Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học địa lý 9 - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:


“MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG DẠY- HỌC ĐỊA Lí LỚP 9"


A. PHẦN MỞ ĐẦU

Như chúng ta đã biết giáo dục được coi là lĩnh vực quan trọng. Nó luôn đi trước
sự phát triển của Đất nước, nên vấn đề chất lượng giáo dục hiện nay đã trở thành mối
quan tâm hàng đầu của xã hội. Vì vậy để nâng cao chất lượng giáo dục đòi hỏi Giáo viên
phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực sư phạm, có sự đổi mới trong
phương pháp giảng dạy, có như vậy thì sản phẩm của quá trình dạy học mới đạt kết quả
cao.

Trong thời qua, việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa đòi hỏi phải có sự
đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học... với sách giáo khoa mới, trong quá trình
dạy học giáo viên phải biết lựa chọn các hình thức để tổ chức, hướng dẫn học sinh theo


nội dung của từng bài, còn học sinh phải nổ lực tìm tòi kiến thức dưới sự hướng dẫn của
giáo viên trong quá trình học tập của mình.

Với mục tiêu cần đạt được trong quá trình dạy học là hình thành cho học sinh
phương pháp học tập để chiếm lĩnh tri thức và tạo cho bản thân một phương pháp học tập
phù hợp để nắm vững kiến thức, xử lý những thông tin thu thập trong quá trình học tập.
Muốn vậy, Giáo viên tích cực chủ động trong việc đổi mới phương pháp và đa dạng hóa
các hình thức dạy học để giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức một cách hiệu quả nhất.

Bản thân tôi là tổ trưởng, nhiều năm đảm nhận giảng dạy môn Địa lý lớp 9, qua
quá trình giảng dạy trên lớp, tìm hiểu và trao đổi với một số đồng nghiệp, nên tôi đã rút ra
những ưu điểm, nhược điểm của việc giảng dạy môn Địa lý ở trường THCS Vĩnh Thịnh
như sau:

* Ưu điểm:

Giáo viên:

- Giáo viên nắm được phương pháp dạy học đặc trưng đối với môn Địa lý. Trong
quá trình dạy đã biết lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung này, kết hợp tốt các


phương pháp trong các hoạt động dạy học, tổ chức tốt hoạt động của thầy và hoạt động
của trò.

- Đảm bảo kiến thức chính xác theo chuẩn kiến thức và kỹ năng, đảm bảo tính hệ
thống giúp học sinh dễ học và dễ hiểu.

- Sử dụng phương pháp và kết hợp các phương tiện dạy học hiện có phù hợp với
nội dung từng bài.

- Tổ chức nhiều hình thức học tập thích hợp, điều khiển học sinh học tập tích cực
và chủ động. Chú ý đến từng đối tượng học sinh, kèm cặp, giúp đỡ cho học sinh còn yếu,
tiếp thu bài còn chậm.

Học sinh:

- Phần lớn học sinh đã nhìn nhận về bộ môn Địa lý không phải là môn học phụ,
nên đã dầu tư thời gian và tài liệu (sách giáo khoa, vở bài tập, tập bản đồ, átlát, câu hỏi

qua.

2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY VÀ
HỌC MÔN ĐỊA LÝ LỚP 9 Ở TRƢỜNG THCS VĨNH THỊNH

2.1. Đổi mới cách soạn bài:

- Giáo án được xem là bản kế hoạch dạy học của giáo viên.Vì vậy trong giáo án
phải chú trọng thiết kế các hoạt động học tập của học sinh, tăng cường tổ chức các hoạt
động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ, chuẩn bị phiếu học tập. Tăng cường giao tiếp giữa
thầy và trò, huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm của từng học sinh....


- Phải lựa chọn nội dung thích hợp: Những nội dung phải đảm bảo tính khoa học,
tính thực tiễn, tính giáo dục, tính phổ thông của chương trình. Tuy nhiên, khối lượng tri
thức nhiều nhưng thời gian lại có hạn (45 phút), nên những yêu cầu phải đảm bảo tính
khoa học, tính chính xác là cần thiết, bên cạnh đó cũng phải đảm bảo tính vừa sức với
học sinh.

- Hệ thống câu hỏi đặt ra phải có tính kích thích sự tò mò, ham hiểu biết, có nhiều ý
nghĩa về thực tế, đặt ra vấn đề học tập dưới dạng mâu thuẫn giữa các học sinh đã biết và
học sinh chưa biết.

*Ví dụ:

Bài 1: Cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Cần nêu câu hỏi kích thích sự tò mò của học sinh như: Những nét văn hóa riêng của
các dân tộc được thể hiện như thế nào. Cho ví dụ? Em thuộc dân tộc nào? Địa bàn cư trú
ở đâu? Nét văn hóa tiêu biểu của dân tộc em là gì? Sự phân bố các dân tộc Việt Nam như


+ Nêu vấn đề, gợi ý học sinh cách giải quyết. GV và HS cùng đánh giá kết quả làm việc.
+ GV cung cấp thông tin , tạo tình huống. HS phát hiện vấn đề nảy sinh cần giải quyết,
tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn phương pháp giải quyết. GV và HS cùng đánh giá.
+ GV đưa tình huống thực để học sinh tự phát hiện vấn đề, lựa chọn vấn đề cần giải
quyết, tự lập kế hoạch và tìm các phương pháp giải quyết, tự đánh giá chất lượng và hiệu
quả giải quyết vấn đề.

* Ví dụ


Bài:Phân

bố

dân





các

loại

hình

quần

cư.

* Ví dụ:

Bài 3: Phân bố dân cƣ và các loại hình quần cƣ

Dựa vào kênh chữ SGk, quan sát Hình 3.1/SGK, thời gian 5 phút theo yêu cầu sau;


?Hãy cho biết dân cư tập trung đông đúc ở những vùng nào? Thưa thớt ở những
vùng nào? Vì sao ?- Học sinh dựa vào H3.1/SGK, trao đổi , thảo luận và đưa ra các ý
kiến của nhóm mình...

+ Sau khi các nhóm trình bày ý kiến, Giáo viên gọi các nhóm khác nhận xét, bổ sung.

+ Giao viên chuẩn kiến thức: những vùng dân cư đông đúc là đồng bằng và ven biển
Những vùng dân cư thưa thớt là ở vùng núi và Tây Nguyên.... rút ra kiến thức cần nhớ
của phần thảo luận. Giáo viên đánh giá cho điểm từng nhóm hoặc Học sinh tự đánh giá
cho điểm các nhóm dưới sự dẫn dắt của Giáo viên.

Sau phần thảo luận Giáo viên có thể đưa thêm câu hỏi khó để HS suy nghĩ trả lời
nhằm khuyến khích các em tập trung, mở rộng kiến thức cho HS: Sự phân bố dân cư
không đồng đều có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội như như thế nào? Học
sinh trả lời, nhận xét, bổ sung. Giáo viên có thể mở rộng và chốt kiến thức.

2.4. Tổ chức lông ghép nội dung thành trò chơi.

* Xếp hình và ghép tên:


Ví dụ:Bài 19: Thực hành: Đọc bản đồ, phân tích và đánh giá ảnh hưởng của tài nguyên
khoáng sản đối với phát triển công nghiệp ở Trung du miền núi phía Bắc.

việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ để lĩnh hội kiến thức là rất quan trọng bởi nó giúp
học sinh ghi nhớ những kiến thức nhanh chóng và lâu bền. Nên nhất thiết trong giảng dạy
địa lý không thể không dùng bản đồ trong việc hình thành kiến thức cho học sinh.

Ví dụ:


Khi dạy bài 17: Vùng Trung du và miền núi Bắc bộ, giáo viên không sử dụng
bản đồ thì học sinh không thể nắm được đặc điểm vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ của
vùng, không biết hình dạng của lãnh thổ đó như thế nào, tiếp giáp với những quốc gia,
khu vực nào...

Khi dạy bài 23: Vùng Bắc Trung Bộ, giáo viên sử dụng bản đồ thì học sinh có
thể nắm được đặc điểm vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ của vùng (phía bắc giáp Vùng
Trung du và miền núi Bắc bộ, Đồng bằng sông Hồng, phía nam giáp Duyên hải Nam
Trung Bộ, phía tây giáp Lào, phía đông giáp Biển Đông), biết lãnh thổ kéo dài từ dãy
Tam Điệp ở phía bắc tới dãy Bạch Mã ở phía Nam, lãnh thổ hẹp chiều ngang. Ngoài ra
học sinh còn nắm được địa hình của vùng từ Tây sang Đông đều có núi, gò đồi, đồng
bằng, biển và hải đảo.

-Tuy nhiên, chúng ta không nên sử dụng quá nhiều bản đố cho một tiết dạy, phải
lựa chọn bản đồ nào phù hợp nhất, sử dụng trong những thời điểm thích hợp nhất mới đạt
được hiệu quả cao.


III. KẾT QUẢ:

Qua thời gian áp dụng các giải pháp trên, bước đầu học sinh thực sự quen với
cách học mới, chủ động hơn trong việc tự mình khám phá, xây dựng và chiếm lĩnh tri
thức và không còn coi môn Địa lý là môn học không cần trí tuệ như trước đây nữa.


Trung bình

37,1%

34,9%

Yếu

9,0%

3,0%

IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM :

Qua thực tiễn dạy học trong thời gian qua và bằng việc áp dụng các giải pháp để
nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lý lớp 9 nói riêng, tôi đã rút ra được một số bài
học cơ bản:

- Mỗi giáo viên phải thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng, rèn luyện để không ngừng
nâng cao về kiến thức, kĩ năng dạy học địa lý cơ bản .

- Có sự trao đổi, thảo luận với đồng nghiệp để đưa ra những phương pháp phù hợp
với từng bài học, từng đối tượng học sinh .


- Cần có sự đổi mới trong cách soạn bài, tăng cường hoạt động của học sinh để có sự
giúp đỡ học sinh yếu kém tham gia đóng góp ý kiến .

- Đa số học sinh đã có niềm tin đối với môn học, có sự đầu tư về sách vở và thời gian


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status