skkn một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn biểu cảm ở trung học cơ sở” - Pdf 25

Phòng giáo dục đào tạo huyện ý yên
Trờng thcs yên phơng
Sáng kiến dự thi cấp huyện
Báo cáo sáng kiến
một số giải pháp nâng cao chất lợng dạy và
học văn biểu cảm ở trung học cơ sở
Tác giả: Đặng Thị Nhài
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Văn - Địa
Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trờng THCS Yên Phơng
ý Yên, tháng 11 năm 2011
Thông tin chung về sáng kiến
1.Tên sáng kiến:
Một số giải pháp nâng cao chất l ợng dạy và
học văn biểu cảm ở THCS
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Trong dạy và học văn Trờng
THCS Yên Phơng
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ năm học 2007 2008 đến
nay
4. Tác giả
Họ và tên: Đặng Thị Nhài
Năm sinh: 1981
Nơi thờng trú: Yên Chính -
ý
Yên - Nam Định
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Văn - Địa
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trờng THCS Yên Phơng
Địa chỉ liên hệ: Trờng THCS Yên Phơng -
ý
Yên - Nam Định

làm gì để nâng cao chất lợng dạy và học văn biểu cảm cho học sinh THCS nhất là các em
lớp 7. Đó là những vấn đề tôi trăn trở, day dứt, muốn cùng đợc chia sẻ với các đồng
nghiệp trong sáng kiến kinh nghiệm này.
II - Thực trạng.
1 - Cơ sở lí luận.
Văn biểu cảm là loại văn thể hiện nội tâm, tâm trạng của ngời viết. Ngồi trớc trang
giấy trắng, nếu tâm hồn trống rỗng không cảm xúc, đầu óc mông lung, không rõ ý nghĩ
thì ngời viết không thể có đợc một bài văn biểu cảm có hồn. Lúc đó, bài văn hoặc khô
khan nhạt nhẽo, ngắn ngủi hoặc giả tạo vay mợn ý. Ngời giáo viên khi dạy văn THCS nói
chung, văn biểu cảm nói riêng, ngoài nắm kiến thức, phơng pháp lên lớp còn cần có một
trái tim, một tâm hồn sống cùng tác giả, tác phẩm.
Để dạy và học tốt văn biểu cảm ở THCS, ngời dạy và ngời học cần nắm vững đặc điểm
và yêu cầu của văn biểu cảm. Loại văn bản này trớc đây đã có học dới nhan đề là "Tập
phát biểu cảm nghĩ" đối với tác phẩn văn học (lớp 6) và "phát biểu cảm nghĩ nhân vật văn
học" (lớp 7). Các kiểu bài đó đã thu hẹp phạm vi phát biểu cảm nghĩ vào văn học, một
phạm vi quá hẹp, tách rời mọi lĩnh vực khác của đời sống. Bài văn biểu cảm trong chơng
trình này đã khắc phục những khuynh hớng trên và đã đặt lại vấn đề. Phạm vi biểu cảm
rộng hơn cảm nghĩ. Cảm nghĩ chỉ là một dạng của văn biểu cảm, đó là biểu cảm kết hợp
với nghị luận. Còn biểu cảm là một lĩnh vực rộng lớn, tuy không tách rời với suy nghĩ,
nhng gắn với toàn bộ đời sống tình cảm, cảm xúc, sự đánh giá và nhu cầu biểu cảm của
con ngời: từ cảm xúc đối với ngời thân trong gia đình đến cảm xúc đối với bạn bè, thầy
cô; từ tình cảm đồ vật, phong cảnh làng quê đến tình yêu tổ quốc; từ tình cảm đối với các
giá trị đạo đức đến văn học nghệ thuật Học loại văn bản này, học sinh có dịp trau dồi kỹ
năng biểu đạt mọi cảm xúc, tình cảm trong cuộc sống.
2 - Cơ sở thực tiễn.
Qua những năm giảng dạy chơng trình ngữ văn 7, tôi nhận thấy kỹ năng nhận diện các
phơng thức biểu đạt trong văn bản, kỹ năng viết, bộc lộ cảm xúc trong bài tập làm văn
của một bộ phận học sinh còn yếu.
Khi viết bài tập làm văn số 2 với đề bài "Loài cây em yêu" dù mới học và hình thành
kỹ năng tạo lập văn bản xong nhng học sinh không phân biệt đợc văn miêu tả và văn biểu

lớp 7, tôi mạnh dạn đa ra đề tài nghiên cứu "Một số giải pháp nâng cao chất lợng dạy và
học văn biểu cảm THCS", tôi hi vọng rằng sẽ giúp giáo viên và học sinh khắc phục phần
nào những khó khăn trong dạy và học phân môn Tập làm văn.
3 - Phạm vi nghiên cứu.
Phân môn Tập làm văn là một phân môn quan trọng trong bộ môn ngữ văn trong nhà
trờng ở các bậc học. Mục tiêu cụ thể của môn học, ở phần kiến thức là: Nắm đợc những
tri thứcvà các kiểu văn bản thờng dùng: văn bản tự sự, văn bản miêu tả, vă bản biểu cảm,
văn bản thuyết minh, văn bản điều hành; nắm đợc những tri thức thuộc cách thức lĩnh hội
và tạo các kiểu văn bản đó. Phần kĩ năng trong mục tiêu môn học cũng đợc quy định rõ:
Có kĩ năng nói và viết Tiếng Việt, đúng chính tả, đúng từ ngữ, đúng cú pháp biết cách sử
dụng các thao tác cần thiết để tạo lập các kiểu văn bản đợc học. Biết vận dụng các kiểu
văn bản đợc học phục cho việc học tập ở nhà trờng, và phục đời sống gia đình xã hội.
Với những mục tiêu cụ thể về kiến thức và kĩ năng nh thế, trong sáng kiến kinh
nghiệm này tôi chỉ đề cập đến một kiểu văn bản biểu cảm trong trơng trình nữ văn lớp 7
với các nội dung sau:
- Tìm hiểu chung về văn biểu cảm.
- Đặc điểm của văn biểu cảm.
- Đề văn biểu cảm và cách làm bài văn biểu cảm.
- Cách lập ý của bài văn biểu cảm.
- Các yếu tố tự sự miêu, tả trong văn biểu cảm.
- Cách làm một bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học.
4 - Phơng pháp nghiên cứu.
a - Đối với ngời dạy:
Đa số giáo viên tận tụy với công tác giảng dạy, chăm lo quan tâm đến học sinh nhng
vẫn còn mặt hạn chế sau:
- Phơng pháp giảng dạy cha thực sự phù hợp với một bộ phận không nhỏ học sinh yếu
kém dẫn đến chất lợng cha cao.
- Do điều kiện khách quan, nên việc sử dụng đồ dùng dạy học phơng pháp trực quan
vào tiết học hạn chế, ảnh hởng đến chất lợng tiếp thu baì của học sinh.
- Một số giáo viên cha thực sự tâm huyết với nghề, cha khơi gợi đợc mạch nguồn cảm

sau:
- Em định phát biểu cảm nghĩ, tình cảm mong muốn về đồ vật(con vật, loài cây) nào?
Về ngời nào? Về tác phẩm nào?
- Em viết bài biểu cảm đó nhằm mục đích gì? (giãi bày cảm xúc, tình cảm nào?)
- Em viết bài biểu cảm đó để ai đọc? (cô giáo, thầy giáo, bạn bè, bố mẹ?)
Lời giải đáp cho ba câu hỏi trên sẽ quyết định nội dung bài viết (trình bày cảm xúc
gì?) giọng điệu bài viết(viết cho bạn bè giọng văn thân mật có thể suồng sã, còn viết cho
thầy cô, bố mẹ phải thân thiết nhng nghiêm trang)
* Tìm ý.
Phát biểu cảm nghĩ vốn là một kiểu bài lệ thuộc vào cảm hứng, cảm xúc của ngời viết
chứ không có khuôn sẵn nên rất khó tìm ý. Vậy nên muốn tìm ý cho bài văn biểu cảm thì
phải hình dung cụ thể đối tợng biểu cảm (cảnh vật, sự việc, con ngời) trong thời gian và
không gian. Phải biết lắng nghe lòng mình khi giao hoà cùng đối tợng, để từ đó nói lên
cảm xúc, ý nghĩ của chính mình.
Thông thờng thao tác tìm ý truyền thống và rất có hiệu quả là cách đặt câu hỏi và trả
lời câu hỏi mà mình đặt ra. Trong kiểu bài này, giáo viên nên đa ra hệ thống câu hỏi tập
trung quanh các dạng sau:
- Tình cảm, cảm xúc, ấn tợng, suy nghĩ sâu sắc nhất của em về đối tôựng là gì?
- Những đặc điểm, tính chất gì của đối tợng tác động nhiều nhất tới cảm xúc, suy nghĩ
của em?
- Đối tợng làm em nghĩ đến, liên tởng đến những gì?
- Em có kỉ niệm gắn bó sâu sắc gì với đối tợng ?
- Đối tợng có ý nghĩ nh thế nào trong đời sống của em?
Đối với văn biểu cảm về tác phẩm văn học, cảm xúc và suy nghĩ về tác phẩm văn học
đợc nảy sinh từ bản thân tác phẩm. Tìm ý trong trờng hợp này chính là đọc kĩ, đọc đi đọc
lại nhiều lần tác phẩm, ngẫm nghĩ, tìm ra vẻ đẹp, tìm ra triết lí của nội dung, tìm ra cái
mới, cái độc đáo của yếu tố hình thức nghệ thuật.
a2.2 - Lập dàn ý.
Bài văn biểu cảm cũng có kết cấu ba phần (Mở bài, Thân bài,Kết bài) nh các kiểu văn
bản khác. Phần mở bài nhằm giới thiệu đối tợng và cảm xúc chính về đối tợng. Phần thân

+ Mong mình lớn nhanh đẻ có thể giúp mẹ, đỡ đần cho mẹ.
c - Kết bài:
- Mẹ là ngời tuyệt vời nhất, em yêu mẹ nhất trên đời.
a2.3 - Viết bài.
Viết bài văn biểu cảm là việc viết các đoạn văn và nối chúng với nhau, tạo thành chỉnh
thể thống nhất. Khi viết bài, cần thực hành thành thạo kỹ năng hành văn, đặt câu, sử dụng
từ, chọn giọng điệu, cách bộc lộ cảm xúc phù hợp. Khi viết bài kết nối các đoạn trong bài
văn biểu cảm cần chú ý đến lô gíc phát triển của cảm xúc, của tình cảm. Theo lôgíc này,
mỗi đoạn trong bài đều phải hớng vào làm nổi rõ lên cảm xúc chính, tình cảm chính.
a2.4 - Sửa bài.
Đa số học sinh khi làm bài không biết cách phân phối thời gian hợp lý nên viết xong
là nộp bài luôn, thậm chí hết thời gian nhng vẫn cha làm xong bài. Do đó, khâu tự sửa
chữa bài sau khi viết không đợc coi trọng. Giáo viên cần nhắc nhở các em chú trọng hơn
đến việc sửa bài trớc khi nộp.
a3 - Để dạy tốt văn biểu cảm, giáo viên nên chú ý trớc tiên đến viẹc đổi mới cách ra
đề. Từ đề tài chung cho cả lớp (có tính định hớng chung) phải thực hiện quá trình cá thể
hoá đề bài (quá trình hớng dẫn học sinh đi từ đề tài chung cho cả lớp đến việc xác định đề
bài riêng, đề bài cụ thể phù hợp với vốn sống, với tình cảm, cảm xúc riêng của mỗi học
sinh). Một lý luận s phạm tôi đã rút ra đợc trong quá trình giảng dạy, đó là: giáo viên
không đợc bắt học sinh viết bài văn biểu cảm về đề tài các em cha đợc sống, cha có hiểu
biết, có cảm xúc nếu giáo viên đó muốn học sinh làm tốt yêu cầu mình đa ra
a4 - Khi chấm bài làm văn biểu cảm của học sinh, giáo viên nên coi trọng tính cá biệt,
sự độc đáo trong suy nghĩ, dung động có trong nội dung hơn là độ dài của bài. Nếu bài
văn biểu cảm của các em chỉ cầm có một hai cảm nhận hoặc mộy hai nội dung có sắc
thái tình cảm riêng, các thầy cô giáo nên chân trọng, biểu dơng và tỏ thái độ đánh giá cao
qua cách cho điểm.
a5 - Giáo viên cầu hớng dẫn, khuyến khích hơn nữa việc học sinh đọc sách, bắt đầu từ
việc đọc các văn bản trong sách giáo khoa. Thực tế cho thấy học sinh rất lời đọc sách dẫn
đến đọc yếu, gây khó khăn cho việc cảm thụ văn bản. Chính vì thế, giáo viên cần khơi
nguồn và nuôi dỡng thói quen đọc sách của học sinh bằng cách: trong mỗi tiết học giáo

Tiết 20
Tìm hiểu chung về văn biểu cảm
A - Mục tiêu cần đạt: Giúp học sinh
- Hiểu đợc văn biểu cảm nảy sinh là do nhu cầu biểu cảm của con ngời .
- Biết phân biệt biểu cảm trực tiếp và biểu cảm gián tiếp cũng nh phân biệt các yếu tố
đó trong văn biểu cảm.
B - Các kĩ năng sống cơ bản đợc giáo dục trong bài: giao tiếp, suy nghĩ, sáng tạo,tự
nhận thức
C - Các phơng pháp và kĩ thuật dạy học: học theo nhóm, động não, liên tởng, tởng
tợng.
D - Tiến trình lên lớp.
I - ổn định tổ chức.
II - Kiểm tra bài cũ: Em hãy nêu các bớc tạo lập văn bản?
Đáp án:
- Định hớng văn bản
- Tìm ý và sắp xếp ý thành bố cục.
- Diễn đạt các ý trong bố cục thành câu, đoạn, văn bản.
- Kiểm tra lại văn bản đã tạo ra
III - Bài mới.
* Học sinh đọc những câu ca dao /71.
Mỗi câu ca dao trên thổ lộ tình cảm, cảm xúc gì ?
- Câu ca dao 1: Thổ lộ tình cảm, cảm xúc về nỗi
đau của con chim cuốc không đợc ai đoái hoài,
đồng thời cũng là nỗi cảm thơng đối cới tình cảnh
vô vọng của con ngời.
- Câu ca dao 2: Biểu lộ cảm xúc về niềm hạnh
phúc của ngời con gái đợc đứng giữa cảnh đẹp của
đồng quê.
Ngời ta thổ lộ tình cảm để làm gì ?.
- Các bài ca dao thổ lộ nhằm khêu gợi sự đồng

biểu cảm theo lối này.
- Đoạn 2: Biểu hiện tình cảm gắn bó với quê hơng
đất nớc.
Nội dung ấy có đặc điểm gì khác so với nội dung
của văn bản tự sự và miêu tả?
- Cả hai đoạn văn đều khác tự sự và miêu tả thông
thờng. Nó cha có nội dung thật hoàn chỉnh, song
đều thể hiện rõ tình cảm và tâm trạng của ngời
viết.
* GV: Cả hai đoạn văn đều không kể một chuyện
gì hoàn chỉnh, mặc dù có gợi lại những kỉ niệm.
Đặc biệt đoạn 2 tác giả sử dụng biện pháp miêu tả,
từ miêu tả mà liên tởng ,gợi ra những cảm xúc sâu
sắc.
* Câu hỏi thảo luận nhóm.
Có ý kiến cho rằng tình cảm, cảm xúc trong văn
biểu cảm phải là tình cảm, cảm xúc thấm nhuần t
tởng nhân văn. Qua hai đoạn văn trên em có tán
thành ý kiến đó không? Vì sao?
- Đại diện nhóm trình bày
- Nhóm khác nhận xét
Giáo viên đa đáp án
Tán thành ý kiến trên.Vì nếu không là tình cảm,
cảm xúc thấm nhuần t tởng nhân văn thì không đạt
đợc mục đích biểu cảm thật sự.
Em có nhận xét gì về phơng thức biểu đạt tình
cảm, cảm xúc ở hai đoạn văn trên ?.
- Đoạn 1: Biểu cảm trực tiếp (nói về những kỷ
niệm nhớ thơng với bạn) thờng gặp trong th từ văn
chính luận.

cảm của đoạn văn ấy ?.
- Đoạn văn b là văn biểu cảm vì
nội dung của đoạn thể hiện tình
cảm yêu thích vẻ đẹp dân dã, súc
sống tiềm tàng và khoẻ khoắn của
hoa hải đờng.
- Đoạn văn sử dụng yếu tố tởng t-
ợng và lời văn khêu gợi: "Hoa hải
đờng rạng rỡ, nồng nàn nhng
không có vẻ gì là yểu điệu thục nữ,
cánh hoa khum khum nh muốn
phong lại cái nụ cời má lúm đồng
tiền".
IV - Củng cố:
Thế nào là văn biểu cảm ?.
V - Hớng dẫn về nhà:
- Nắm chắc nội dung bài học.
- Làm bài tập 2,3.
- Soạn bài "Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trờng trông ra".
IV- Hiệu quả do sáng kiến đem lại.
Có lẽ trong nhà trờng không có môn khoa học nào có thể thay thế đợc môn văn. Đó là
môn học vừa hình thành nhân cách vừa hình thành tâm hồn. Trong thời đại hiện nay, khoa
học kinh tế phát triển, môn văn sẽ giữ lại tâm hồn con ngời, giữ lại cái cảm giác nhân văn
để con ngời tìm đến với con ngời, trái tim cùng nhịp đập trái tim.
Qua một năm rút kinh nghiệm và thay đổi, áp dụng những giải pháp trên tôi nhận thấy
chất lợng dạy và học văn biểu cảm khối 7 năm học 2011- 2012 đợc nâng lên rõ rệt. ở ph-
ơng diện là một giáo viên đứng lớp giảng dạy, tôi thấy mình vững vàng hơn trong chuyên
môn, tự tin say mê hơn với sự nghiệp trồng ngời. Ai đó từng nói: Nghiệp văn là nghiệp
khổ nhng tôi chẳng thấy khổ chút nào. Ngợc lại, tôi thấy mình sung sớng hạnh phúc vì
đợc cống hiến, góp sức mình làm đẹp cho đời. Đối với các em học sinh, các em bớc đầu

- Tổ chức hội thảo chuyên đề cho giáo viên bộ môn văn trong từng năm học để giáo
viên có dịp trao đổi kinh nghiệm, bàn luận tìm ra biện pháp tối u, tích cực, nâng cao chất
lợng dạy học môn văn.
- Đầu t trang thiết bị dụng cụ trực quan, đặc biệt là đầu t công nghệ thông tin để hỗ trợ
cho giáo viên giảng dạy văn.
4- Đối với địa phơng.
- Quản lí chặt chẽ các điểm kinh doanh Internet và các điểm dịch vụ không lành
mạnh, làm ảnh hởng đến chất lợng học tập của học sinh.
- Quan tâm sát sao đến chất lợng giáo dục ở địa phơng, đầu t cơ sở vật chất kịp thời
phục vụ cho việc dạy và học của nhà trờng.
Thời gian nghiên cứu cha nhiều nên tôi rất mong có sự nhận xét, đóng góp của đồng
nghiệp để đề tài của tôi có chất lợng hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả sáng kiến
Đặng Thị Nhài
Cơ quan đơn vị áp dụng sáng kiến
(xác nhận đánh giá, xếp loại)

(ký tên, đóng dấu)
Phòng Giáo Dục Đào Tạo
(xác nhận, đánh giá, xếp loại)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status