BỘ CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN KIẾN THỨC CHUNG 2017 - Pdf 40

NGÂN HÀNG CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN KIẾN THỨC CHUNG
(Phục vụ thi công chức, viên chức)
Câu 1
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là nâng cao chất lượng thực thi công
vụ của cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC). Anh (chị) hiểu thế nào là chất lượng thực
thi công vụ. Để thực thi tốt công vụ, CBCCVC phải có nghĩa vụ gì? Chất lượng thực thi
công vụ của CBCCVC phụ thuộc vào các yếu tố nào và hãy đề xuất một số giải pháp nâng
cao chất lượng thực thi công vụ trong thời gian tới?
Trả lời:
Nội dung I. Khái niệm hoạt động công vụ và chất lượng thực thi công vụ:
1. Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực công, tính pháp lý của tất cả các công
chức ( người làm công cho nhà nước) nhằm đảo bảo cho xã hội vận hành có điều hoà, điều
chỉnh
2.Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
cán bộ, công chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và các quy định khác có liên
quan.
3. Chất lượng thực thi công vụ là kết quả hoạt động, hiệu quả quản lý, phục vụ đạt được
của một tổ chức hành chính nhà nước thông qua sự hài lòng của người dân, niềm tin của người
dân, được xác định thông qua tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực.
Nội dung II. Để thực thi tốt công vụ, CBCCVC phải có nghĩa vụ gì:
Nghĩa vụ chung
1. Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.
2. Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.
3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.
4. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước.
5. Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn được giao.
6. Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ
chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ

công chức, viên chức.
Phụ thuộc vào công tác tổ chức, môi trường tổ chức. Đó là sự phân công công việc, tính
chất công việc, môi trường làm việc, điều kiện làm việc của CBCCVC.
Sự động viên, khuyến khích của người lãnh đạo, quản lý, tạo động lực cho CBCCVC từ
chế độ, chính sách đãi ngộ và cơ hội thăng tiến phát triển đối với CBCCVC.
Nội dung IV. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực thi công vụ:
Từng bước đổi mới công tác quản lý CBCCVC. Trước hết là đổi mới trong tuyển dụng
CBCCVC. Tổ chức thi tuyển hay xét tuyển phải dựa vào tiêu chí năng lực phù hợp và cạnh
tranh một cách khách quan thì mới tìm và tuyển được người giỏi, có tài năng vào công vụ.
Những người tham gia tuyển dụng phải công tâm, khách quan và không chịu bất cứ áp lực nào
can thiệp vào kết quả tuyển dụng.
Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC theo hướng hiệu quả, thiết thực. Có 4
nội dung quan trọng cần được chú trọng cải cách:
1. Thực hiện đúng quy trình đào tạo: Xác định nhu cầu đào tạo - Lập kế hoạch đào tạo Tổ chức đào tạo - Đánh giá đào tạo. Xây dựng nội dung chương trình, tài liệu, phương pháp
đào tạo theo hướng đổi mới, cập nhật, thực hiện đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD) trên cơ sở năng
lực thực tiễn làm việc, chú trọng phát triển các kỹ năng thực thi công vụ.
2


2. Xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, thành thạo về
phương pháp đào tạo.
3. Xây dựng phát triển một số cơ sở đào tạo CBCC ngang tầm, có đủ các điều kiện để
đào tạo, bồi dưỡng, trao đổi giảng viên với các nước trong khu vực và trên thế giới.
4. Xây dựng khuôn khổ pháp lý phù hợp, tạo điều kiện tốt cho công tác ĐTBD.
Sử dụng CBCCVC hợp lý, hiệu quả. Từng bước triển khai mỗi vị trí công việc phải có
mô tả công việc giúp cho việc tuyển dụng, phân công theo dõi kết quả thực hiện công việc.
Đổi mới công tác đánh giá CBCC hướng tới đánh giá dựa trên kết quả thực thi công vụ. Xác
định vai trò của người đứng đầu, chú trọng vai trò của người thủ trưởng trong phân công, sử
dụng, đánh giá và chịu trách nhiệm với kết quả thực hiện công việc của cán bộ, công chức,
viên chức.

và nền công vụ.
3


Trước đây, đạo đức công vụ chưa được phản ánh một cách cụ thể trong khuôn khổ pháp
lý nên rất khó xác định đâu là tiêu chuẩn, đâu là nguyên tắc bắt buộc để điều chỉnh hành vi của
tất cả cán bộ, công chức. Điều này dễ dẫn đến sự tùy tiện, không minh bạch trong quá trình
giải quyết công vụ.
Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không
nhỏ cán bộ, đảng viên gắn liền với tệ quan liêu, tham nhũng vẫn đang diễn ra nghiêm trọng,
chưa được ngăn chặn triệt để.
Công chức là lực lượng có vị trí, vai trò quyết định trong việc thể hiện và giữ vững bản
chất chính trị của Nhà nước. Muốn thể hiện được vị trí và vai trò quyết định đó, công chức
phải hội đủ 02 yếu tố: đạo đức và tài năng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "có tài mà không có
đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó".
Nội dung II. Phần liên hệ của thí sinh (cần phải làm gì để đảm bảo những nguyên tắc,
chuẩn mực đạo đức theo quy định):
Để xây dựng được nền công vụ hiện đại, dân chủ, chuyên nghiệp…, đội ngũ cán bộ,
công chức cần có những chuẩn mực đạo đức công vụ. Đạo đức công vụ thể hiện trong các
hành vi cụ thể qua công việc của mỗi cán bộ, công chức. Đạo đức công vụ cần có những quy
tắc, chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức bắt buộc mỗi cán bộ, công chức phải tuân thủ. Đạo đức
công vụ được thể hiện trong những nguyên tắc đạo đức, chuẩn mực cơ bản sau:
Phải thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” (Điều 15 của Luật cán bộ, công
chức).
Trong bất cứ việc gì, ở cương vị nào, cán bộ, công chức cũng phải có ý thức tiết kiệm,
chống lãng phí, chống quan liêu, tham nhũng; không vụ lợi cá nhân, xây dựng một lối sống
lành mạnh, lạc quan, yêu đời, có nếp sống giản dị, khiêm tốn, có tình cảm, cởi mở, quan tâm
đến mọi người, học tập bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp.
Cần, kiệm, liêm, chính theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Công chức làm việc trong các công
sở có ít nhiều quyền hành, nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại,

tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm kỷ luật trong thi hành công vụ và trong cuộc sống.
Những chuẩn mực đạo đức công vụ này có sự quan hệ, tác động lẫn nhau trong một hệ
thống chuẩn mực thống nhất.
Đạo đức công vụ không phải tự thân mà có; mỗi cán bộ, công chức, viên chức nếu tích
cực tu dưỡng, rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức công vụ, chắc chắn nền công vụ sẽ có
một đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Câu 3: Trong chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020
(được ban hành tại Nghị quyết số 30c/NQ-CP, ngày 08/11/2011 của Chính phủ), một trong
những nhiệm vụ trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính. Bằng hiểu biết của mình, anh
(chị)hãy nêu vai trò, ý nghĩa của thủ tục hành chính đối với nhà nước và xã hội. Cho ví dụ
để minh họa.
Trả lời:
I. Khái niệm về thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính là một loại quy phạm pháp luật quy định trình tự về thời gian, về
không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách thức giải
quyết công việc của các cơ quan nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức và công
dân.
Hay theo nghị định số 63/2010/NĐ-CP, Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực
hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải
quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức
II. Vai trò của thủ tục hành chính
1. Vai trò chung
- Thủ tục hành chính có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp
đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân.

5


- Thông qua thủ tục hành chính, các cá nhân, tổ chức thực hiện được quyền lợi, nghĩa
vụ của mình; đồng thời, các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện được chức năng quản lý

- Hoạt động công vụ là hoạt động mang tính quyền lực của nhà nước do cán bộ, công
chức tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà
nước, phục vụ các lợi ích của Đảng, nhà nước, nhân dân và xã hội
2. Công khai trong thi hành công vụ

6


- Là việc cán bộ, công chức có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác
những thông tin chính thức có trong văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành (trừ những thông tin liên quan đến bí mật nhà nước) và phương thức thực hiện công vụ
cho các đối tượng có liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo thẩm
quyền và quy định của pháp luật.
- Nội dung, hình thức và phương pháp công khai phải thực hiện theo quy định của pháp
luật, theo quy chế của cơ quan và điều kiện cụ thể của từng đối tượng tiếp nhận thông tin.
3. Minh bạch trong thi hành công vụ
Là sự rõ ràng, rành mạch; là việc cung cấp kịp thời cho công dân, tổ chức những thông
tin phù hợp dưới hình thức dễ hiểu, dễ thực hiện. Làm tốt điều này sẽ nâng cao trách nhiệm
của công chức khi thi hành công vụ; đồng thời giúp người dân và các tổ chức dự báo được kết
quả khi tiếp cận với hoạt động công vụ.
4. Thực hiện đúng thẩm quyền
- Thẩm quyền là nhiệm vụ, quyền hạn của công chức khi thi hành công vụ.
- Việc thực hiện đúng thẩm quyền là một yêu cầu bắt buộc, mang tính nguyên tắc mà
công chức phải tuân thủ; đảm bảo cho hoạt động công vụ được thực hiện đúng quy định của
pháp luật và đạt hiệu quả cao.
5. Kiểm tra, giám sát trong thi hành công vụ
Là hoạt động xem xét, đánh giá của các chủ thể nhằm đảm bảo cho hoạt động công vụ
được thực hiện đúng pháp luật, đạt hiệu quả cao.
II. Nêu ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện nguyên tắc “công khai, minh bạch, đúng
thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát” trong thi hành công vụ của công chức

văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ có được xem là nghĩa vụ của công chức hay
không? Vì sao? Liên hệ thực tiễn.
Trả lời:
Đạo đức công vụ là một phạm trù tương đối rộng, bao hàm đạo đức, lối sống, cách xử
sự của cán bộ, công chức không chỉ trong các mối quan hệ xã hội thông thường mà còn trong
phạm vi thực hiện nhiệm vụ công, đó là trong giao dịch hành chính với tổ chức, công dân.
-Việc chấp hành quy định về đạo đức. văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ được
xem là nghĩa vụ của công chức.
-Vấn đề đạo đức, văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ là nội dung quan tâm chung
của tất cả các nhà nước. Vì, mọi quyền lực của nhà nước được thực thi phản ảnh qua nền công
vụ và hoạt động công vụ nếu không có những tiêu chuẩn đạo đức, văn hóa giao tiếp của công
chức làm chuẩn mực thì uy tín của nhà nước sẽ không thể có. Chính vì vậy, với bản chất nhà
nước của dân, do dân, vì dân, những chuẩn mực đạo đức, văn hóa giao tiếp trong thi hành
công vụ đã được nhà nước ta cụ thể hóa thành những quy phạm pháp luật, bắt buộc mọi công
chức phải nghiêm chỉnh chấp hành. Cụ thể:
+ Điều 15 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ, công chức phải thực
hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ”
+ Điều 16 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Trong giao tiếp ở công sở, cán
bộ công chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn
mực, rõ ràng, mạch lạc. Cán bộ công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng,
vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ. Khi thi hành
công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong lịch sự; giữ
gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp”
+ Điều 17 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ, công chức phải gần
gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp
phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc… Cán bộ, công chức không được hách dịch, cửa quyền,
gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ”

8


của luật pháp được thực hiện thuận lợi. Thiếu thủ tục hành chính việc thực thi luật pháp sẽ gặp
khó khăn, thậm chí không có khả năng đi vào đời sống thực tế. Ví dụ: Nhà nước muốn thu
thuế thì cần có thủ tục để người dân nộp thuế, còn muốn quản lý an toàn giao thông thì cần có
thủ tục để hướng dẫn người dân tham gia giao thông tuân theo,…
Hoạt đồng quản lý chủ yếu là hoạt động áp dụng pháp luật mà ở đó, hành vi áp dụng
pháp luật liên quan chủ yếu đến việc xác định tình trạng thực tế của vụ việc, lựa chọn quy
phạm pháp luật tương ứng và ra quyết định về vụ việc đó. Các hành vi áp dụng pháp luật này
được tiến hành theo những thủ tục hành chính nhất định. Như vậy nếu thiếu các thủ tục cần
thiết thì quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong hoạt động quản lý sẽ không đảm bảo
thực hiện. Thủ tục hành chính là một nhân tố bảo đảm cho sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi và
9


đúng chức năng quản lý của cơ quan nhà nước, vì nó là chuẩn mực hành vi cho công dân và
công chức nhà nước để họ tuân theo và thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước. Dựa
vào các thủ tục hành chính các công việc hành chính sẽ được xử lý và đạt được những hiệu
quả pháp luật đúng như dự định
Thứ hai, TTHC là trình tự thực hiện thẩm quyền trong hoạt động quản lý hành chính
nhà nước
Xét trong quá trình giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước thì thủ
tục hành chính là cách thức, trình tự mà các cơ quan hành chính nhà nước áp dụng để giải
quyết các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Trình tự này có thể từ dưới lên, từ cấp trên
xuống mà cũng có những trình tự thực hiện song hành.
Nói như vậy có nghĩa là thủ tục hành chính được phân biệt với thủ tục lập pháp
và thủ tục tố tụng pháp
Thủ tục lập pháp là trình tự, cách xây dựng Hiến pháp và ban hành luật thuộc thẩm
quyền của cơ quan lập pháp; thủ tục tố tục tư pháp thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp liên
quan đến những hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, định tội.
Thứ ba, TTHC rất đa dạng và phức tạp. Tính đa dạng và phức tạp được biểu hiện như
sau:

và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền.
Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước và thực hiện
đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp
của giai cấp cầm quyền.
Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chính
của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội
Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp
khác của nhân dân được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân
Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy quyền lực và tổ chức ra hệ thống
chính trị của mình. Vì vậy, hệ thống chính trị ở nước ta có những bản chất sau:
Một là, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân, nghĩa là các
tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên lập trường quan điểm của giai cấp công
nhân. Từ đó đã quy định chức năng, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống
chính trị, đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Hai là, bản chất dân chủ của hệ thống chính trị ở nước ta thể hiện trước hết ở chỗ:
Quyền lực thuộc về nhân dân với việc Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân,
dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đa
số nhân dân với thiểu số bóc lột.
Ba là, bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở nước ta. Bản chất
đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất giữa những lợi
ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc.
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau:

chân chính của quyền lực. Vì vậy, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là công cụ
thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị của nước ta gồm nhiều tổ
chức, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau do chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhưng
cùng tác động vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo quyền lực của nhân
dân.
a. Đảng Cộng sản Việt Nam:
Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành
lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng là một bộ phận của hệ
thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo
của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau:
Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm, chủ trương
phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời Đảng là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh,
đường lối của Đảng.
Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Đường
lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước tiếp nhận, thể chế hoá cụ thể bằng pháp
luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể. Vì vậy, Đảng luôn quan
tâm đến việc xây dựng Nhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểm tra việc Nhà nước
thực hiện các Nghị quyết của Đảng.
Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng
viên của Đảng. Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việc xác định đường lối, chính sách cán
bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước
và các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị - xã hội.
Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương, làm
công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ...
b. Nhà nước:
12


Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí
và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý

đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tập trung thống nhất và độc lập
thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quan khác của Nhà nước. Thực hiện các quyền
khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố...Với ý nghĩa đó, các tổ chức Toà án, Viện
kiểm sát được gọi là cơ quan tư pháp.
Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Vì vậy, cần tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa.
c. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội...
Đây là những tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi các
tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham
gia vào hệ thống chính trị, tuỳ theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền
lợi dân chủ của nhân dân.
13


Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự
nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước; phát huy dân chủ, nâng cao
trách nhiệm công dân của các hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công
cuộc đổi mới, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội và
Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước; thực hiện giám sát của nhân dân với cán bộ, công chức và giải quyết
những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
Các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng,
động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện
nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào
công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa
Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi
mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

14


nước xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận
trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, tránh nhiệm không rõ; nội dung và
phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao
cấp. Đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồi dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn
chắp vá.
Để tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, cần tập trung giải
quyết mấy vấn đề cơ bản và bức xúc sau đây:
Một là, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong hệ thống chính trị,
đồng thời xây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các tổ chức dưới sự lãnh đạo của
Đảng bộ, chi bộ cơ sở; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động hướng vào phục vụ dân,
sát với dân, được dân tin cậy.
Hai là, thực hành dân chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ
sở theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở thực
hiện quyền dân chủ trực tiếp, phát huy quyền làm chủ đại diện, quy định cụ thể việc thực hiện
quyền của dân giám sát tổ chức và cán bộ ở cơ sở và kịp thời thay thế người không đủ tín
nhiệm. Phát huy dân chủ phải đi liền với củng cố và nâng cao kỷ luật, kỷ cương theo pháp
luật.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực
hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết
phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác
đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở.
Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với đổi mới nền kinh tế, từng bước đổi mới kiện toàn hệ
thống chính trị là đòi hỏi khách quan, yêu cầu cấp bách.
Câu 10: Nội dung, phương hướng cơ bản nhằm đổi mới, kiện toàn hệ thống chính
trị? Đoàn viên, thanh niên cần làm gì để xây dựng hệ thống chính trị?
Trả lời: Việc đổi mới hệ thống chính trị phải hướng vào việc thực hiện mục tiêu chủ

liêu, tham nhũng, lộng quyền, xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân; ngăn chặn và khắc
phục tình trạng dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, đồng thời nghiêm trị những hoạt động
phá hoại gây rối...
- Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và trong sinh hoạt
của bộ máy Nhà nước.
3. Đổi mới và kiện toàn các đoàn thể chính trị-xã hội.
Những năm qua các tổ chức chính trị-xã hội, các đoàn thể quần chúng nhân dân đã phát
huy vai trò của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ phát triển mới, các tổ chức chính trị - xã hội cần được đổi mới toàn diện theo hướng sau
đây:
- Nâng cao hơn nữa nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp và các đoàn thể quần chúng. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động
của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội nghề nghiệp... các tổ chức quần chúng.
- Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức chính trị - xã hội theo hướng mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp quần chúng
nhân dân, đáp ứng yêu cầu và chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng và hợp pháp của nhân
dân.
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân tập trung hướng mạnh về cơ sở.
Lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, ngăn chặn và
chống mọi hành động vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Tăng cường công tác giáo dục
chính trị tư tưởng, đổi mới hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân; gắn hoạt động của các
tổ chức đoàn thể quần chúng trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, an
ninh, quốc phòng... với việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
4. Đoàn viên, thanh niên cần làm gì để xây dựng hệ thống chính trị?
Thanh niên là lực lượng dự bị tin cậy, cánh tay đắc lực của Đảng và của hệ thống chính
trị. Vì vậy, thanh niên cần nhận thức đầy đủ trách nhiệm, góp phần xây dựng hệ thống chính trị
ngày càng vững mạnh. Cụ thể:
- Tham gia tích cực vào cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước
thật sự trong sạch, vững mạnh.
- Thực hiện một cách có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp

thể hóa Điều 110 Hiến pháp năm 2013.
Thứ hai, về tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính: Điều 4 Luật Tổ
chức chính quyền địa phương quy định cấp chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị
hành chính gồm có HĐND và UBND. Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền
địa phương ở tỉnh, huyện, xã. Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương
ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành
phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn.
Như vậy, sau một thời gian dài thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận,
phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số
724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa
phương đã quy định cấp chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính đều
phải có HĐND và UBND. Ngoài ra, một trong những điểm mới nổi bật của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương so với Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đó là có sự phân biệt
giữa chính quyền địa phương ở nông thôn và ở đô thị, phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý,
dân cư, kết cấu hạ tầng và yêu cầu quản lý ở mỗi địa bàn.
Thứ ba, về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương:
- Đối với HĐND: Luật quy định rõ hơn về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân tạo cơ
sở pháp lý để củng cố, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
HĐND các cấp. Về cơ cấu tổ chức của HĐND, Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy
định HĐND thành phố trực thuộc trung ương được thành lập thêm Ban đô thị vì đây là những
17


đô thị tập trung, có quy mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiều điểm đặc thù khác với các
địa bàn đô thị thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Về số lượng đại biểu HĐND thành phố Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh từ 95 đại biểu lên 105 đại biểu để phù hợp với quy mô dân số, đặc
điểm, tính chất của các đô thị lớn này (Điều 39). Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện (số
lượng là 2) và Phó Chủ tịch HĐND cấp xã (số lượng là 1) hoạt động chuyên trách; Trưởng các
Ban của HĐND cấp tỉnh, huyện có thể hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng Ban HĐND cấp
tỉnh, cấp huyện hoạt động chuyên trách; Trưởng, Phó Ban của HĐND cấp xã hoạt động kiêm

đề rất cụ thể, liên quan đến việc bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc chung của cả nước cũng
như ở từng địa phương nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, cần phải được tiếp tục xem
xét, cân nhắc kỹ thêm. Do đó, để có thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng, luật quy định Quốc hội
giao Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể tiêu chí, tiêu chuẩn thành lập Ban dân tộc
của Hội đồng nhân dân.
Thứ sáu, Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện có thể hoạt động
chuyên trách, Phó Trưởng Ban Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động chuyên
trách. Trưởng, Phó Ban của Hội đông nhân dân cấp xã hoạt động kiêm nhiệm. Phó Chủ tịch
18


Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (số lượng là 2) và Phó Chủ tịch Hội động nhân dân cấp
xã (số lượng là 1) hoạt động chuyên trách.
Về các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã, đây là quy định mới, gồm Ban pháp chế và
Ban kinh tế - xã hội, Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thành viên khác của Ban của Hội
đồng nhân dân hoạt động kiêm nhiệm; Trưởng ban không nằm trong Thường trực Hội đồng
nhân dân nên không dẫn đến tăng biên chế và bộ máy ở cấp xã. Luật quy định Thường trực
Hội đồng nhân dân phê chuẩn Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân theo đề nghị của
Trưởng ban; Hội đồng nhân dân chỉ tiến hành bầu Trưởng ban, Phó Trưởng ban.Ban đô thị của
Hội đồng nhân dân chỉ tổ chức ở thành phố trực thuộc trung ương vì đây là những đô thị tập
trung, có quy mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiều điểm đặc thù khác với các địa bàn đô
thị đơn lẻ khác là thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Thứ bảy, Cơ cấu Thường trực HĐND tỉnh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Trưởng các Ban
và Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm
Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch và Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân.
Luật cũng quy định rõ cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương ở nông thôn và đô thị và
hải đảo, vùng kinh tế xã hội đặc biệt.
Thứ tám, về cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân: Một điểm mới đáng chú ý khác là
luật đã bổ sung những điểm mới nhằm quy định chi tiết hơn về số lượng, cơ cấu thành viên
UBND, nguyên tắc hoạt động của UBND; phiên họp UBND; phạm vi, trách nhiệm giải quyết

đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia. Phát huy quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của chính quyền địa phương. Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản
lý theo lãnh thổ, phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa chính quyền địa phương các
cấp đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ. Việc phân định thẩm quyền
phải phù hợp điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và đặc thù của các ngành, lĩnh
vực. Công việc liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cùng cấp trở lên thì thuộc thẩm
quyền giải quyết của chính quyền cấp trên, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ có quy định khác.
Nguyên tắc cuối cùng là chính quyền địa phương được bảo đảm nguồn lực để thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp.
Về phân quyền, Luật quy định việc phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương
phải được quy định trong các luật; chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong
việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền. Về phân cấp, Luật quy định căn cứ
vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể khác của địa phương,
cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa
phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc
một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác. Việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà
nước thực hiện phân cấp.
Về ủy quyền, Luật quy định trong trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước
cấp trên có thể ủy quyền bằng văn bản do UBND cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác thực
hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm
theo các điều kiện cụ thể.
Thứ mười, Quy định nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng của chính quyền đô thị
Luật đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành
chính theo hướng chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, giảm dần xuống cấp huyện đến cấp xã để tránh
tình trạng dồn việc về cấp cơ sở mà không tính đến khả năng đáp ứng của từng cấp chính
quyền; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn tập trung thực
hiện quản lý theo lãnh thổ; ở địa phương đô thị chú trọng thực hiện quản lý theo ngành, lĩnh
vực.

dân (UBND) được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính
- kinh tế đặc biệt do luật định
Với quy định này, Hiến pháp đã công nhận sự khác nhau giữa chính quyền đô thị, nông
thôn, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Bài viết này tập trung phân tích đặc điểm
và yêu cầu quản lý nhà nước ở đô thị và nông thôn và cũng trên cơ sở đó lý giải vì sao luật tổ
chức chính quyền địa phương quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức riêng cho chính
quyền địa phương ở đô thị và nông thôn.
Theo quy định của luật Tổ chức chính quyền địa phương thì Phân định cơ cấu tổ chức
và nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở các vùng, miền khác nhau. Luật
TCCQĐP quy định rõ cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương ở nông thôn, ở đô thị, ở hải
đảo và vùng kinh - tế xã hội đặc biệt, trong đó đáng chú ý là thành lập ban đô thị của HĐND ở
các thành phố trực thuộc Trung ương, vì đây là những đô thị tập trung, quy mô lớn, mức độ đô
thị hóa cao, có nhiều điểm đặc thù so với các địa bàn đô thị đơn lẻ khác.
Luật cũng quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở các đơn vị
hành chính theo hướng chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, giảm dần xuống ở cấp huyện đến cấp xã
để tránh tình trạng dồn việc về cơ sở mà không tính đến khả năng đáp ứng của từng cấp chính
quyền; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn tập trung thực
hiện quản lý theo lãnh thổ, ở địa bàn đô thị chú trọng thực hiện quản lý theo ngành, lĩnh vực.
Luật TCCQĐP quy định nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng của chính quyền đô thị, thể
hiện sự khác biệt với chính quyền nông thôn. Ngoài việc quyết định các vấn đề của địa
phương nói chung, chính quyền địa phương ở thành phố, thị xã còn quyết định các vấn đề quy
hoạch, xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng, quản lý và tổ chức đời sống dân cư đô thị... Nhiệm
vụ, quyền hạn của chính quyền quận, phường được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu quản lý
thống nhất, liên thông trong khu vực nội thành, nội thị.
1. Trước hết nói về đặc điểm của đô thị và yêu cầu quản lý nhà nước ở đô thị
Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị 2009 quy định: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh
sống có mật độ rất cao, lực lượng sản xuất tập trung cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực
21



2. Đặc điểm của nông thôn và yêu cầu quản lý nhà nước ở nông thôn
Quy định của pháp luật hiện hành đưa ra định nghĩa nông thôn theo cách tương phản
với đô thị[2]: nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã,
thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.
Nông thôn có các đặc điểm sau:
- Dân cư ở nông thôn cư trú tập trung trong nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong
sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định được
hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, phong tục, tập quán và
các yếu tố khác.
- Kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp mang nhiều yếu tố tự nhiên: nhà,
vườn, ao, ruộng, thường gắn với những điều kiện địa lý có sẵn (thường chiếm từ 50% lao động

22


trở lên), trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chính, ngoài ra còn có các nghề thủ công, chế
biến lương thực, thực phẩm, buôn bán nhỏ theo hộ gia đình.
- Chính trị ở nông thôn: ngoài hệ thống chính quyền xã, ấp, thôn do Nhà nước điều
hành trên cơ sở pháp luật còn có hệ thống cương vị chức sắc trong dòng tộc, già làng, thân
thuộc, tôn giáo… điều chỉnh hành vi của các thành viên bằng tục lệ hay quy ước.
- Văn hoá nông thôn chủ yếu là văn hoá dân gian, thông qua lễ, hội… để truyền những
giá trị thẩm mỹ, đạo đức, lối sống, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Văn hoá nông thôn đã bảo tồn được những giá trị quý báu mang tính truyền
thống, nhưng nó cũng chứa đựng những yếu tố không có lợi cho sự phát triển.
Yêu cầu quản lý nhà nước ở nông thôn:
Vì nông thôn có những đặc thù khác với đô thị, quản lý nhà nước ở nông thôn trước hết
phải phù hợp với những điều kiện của nông thôn. Đối với những khu vực nông thôn gắn với
đô thị, phát triển nông thôn phải kiểm soát được các tác động của quá trình đô thị hóa, hài hòa
và đồng bộ với phát triển đô thị. Phát triển khu vực nông thôn phải mang tính chiến lược với
xuất phát điểm nhằm giải quyết các vấn đề của đô thị. Yêu cầu quản lý nhà nước ở nông thôn

Về cơ sở hạ tầng: Ở khu vực nội thành, nội thị có tính thống nhất, liên thông và phức
tạp, tạo thành những mạng lưới, hệ thống đồng bộ, xuyên suốt địa bàn, không phụ thuộc vào
địa giới hành chính, đòi hỏi quản lý tập trung, thống nhất theo ngành là chủ yếu. Ở nông thôn
cơ sở hạ tầng còn đơn giản, chưa liên hoàn và chưa đồng bộ, đòi hỏi quản lý theo lãnh thổ là
chủ yếu, không có chức năng làm trung tâm và tính tập trung cao như ở đô thị
Về địa giới hành chính: cơ sở hạ tầng ở đô thị là một chỉnh thể thống nhất nên việc
phân chia địa giới hành chính trong khu vực nội thành, nội thị chỉ có ý nghĩa là khu vực hành
chính, mang tính chất quản lý hành chính là chủ yếu. Ở nông thôn, việc phân chia địa giới
hành chính gắn với các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra trong phạm vi địa bàn lãnh thổ đó.
Về quản lý: ở đô thị việc quản lý nhà nước về an ninh, trật tự an toàn xã hội, giao
thông, điện, nước, nhà ở, xây dựng, môi trường là vấn đề bức xúc hàng ngày và đa dạng, phức
tạp hơn nhiều so với quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực này ở nông thôn. Khác với nông
thôn, mỗi đô thị là một chỉnh thể kinh tế - xã hội thống nhất, ràng buộc chặt chẽ và phụ thuộc
trực tiếp vào nhau, không thể chia cắt, do đó bộ máy hành chính nhà nước ở đô thị phải mang
tính tập trung, thống nhất, vận hành thông suốt, nhanh nhạy và không thể bị cắt khúc như ở
nông thôn. Vì vậy, việc phân cấp, phân quyền giữa các cấp chính quyền trong nội bộ đô thị
(thành phố trực thuộc trung ương - quận - phường) hoặc tỉnh - thị xã, thành phố (thuộc tỉnh) phường không thể giống như phân cấp, phân quyền ở chính quyền nông thôn (tỉnh - huyện xã). Trong nội bộ đô thị, cần áp dụng cơ chế uỷ quyền, tản quyền của chính quyền thành phố,
thị xã cho các cơ quan quản lý hành chính cấp dưới (quận, phường) thực thi một số nhiệm vụ
quản lý hành chính cụ thể; tổ chức các cơ quan hành chính ở quận, phường như là “cánh tay
nối dài” của cơ quan hành chính thị xã, thành phố[4].
Về chức năng: chức năng chính của chính quyền ở địa bàn đô thị là tham gia phát triển
các dịch vụ đô thị, quản lý trật tự đô thị, bảo vệ môi trường, xây dựng khu phố văn hóa và nếp
sống thị dân,… Còn chức năng chính của chính quyền ở địa bàn nông thôn là thực hiện các
chính sách và triển khai các biện pháp nhằm giải quyết tốt các vấn đề như nông nghiệp, nông
thôn, nông dân; xây dựng nông thôn mới, phát huy truyền thống tình làng nghĩa xóm chăm lo
đời sống nông dân và cư dân ở nông thôn trên địa bàn khá rộng, địa giới hành chính phân định
tương đối rõ ràng theo điều kiện tự nhiên. Vì vậy, việc áp dụng mô hình tổ chức quản lý quận
như huyện, phường như xã là không phù hợp với đối tượng quản lý.
Chính sự khác nhau như trên đòi hỏi tổ chức bộ máy chính quyền đô thị phải có đặc thù
riêng để đảm bảo cho việc quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công ở đô thị được thực hiện

Về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ. Đã tập trung rà soát điều chỉnh các quy hoạch,
tạo cơ sở pháp lý cho phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ. Ban hành chương trình thực hiện
Nghị Quyết của Tỉnh ủy với 9 nhóm lĩnh vực quan trọng bao gồm: Giao thông, thủy lợi – nông
nghiệp, Giáo dục và đào tạo, văn hóa, y tế, điện, khoa học và công nghệ, các dự án Khu kinh
tế mở Chu Lai và các chương trình ODA.
Ủy ban nhân dân tỉnh làm việc với các ngành, địa phương, tiếp tục chỉ đạo quyết liệt
công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh, tập trung chỉ đạo
xử lý những vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng dự án mở rộng quốc lộ 1A và
đường cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi (đoạn qua tỉnh Quảng Nam); chỉ đạo đẩy nhanh công tác
GPMB phục vụ thi công các cầu treo trên địa bàn tỉnh; làm việc với Công ty Cổ phần Hàng
không Jestar Pacific Airlines về mở đường bay mới giữa thành phố Hồ Chí Minh - Chu Lai.
Chỉ đạo các chủ đầu tư tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc các nhà thầu, đơn vị thi công
tập trung nhân lực, thiết bị để đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án trên địa bàn tỉnh, nhất là
tập trung hoàn thành các công trình trọng điểm như: Cầu Cửa Đại, GPMB Cầu Giao Thủy, các
dự án du lịch ven biển Điện Bàn-Hội An, các dự án thuộc Khu Kinh tế mở Chu Lai và các
tuyến đường cứu nạn, cứu hộ…; tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ
công; thực hiện giải ngân, quyết toán, hoàn ứng các nguồn vốn xây dựng cơ bản đúng thời
gian quy định. Nổi bật nhất trong quý I năm 2015 là nhiều công trình trọng điểm của 5 năm
qua được khánh thành, đưa vào sử dụng nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng Quảng Nam như:
Tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng, Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh, Bảo tàng tỉnh, cầu Kỳ Phú 1&2,
nhà khách UBND tỉnh, Quảng trường 24/3, Trường THPT chuyên Lê Thánh Tông, cầu Ái
Nghĩa,...Đồng thời, khởi công một số công trình mới: Cầu Giao Thủy, dự án khu liên hợp Sợi
– Nhuộm - Dệt – May tại khu công nghiệp Đông Quế Sơn, dự án sửa chữa, nâng cấp hồ chứa
nước Khe Tân, hạ tầng khu công nghiệp Tam Thăng. Đặc biệt là chương trình xây dựng nông
thôn mới trong những năm qua đã trở thành phong trào sâu rộng trong đại bộ phận quần chúng
nhân dân tỉnh Quảng Nam và đạt được những thành quả đáng kể. Điều này chứng tỏ các cấp
ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ở các cấp, các ngành, các địa
phương đã thật sự chăm lo đến sự phát triển của địa phương nói chung và việc thực hiện 19 chỉ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status