, quen thuộc nên
lầm tưởng sự ngông nghênh của mình
là tài ba, giỏi giang.
xem thường mọi người.
H: Vì sao Dế Mèn lại có thái độ đó?
- Định hướng thảo luận: Hiểu để tự tin
vào sức mạnh của mình là phẩm chất
tốt nhưng quá kiêu ngạo về sức mạnh
đó và dùng nó làm vũ khí (cà khịa, bắt
nạt, quát mắng...) là đáng ghét, đáng
lên án. Bởi đó là thái độ hung hăng, tự
cao, tự đại, không khiêm tốn.
* Luyện tập,củng cố (Hết tiết 1)
- Quan sát tỷ mỷ, tinh tế , miêu tả theo
H: Qua đó, em có nhận xét gì về nghệ trình tự nhất định ( từ bên ngoài -->
thuật miêu tả của nhà văn Tô Hoài?
bên trong; từ khái quát --> cụ thể; đồng
thời cũng không máy móc mà biết chọn
những chi tiết tiêu biểu quan trọng để
miêu tả trước nhằm làm nổi bật nét đặc
sắc của nhân vật).
- Miêu tả ngoại hình để bộc lộ tính nết
và thái độ của nhân vật, chọn lọc từ ngữ
đặc sắc kết hợp với các biện pháp tu từ
làm cho nhân vật hiện lên sinh động,
hấp dẫn..
- Vì thế, Tô Hoài đã cho chúng ta thấy
một bức chân dung tự hoạ của Dế Mèn
vô cùng sống động và độc đáo.
- [...] gầy gò và dài lêu nghêu như một
gã thuóc phiện.
-[...] cánh ngắn hủn hoẳn đến giữa
lưng hở cả mạng sườn như người cởi
trần mặc áo gi-lê
- Đôi càng bè bè, nặng nề ...
- Râu ria gì mà cụt có một mẩu và mặt
mũi thì lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ
ngơ
--> Cách kể rất ấn tượng, với khả năng
H: Bài học ấy liên quan trực tiếp đến quan sát tỷ mỷ kết hợp với việc sử
người bạn hàng xóm Dế Choắt. Qua dụng các thành ngữ gần gũi quen thuộc
lời kể của Mèn cho ta biết những gì về giàu sức gợi cảm, gợi tả như: ăn xổi ở
thì, tắt lửa tối đèn, hôi như cú mèo... và
Dế Choắt?
biện nghệ thuật so sánh tài tình tác giả
đã vẽ lên một hình ảnh Dế Choắt hoàn
toàn đối lập với Dế Mèn, đó là một
chú Dế gầy gò, ốm yếu, bệnh tật, xấu
xí .
--> Dế Mèn coi thường Dế Choắt: việc
đặt tên cho anh bạn hàng xóm là
"Choắt" còn tả Choắt rất xấu (gầy gò,
dài lêu nghêu.....) thể hiện cách nhìn
chê bai, diễu cợt. Choắt bằng tuổi Dế
Mèn mà gọi Choắt là "Chú mày", cách
xưng hô ấy tỏ vẻ ngông nghênh, tự
* Dế Mèn trêu chị Cốc:
- Trước khi trêu:
+ "Sợ gì? Mày bảo tao sợ cái gì? Mày
còn tao biết sợ hơn tao nữa! Gương
mắt ra mà xem tao trêu con mụ Cốc
đây này!"
--> Thái độ tự cao, tự đại. không coi ai
ra gì, huyênh hoang trước dế Choắt,
- Trong quá trình trêu:
+ Tôi cấtt giọng véo von [...]
+ [...] Tôi chui tọt ngay vào hang [...]
Bụng nghĩ thú vị [...]
- Khi chị Cốc trừng phạt Dế Choắt:
+ [...] Núp tận đáy mà tôi cũng khiếp,
nằm im thin thít.[...] Biết chị Cốc đi
rồi, tôi mới mon men bò lên.
- Kết cục của việc trêu đùa:
+ Choắt không dậy được nữa, nằm thoi
thóp.
+ Thế rồi Choắt tắt thở. Tôi thương
lắm. Vừa thương vừa ăn năn tội của
mình [...] Tôi đứng lặng giờ lâu, nghĩ
về bài học đường đời đầu tiên.
--> Diễn biến tâm lý và thái độ của Dế
Mèn được thể hiện qua các sự việc, các
hành động và ngôn ngữ của nhân vật.
Lúc đầu Mèn còn hênh hoang trước Dế
Choắt, sau đó chui tọt vào hang yên
"Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ,
có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn
rồi cũng mang vạ vào mình đấy."
==> Bài hoc về:
- Thói kiêu căng: kẻ kiêu căng, tự phụ
có thể làm hại người khác khiến phải
ân hận suốt đời.
- Tình thân ái: Nên sống đoàn kết,
nhân ái, mình vì mọi người. Đặc biệt là
phải yêu thương giúp đỡ những người
khó khăn, hoạn nạn.
GV: Bài học của Dế Mèn cũng là bài
học bổ ích đối với lớp trẻ chúng ta..
Nhà văn Tô Hoài đã cài vào trong
câu chuyện về bài học nhân sinh và
đạo lý nhưng không khô khan, trừu
tượng mà rất sâu sắc và thấm thía.
H: Hãy thuật lại và nhận xét diễn biến
và tâm trạng của Dế Mèn trong đoạn
kể về việc Dế Mèn trêu chị Cốc?
H: Trước khi trêu chị Cốc, Mèn đã nói
gì?
4-Tổng kết - Ghi nhớ: