MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục .........................................................................................................................1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ...........................................................................................................2
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................................2
2. Mục đích nghiên cứu...............................................................................................3
3. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................3
4. Giả thuyết khoa học.................................................................................................4
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI............................................................................4
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG CHUẨN KIẾN THỨC KỸ
NĂNG .........................................................................................................................5
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
1. Giải pháp thứ nhất: Giúp giáo viên vận dụng linh hoạt phương pháp dạy phù
hợp với từng đối tượng HS; giáo viên cần nhiệt tình quan tâm, giúp đỡ HS..............5
2. Giải pháp thứ 2: Người giáo viên phải làm gì để học sinh nhận thức chậm, hay
quên; học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn học tốt hơn?......................................9
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
3. Giải pháp thứ 3: Làm thế nào để phụ huynh quan tâm tới con em mình không
khoán trắng cho nhà trường và thấy được sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình
là rất cần thiết?............................................................................................................12
IV. KIỂM CHỨNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC............................................................13
1. Kết quả đạt được.....................................................................................................13
2. Mặt tích cực và hạn chế của việc vận dụng các giải pháp dạy học theo hướng
chuẩn kiến thức kỹ năng.............................................................................................14
3. Phạm vi tác dụng.....................................................................................................15
nói riêng là nơi kết tinh trình độ văn minh của xã hội trong công tác giáo dục trẻ
em. Đứa trẻ ngày hôm nay và mai sau trở thành những người như thế nào là tuỳ
thuộc rất nhiều vào cấp tiểu học các em được học những gì.
2
Xã hội ngày nay đang nói rất nhiều về giáo dục, về chất lượng học sinh lên lớp,
về những học sinh ngồi sai lớp từ khi có cuộc vận động “Hai khơng” của Bộ trưởng
Bộ giáo dục và đào tạo. Những người làm giáo dục như tơi khơng khỏi suy nghĩ
phải làm gì, làm như thế nào để “sản phẩm” của mình phải có chất lượng, những lí
do trên đã thơi thúc tơi cần phải có kế hoạch và biện pháp cụ thể góp phần đưa chất
lượng học sinh trong nhà trường đạt hiệu quả tốt. Là một giáo viên dạy lớp và một
tổ trưởng chun mơn cơng việc chủ yếu là giảng dạy và cùng với phó hiệu trưởng
chun mơn dự giờ theo dõi việc giảng dạy của giáo viên trong tổ. Qua giảng dạy
và dự giờ giáo viên trong tổ, tơi nhận thấy chất lượng giảng dạy chưa đáp ứng được
mục tiêu giáo dục đặt ra. Đặc biệt là từ khi Bộ GD-ĐT đưa ra u cầu dạy học theo
chuẩn kiến thức kỹ năng theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ban hành chương
trình giáo dục phổ thơng – cấp Tiểu học ngày 05/5/2006, tơi đặc biệt chú trọng đến
việc dạy và học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, nếu các em khơng đạt được chuẩn
kiến thức kỹ năng của lớp đang học thì lên lớp trên các em sẽ bị hổng kiến thức.
Như vậy dạy học như thế nào để người học đạt được chuẩn kiến thức kỹ năng? Đây
là câu hỏi mà mọi người đều đặt ra và cũng có nhiều câu trả lời cho vấn đề đó. Ở
đây chúng ta khơng bàn về những câu trả lời mà chỉ trao đổi một vài vấn đề về giải
pháp giảng dạy giúp hs đạt chuẩn kiến thức kỹ năng vì đây chính là yếu tố quyết
định để người dạy và người học hồn thành nhiệm vụ trọng tâm của mình.
Từ thực tế giảng dạy và theo dõi về chun mơn tơi đã chọn đề tài: “Một số giải
pháp nâng cao chất lượng dạy và học theo hướng chuẩn kiến thức kỹ năng
khơng để HS ngồi sai lớp” làm đề tài phát triển kinh nghiệm cho mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
1. Đối với giáo viên: Vận dụng phương pháp dạy học chưa phù hợp với từng đối
tượng học sinh nên chất lượng chưa cao, một số giáo viên chưa nhiệt tình giúp đỡ
HS.
2. Đối với học sinh: Một bộ phân HS bị bệnh lý bẩm sinh học hay qn; lười
học; do hồn cảnh gia đình; vào học khơng tập trung, chủ quan trong giờ học.
3. Đối với phụ huynh: Một số gia đình khơng quan tâm đến con em mình, phó
mặc khốn trắng cho nhà trường.
4
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG CHUẨN
KIẾN THỨC KỸ NĂNG:
Học sinh Tiểu học khi mới vào trường các em còn rất bỡ ngỡ và mọi thứ còn rất
mới lạ, trong thời gian đầu các em được học những gì và được dạy gì phụ thuộc
phần lớn vào thầy cô ở trường. Vì thế, để dạy cho các em đạt được chuẩn kiến thức
kỹ năng của bậc học nói chung và ở từng khối lớp nói riêng thì ngay từ năm đầu cấp
đòi hỏi người giáo viên phải luôn tìm hiểu và nghiên cứu nội dung, phương pháp
dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, hiểu được hoàn cảnh của các em,
hiểu được tâm lý các em và đòi hỏi phải có sự nhiệt tình tâm huyết của người thầy.
Chính vì những lý do đó mà ngay từ đầu tôi đã phân loại học sinh ở lớp tôi phụ
trách, bắt đầu từ cuối tháng 9 cụ thể như sau:
*Tổng số học sinh của lớp (3/1): 23/13 em
Học sinh đọc, viết, làm toán, làm tính theo chuẩn: 16/10 em
Học sinh đọc, viết, làm toán, làm tính chậm so với chuẩn: 7/4 em (Có danh
sách HS kèm theo)
Từ những số liệu về tình hình học sinh mà tôi đã thống kê, cùng với quá trình
BGH dự giờ để tìm hiểu rõ nguyên nhân nào các em lại đọc, viết, làm toán, làm
tính chậm so với yêu cầu chuẩn, tôi cùng Ban giám hiệu nhà trường họp giáo
viên trong tổ để đưa ra những giải pháp cụ thể và tiến hành ngay để làm sao
Ở lứa tuổi HS tiểu học khả năng tư duy trừu tượng kém, phần lớn các em
phải dựa trên những mô hình vật thật, tranh ảnh, do vậy trong các giờ học việc yêu
cầu giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học là không thể thiếu kể cả đồ dùng do giáo
viên tự làm. Đồ dùng dạy học là phương tiện chuyển tải thông tin và là nội dung
truyền thụ kiến thức giáo dục tư cách, rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh, nó
có tác dụng điều khiển hoạt động của học sinh từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng, kích thích hứng thú cho học sinh học tập. Có nhà giáo dục trẻ cho rằng
trẻ không sợ học mà chỉ sợ những tiết học đơn điệu nhàm chán vì thế đồ dùng dạy
học có tác dụng rất lớn trong quá trình truyền thụ kiến thức kỹ năng cho học sinh,
nhất là các em học sinh học chậm.
Ví dụ: Ở những bài học về vần. Chẳng hạn như Bài 41 trang 86 Sách giáo khoa
Tiếng Việt 1 Tập 1: Dùng tranh vẽ (hoặc vật thật) trái lựu; Tranh con hươu sao để
học sinh quan sát và tìm ra từ khoá sau khi các em đã nhận diện vần ưu và ươu ở
phần đầu tiết học. Từ những hình ảnh như thế các em sẽ dễ nhớ và nhớ chính xác
6
hơn các vần và các từ được học bởi các em có sự liên tưởng từ vật thật đến vần của
bài học.
Như vậy dùng tranh, ảnh, vật thật trong các giờ Tiếng Việt giúp học sinh nhớ
vần và từ tốt hơn.
-Ngoài ra dùng tranh, ảnh có vai trò rất lớn trong phần luyện nói ở các tiết
tập đọc môn Tiếng Việt lớp 1 – học kì II.
Ví dụ: Bài Chuyện ở lớp – Trang 100 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 tập II –
Phần luyện nói: Tìm tiếng ngoài bài: Có vần uôt. Giáo viên treo tranh một người
đang tuốt lúa – Giáo viên hỏi nội dung bức tranh, sau đó cho các em nói câu có vần
uôt, động viên các em học chậm nói trước, nhìn vào tranh tự các em có thể nói được
như: Mẹ (cô, chị, dì) đang tuốt lúa hoặc là máy tuốt lúa. Dùng tranh, ảnh trong các
phần này tôi nghĩ rằng có tác dụng rất lớn đối với các em học chậm, các em vừa nói
bị nhầm lẫn giữa “ta” và “mình”.
Ngoài ra tôi thấy sử dụng mô hình “Vườn hoa học tốt” là một phương pháp
khuyến khích học tập rất hay. Các em rất thích được khen thưởng hoa. Các em sẽ cố
gắng làm bài cho tốt, tích cực phát biểu để được giáo viên khen thưởng hoa.
Giáo viên cần lưu ý thêm nếu học sinh có trả lời sai thì cần khuyến khích cho
các em ở lần sau được tốt hơn. Tránh những lời nói làm cho các em mặc cảm với
bạn bè, không dám phát biểu nữa.
1.4. Người giáo viên cần có lòng nhiệt tình, luôn quan tâm giúp đỡ HS.
Ở lứa tuổi các em việc tiếp thu kiến thức còn thông qua hình thức: Học mà
chơi, chơi mà học, giáo viên phải nhẹ nhàng, ân cần dạy bảo các em luôn tạo không
khí thoải mái, vui vẻ trong giờ học, một lời nhận xét động viên các em giúp các em
thấy tự tin và phấn khởi, sự chỉ bảo ân cần là điều rất cần thiết, tránh quát mắng các
em khi các em làm sai hay chưa làm được. Đặc biệt không được ngồi một chỗ bảo
các em đọc đi, viết đi mà giáo viên phải đi xuống bên học sinh xem em nào đã làm
được còn em nào làm chưa được nhắc nhở các em, chỉ cụ thể để các em làm cho tốt.
Làm sao để mỗi ngày các em đến trường là một ngày vui. Giáo viên phải gần gũi
với học sinh thì mới hiểu được về học sinh của mình, để hình ảnh ân cần của cô
luôn là hình ảnh đẹp trong ánh mắt của các em, bản thân các em cũng thấy cô giáo
như người thân trong gia đình sẵn sàng kể cho cô nghe những niềm vui hoặc những
khó khăn của mình trong học tập hay trong sinh hoạt hàng ngày mà cần cô giúp đỡ.
Ví dụ: Em Hà lớp 3/1 em viết rất hay sai, không đúng cỡ chữ, không ngay
hàng, một số chữ hay lẫn lộn trong 3 tháng đầu năm học. Nhưng qua quá trình rèn
8
luyện cùng với lời khen dù chỉ là tiến bộ nhỏ nhất, đến nay em đã tiến bộ rõ rệt, chữ
viết đã đúng, rõ ràng, thẳng hàng hơn.
*Tóm lại: Qua việc chỉ đạo và theo dõi quá trình dạy học của giáo viên toàn
trường nói chung và giáo viên khối 3 nói riêng, tôi nhận thấy nếu người giáo viên
(phân môn Tập viết).
-Dạy tập làm văn chỉ cần các em viết đoạn văn đảm bảo đủ các gợi ý của bài;
Môn chính tả, các em viết quá yếu thì trong giờ chính tả cho các em nhìn sách viết,
sau đó gv sẽ đọc lại cho các em viết trong giờ ra chơi.
-Về đọc tăng cường gọi các em đọc nhiều lần, luyện đọc nhiều lần từ khó
(cho HS đọc câu, đoạn kết hợp trả lời những câu hỏi dễ).
-Gv cần có sự chuẩn bị kĩ cả về giáo án và đồ dùng dạy học. Dự đoán trước
những tình huống có thể xảy ra và chuẩn bị sẵn một hệ thống câu hỏi gợi mở để học
sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức.
Ví dụ: Dạy Tự nhiên xã hội, bài: Quả (Lớp 3)
- Đồ dùng dạy học: một số loại quả
- Hệ thống câu hỏi:
+ Quả gồm những bộ phận nào? Chỉ rõ các bộ phận đó?
+ Bóc hoặc gọt vỏ, nhận xét về vỏ quả xem có gì đặc biệt?
+ Bên trong vỏ gồm những bộ phận nào? Chỉ phần ăn được của quả
đó?
Ngoài ra giáo viên cần có kế hoạch về thời gian để kèm cặp, phụ đạo cho
phù hợp. Giáo viên cần phải linh động trong việc giảng dạy. Và với hình thức khoán
chương trình cho giáo viên, giáo viên được chủ động đưa ra kế hoạch giảng dạy,
nhưng vẫn đảm bảo dạy đủ, dạy đúng kiến thức theo chương trình Tiểu học. Ví dụ:
Dạy hai bài “xem đồng hồ”, giáo viên có thể dạy gộp thành một bài (vì hai bài kiến
thức đơn giản). Như vậy giáo viên có thêm thời gian phụ đạo, kèm học sinh yếu.
Giáo viên cố gắng cuối mỗi buổi học cho thêm các bài tập nào các em còn
yếu về nhà làm. Có câu “Trăm hay không bằng tay quen”. Các em được tính toán
nhiều từ từ sẽ nhớ cách làm bài. Hôm sau, giáo viên cố gắng lên lớp sớm khoảng 15
phút vào kiểm tra các em tất cả những gì giáo viên đã dặn và hướng dẫn thêm cho
các em nếu các em làm chưa tốt.
10
11
*Tóm lại: Đối với học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, giáo viên cần quan tâm,
giúp đỡ, động viên các em giúp các em tự tin trong học tập và hoà nhập với cộng
đồng, cần giúp đỡ các em cả vật chất và tinh thần.
3. Giải pháp thứ 3: Làm thế nào để phụ huynh quan tâm tới con em
mình không khoán trắng cho nhà trường và thấy được sự phối hợp giữa nhà
trường và gia đình là rất cần thiết?
Từ thực tế cho thấy nhiều cha mẹ học sinh cho con đến trường là xong nhiệm
vụ còn trách nhiệm dạy, giáo dục con mình là phần thầy cô giáo, có những em bị
bệnh nhưng cha mẹ không hề biết vẫn cho con đi học có khi các em đi học cả buổi
mà vẫn chưa ăn gì, ngay cả khi các em bị ốm mà phụ huynh cũng không quan tâm
tới các em. Với các trường hợp này đòi hỏi giáo viên cần phải thường xuyên liên lạc
với phụ huynh, trao đổi với phụ huynh để họ hiểu rằng kết quả học tập của các em
có tốt là phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa gia đình và nhà trường. Yêu cầu quan
tâm tối thiểu như cha mẹ các em cần kiểm tra bài vở của các em sau mỗi buổi học ở
trường xem con mình đã học những môn nào, các em có ghi chép đủ không, giúp
các em soạn sách vở trong thời gian đầu và theo dõi kiểm tra nhắc nhở các em việc
soạn sách vở khi cho các em đã tự làm, hướng dẫn các em đọc bài nhiều lần ở nhà,
chuẩn bị cho bài mới. Còn giáo viên ngoài họp phụ huynh theo kế hoạch chỉ đạo
định kì chung 3 lần/ năm học, phải thường xuyên liên lạc với phụ huynh học sinh
bằng phiếu liên lạc hay trực tiếp trao đổi với phụ huynh khi cần thiết. Bên cạnh đó
giáo viên cần phối hợp với hội phụ huynh của lớp nhờ hội trưởng của lớp giúp đỡ.
Ngoài ra, giáo viên nên có sổ theo dõi liên lạc riêng đối với các em này, đặc
biệt các em lười học thì phải có. Giáo viên sẽ nhận xét tình hình của các em sau
buổi học và nêu những yêu cầu cần thực hiện cho ngày hôm sau để phụ huynh
hướng dẫn trước ở nhà cho các em. Nếu được giáo viên cố gắng liên lạc hằng ngày
còn như không thì có thể liên lạc hằng tuần để phụ huynh kịp thời nắm bắt tình hình
Qua một học kỳ tôi đã vận dụng những điều trên vào việc giảng dạy, tôi nhận
thấy số lượng hs chưa đạt chuẩn kiến thức kỹ năng của lớp giảm dần, cụ thể như
sau:
Phân loại học sinh
HS đọc, viết, làm toán, làm tính tốt
HS đọc, viết, làm toán, làm tính theo chuẩn
HS đọc, viết, làm toán, làm tính chậm so
Đầu năm học
Tổng số học
Cuối học kì I
Tổng số học
sinh lớp 3/1
23/13
5/3
11/6
7/4
sinh lớp 3/1
23/13
8/6
13/7
2/0
với chuẩn
Ngoài số liệu trên tôi còn nhận thấy rõ kết quả tác động của các giải pháp
dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng giúp hs đạt chuẩn không để hs ngồi sai lớp:
* Giáo viên biết vận dụng khéo léo và vận dụng linh hoạt các phương pháp
3. Phạm vi tác dụng:
Từ những kinh nghiệm mà bản thân tôi đã thực hiện và qua việc phân tích
những biện pháp trên, tôi thấy có thể vận dụng cho các lớp học khác ở bậc tiểu học.
4. Bài học kinh nghiệm
Với kết quả đạt được ở trên, bản thân tôi rút ra bài học sau:
- Là giáo viên phải chuyên tâm, nhiệt tình trong công việc, không ngừng học tập để
nâng cao kiến thức, biết đổi mới nhiều hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp với
từng đối tượng học sinh.
- Cần tìm hiểu nguyên nhân và hoàn cảnh của các em.
- Biết tham mưu với Ban giám hiệu nhằm tìm hướng giúp đỡ cho học sinh có hoàn
cảnh khó khăn.
- Cần nhẹ nhàng, khéo léo, động viên các em, giúp đỡ các em trong học tập.
- Giữ mối liên hệ tốt giữa nhà trường – gia đình – xã hội.
V. KẾT LUẬN
15
Nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo con người cho ngày hôm nay và cho mai sau
là làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại có tư duy sáng tạo. Muốn thực
hiện được yêu cầu này đòi hỏi người quản lí và giáo viên tất cả các cấp học phải chú
ý, quan tâm tới chất lượng giáo dục đặc biệt tập trung ngay từ cấp Tiểu học. Chất
lượng dạy và học chính là thước đo giá trị của nhà trường, để mục đích cuối cùng
tạo một nguồn nhân lực bao gồm những con người có đức có tài, ham học hỏi,
thông minh sáng tạo, được chuẩn bị tốt về văn hoá. Để hoàn thành nhiệm vụ này
người GV phải tâm huyết với nghề, luôn tìm tòi và tìm ra giải pháp hợp lí, vận dụng
các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm nâng cao chất lượng
dạy học giúp HS đạt được chuẩn kiến thức kỹ năng, tạo tiền đề tốt cho các em học
lên các lớp trên.
2
3
4
5
6
7
HỌ VÀ TÊN HỌC
SINH
Trần Vũ Hà
Mai Thị Thảo Ly
Mai Văn Ngoan
Nguyễn Văn Thuận
Lê Thị Như Tiên
Nguyễn Thị Anh Thư
Trần Thị Thúy
LỚP
ĐỌC
VIẾT
3/1
3/1
3/1
3/1
3/1
3/1
3/1
GHI
CHÚ
Danh sách có: 07 HS
Người lập
Nguyễn Thị Kim Tho
17
UBND HUYỆNCAO LÃNH
Trường TH-THCS Gáo Giồng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do- Hạnh phúc
DANH SÁCH HỌC SINH ĐỌC VIẾT LÀM TÍNH LÀM
TOÁN CHẬM SO VỚI CHUẨN – LỚP 3/1
TRƯỜNG TH – THCS GÁO GIỒNG
NĂM HỌC 2011-2012
(THÁNG 10/2011)
TT
LÀM
TÍNH
LÀM
TOÁN
SINH
Trần Vũ Hà
Mai Thị Thảo Ly
Mai Văn Ngoan
Nguyễn Văn Thuận
LỚP
ĐỌC
VIẾT
3/1
3/1
3/1
3/1
LÀM
TÍNH
TRƯỜNG TH – THCS GÁO GIỒNG
NĂM HỌC 2011-2012
(THÁNG 12/2011)
TT
1
2
3
HỌ VÀ TÊN HỌC
SINH
Trần Vũ Hà
Mai Thị Thảo Ly
Nguyễn Văn Thuận
LỚP
ĐỌC
VIẾT
3/1
3/1
3/1
DANH SÁCH HỌC SINH ĐỌC VIẾT LÀM TÍNH LÀM
TOÁN CHẬM SO VỚI CHUẨN – LỚP 3/1
TRƯỜNG TH – THCS GÁO GIỒNG
NĂM HỌC 2011-2012
(THÁNG 01/2012)
TT
1
2
HỌ VÀ TÊN HỌC
SINH
Trần Vũ Hà
Nguyễn Văn Thuận
LỚP
3/1
3/1
ĐỌC
VIẾT
LÀM
TÍNH
LÀM