Sở giáo dục và đào tạo Bắc Giang
Phòng giáo dục trung học
................................................
Một Số t liệu
phục vụ dạy học lịch sử lớp 11
chơng trình THPT phân ban
...........................
Bắc Giang, tháng 12 năm 2007
1
Sở giáo dục và đào tạo Bắc Giang
Phòng giáo dục trung học
................................................
Hớng dẫn sử dụng kênh hình
Sách giáo khoa lịch sử lớp 11 THPT phân ban
Chơng trình nâng cao
...........................
Bắc Giang, tháng 10 năm 2007
2
T liệu lịch sử 11
T liệu tham khảo
1.Việc xử tử Vua Lu-i XVI (21 - 1 - 1793)
Sau khi chính quyền chuyển sang phái Gi-rông-đanh, nền cộng hoà đợc thiết lập. Vấn đề xét xử
Lu-i XVI đợc đặt ra. Trong việc nghị tội nhà vua ở Quốc hội, tuy có một số ngời phản đối việc xét xử
là không hợp pháp, song nhiều ngời đã kết tội Lu-i XVI đã tiến hành chiến tranh với nhân dân, là
kẻ thù của nhân dân ngày 20-11-1792, ngời ta đã phát hiện chứng cứ về tội ác của nhà vua về việc
bí mật liên hệ với bọn ngời lu vong ở nớc ngoài và bị xử tử.
Ngày 21-1-1793, nhà vua bị đa đến nơi hành hình. Hôm ấy trời ma, dọc đờng giới nghiêm cẩn
mật.
Nơi hành hình là quảng trờng cách mạng. Đài xử tử đợc đặt trên cao, chung quanh có quân lính
canh phòng, 10h10 phút, Lu-i XVI đa lên đoạn đầu đài và bị xử tử. Quần chúng vui mừng và hô to
Quốc dân muôn năm!.
nhà thần học Do Thái. Vì sự bất đồng ý kiến với cha, ông Herich mác buộc phải dời khỏi nhà cha mẹ và tìm cách
tiến thân trong cảnh nghèo nàn, túng bấn, khổ cực. Bằng nghị lực phi thờng của mình, Herich Mác đã tốt nghiệp
3
Đại học Luật, rồi làm luật s, cố vấn t pháp. ông có t tởng tiến bộ, say mê đọc các tác phẩm của các nhà triết học ánh
sáng Pháp và tham gia phong trào chống bọn phản động ở đây.
Mẹ của Các Mác là Henrietta Mác, họ Prếtbuốc, con gái của một vi pháp s Do Thái uyên bác. Bà là một ngời
vợ và ngời mẹ tận tuỵ, yêu thơng chồng còn, cần kiệm và rất lo lắng đến tơng lai của con cái, vì thế bà đã theo gơng
chồng đi theo đạo Tin lành. Đối với một ngời đàn bà nội trợ Đức, nh ngời ta thờng nói thời bấy giờ, có bốn đức tính:
concái, nhà thờ, bếp núc và quần áo. Bà Henrietta đúng là mẫu ngời nh vậy.
Ông bà Herich Mác có bốn con trai và năm con gái. Các Mác là con thứ ba, đ ợc bố mẹ quý nhất, vì cậu thông
minh và năng động. Các Mác nói với cha tất cả những điều mình nghĩ, không chút giấy giếm. Còn Herich Mác thì
không bao giờ cau có mắng mỏ con, mà lúc nào cũng tìm hiểu con một cách âu yếm. Là một nhà t tởng tiến bộ, ông
thấy trong ý kiến của con có chung t tởng với mình. Ông không hề nghĩ rằng con thân yêu của ông sẽ trở thành một
nhà cáchmạng lớn, nhng ông tin rằng con ông sẽ không đến nỗi vô ích cho xã hội.
Thuở nhỏ, Các Mác sống hạnh phúc giữa cha mẹ và các anh chị em. Gia đình d dật, nhng vẫn sống giản dị và
cần cù lao động. Các Mác là một cậu bé có nghị lực lớn và rất nhanh trí. Gần thành phố có một ngọn đồi, Các (gọi
theo tên lúc nhỏ của Các Mác) thờng cùng các chị ra chơi ở đấy. Các bắt các chị làm ngựa cỡi và bắt phi nớc đại lên
đỉnh đồi. Sau đó, Các làm một thứ "bánh ngọt" bằng nắm bột bẩn với đôi bàn tay còn bẩn hơn nữa để khao các chị.
Nhng các chị vẫn không giận và chiều theo ý Các để đợc nghe kể chuyện cổ tích. Từ bé, Các đã có biệt tài về kể
chuyện cổ tích. Bạn bè vừa yêu Các, vừa có ý nể Các. Trong trò chơi nào, Các cũng là ngời dẫn đầu vui vẻ, nhng khi
có việc không đồng ý thì Các cũng tỏ thái độ phản đối ngay.
Năm 1830, Các Mác vào học ở trờng Trung học thành phố Tơriơ. So với các bạn cùng lớp, Mác ít tuổi hơn, nh-
ng lại học rất giỏi. Kỳ thi từ lớp Đệ tam lên Đệ nhị (trờng trung học có bốn lớp từ Đệ tứ đến Đệ nhất), Mác đợc
khen về môn Cổ ngữ (tiếng Hy Lạp và Latin); trong lớp đệ nhất, Mác lại đợc khen về tập làm văn tiếng Đức. Ngay
tại trờng học này, Mác đã biểu lộ quan điểm và thái độ của mình. Trong một bài luậnlàm tại lớp, đầu đề là: "Suy
nghĩ của một thanh niên trong việc chọn nghề", Mác đã viết: " Chúng ta có thể chọn nghề nào đem lại cho chúng
ta phẩm chất cao quý nhất, dựa trên những t tởng mà chúng ta hoàn toàn tin chắc vào sự đúng đắn của nó, nghề nào
mở ra một phạm vi hoạt động rộng lớn nhất cho nhân loại .". Nhận thức về cuộc sống của cậu học sinh m ời bảy
tuổi này sẽ theo đuổi suốt cuộc đời cách mạng Các mác. ở trờng Trung học có nhiều giáo viên tiến bộ, hoạt động sôi
nổi trong phong trào chống chính phủ. Chính quyền thành phố đã bố trí một số giáo viên phản động để theo dõi và
cùng chơi đùa trong khu vờn của gia đình Vetphalen hay chạy lên chơi trên ngọn đồi gần nhà. Đám trẻ nhỏ đó gồm
có Gienny, Etga (em Gienny), Các Mác và các chị em của Các Mác. Sau khi chơi đùa xong, bọn trẻ nhà Mác là
những vị khách thờng xuyên ở ngôi nhà của gia đình Vetphalen. Cha của Gienny thờng đọc thuộc lòng những bài ca
của Hôme và nhiều màn kịch của Sêcẽpia cho bọn trẻ nhà ông và Mác nghe.
Năm mời hai tuổi, Các Mác và Etga phôn Vétphalen (em của Gienny) bắt đầu tới trờng Trung học ở Tơriơ, còn
Gienny mời sáu tuổi (Gienny hơn Mác 4 tuổi) cũng bắt đầu bớc vào giới thợng lu, thờng xuyên tham gia những buổi
khiêu vũ, hoà nhạc,diễn kịch trong những tối dạ hội hay những cuộc đi chơi tập thể ra vùng ngoại ô. Là con gái của
một gia đình phong lu và danh giá, hơn nữa lại thuộc giới quý tộc, cô luôn luôn đợc những chàng trai quý tộc thợng
lu, hào hoa bao quanh. Ngời ta gọi cô là "Cô gái đẹp nhất thành Tơriơ", "Nữ hoàng của các vũ hội". Nhng cuộc sống
hào nhoáng của giới thợng lu không thu hút cô. Với tính thẳng thắn và óc phê phán đặc biệt, cô đã thấy tính tham
lam khéo đợc che đậy và sự khao khát quyền hành, tính giả dối và tính hiếu danh, sự trống rỗng tầm thờng và tính
ngạo mạn đần độn của những ngời thuộc giới mình; cô từ chối tất cả những lời "cầu hôn" của các thanh niên quý
tộc, quan chức sang trọng và thơng nhân giầu có.
Năm mời bảy tuổi, Các Mác tốt nghiệp trờng Trung học ở Tơriơ, phải vào học ở trờng đại học Bon. Các Mác
bấy giờ đã cao lớn hơn hẳn lên, không chỉ trởng thành về tầm vóc, mà phát triển cả về trình độ t duy, vợt xa những
ngời cùng thế hệ. Gienny cảm thấy sự chênh lệch về tuổi tác (cách nhau 4 tuổi), không còn đáng kể nữa. Hai ngời
đã kết thân với nhau, yêu nhau thắm thiết và rất ý hợp tâm đầu về những quan điểm chung.
Một năm sau, Các Mác trở về Tơriơ để nghỉ hè trong ngôi nhà của cha mẹ mình. Các và Gienny đã hứa hôn với
nhau, khi đó Các mời tám tuổi và Gienny hai mới hai. Mối quan hệ giữa Các và Gienny rất xa lạ đối với giới thợng
lu của xã hội thời đó, vì vậy lúc đầu họ phải giấu kín việc đó. Các chỉ giám thổ lộ điều bí mật đó với cha và chị
Xôphi của mình. Đó là niềm an ủi và là chỗ dựa cho Gienny để cô đấu tranh với những ngời cản trở hạnh phúc của
cô (trong đó quyết liệt nhất là ngời anh cùng bố khác mẹ của cô - Phécđinan phôn V cphalen, sau này làm Bộ tr ởng
nội vụ vơng quốc Phổ). Cuối cùng, gia đình Gienny đã phải chấp nhận lời cầu hôn của Các Mác, vì cha mẹ cô hiểu
con gái họ thà chết chứ không chịu từ chối ngời bạn mà mình đã lựa chon. Nhng Các Mác và Gienny phải đợi bẩy
năm nữa thì họ mới đợc thành hôn.
Bốn năm sau ngày hứa hôn, năm 1841, Các Mác nhân bằng tiến sĩ ở trờng đại học Iêna: năm đó Các Mác 23
tuổi và Gienny 27 tuổi. Khi đó Mác có ý định làm giảng viên ở trờng đại học Bon: rồi sẽ kết hôn với Gienny. Nhng
kê hoạch của Mác bị vỡ, vì chính phủ phản động ở Phổ không cho Mác giảng dậy ở trờng đại học. Trở về Tơriơ,
Mác đã phối hợp với một nhóm đại biểu của giai cấp t sản tự do ở Côlônhơ chuẩn bị phát hành tờ Báo Rênani. Năm
1942, Mác đến Côlônhơ, bắt đầu làm cộng tác viên chính, sau đợc chỉ định làm chủ bút tờ Báo Rênani . Báo Rênani
sức sắc sảo, anh cứ tởng tợng Rutxô, vônte, Hônbắc, Letxinh, hain vả Hêghen cuàng kết hợpp lại troang một ngời,
tôi nói là kết hợp, chú không phải trộn lẫn vào nhau, anh sẽ có đợc tiến sĩ Mác. Vì thế, sau khi hết hạnh tại ngũ,
tháng 11-1842, Enghen đã ghé qua Côlônhơ, gạp Các Mác ở phòng chru báo Rênani.
Cuối năm 1842, Enghen đợc cha ông phái sang Manchextơ (Anh) để làm việc với t cách là một nhân viên
thoụuc hãng của cha ông. Manchextơ là một trung tâm công nghệ đệt lớn của nớc Anh. Trái bới ý nhgĩ của cha ông
muốn biế ông thành chủ xởng, Enghen quyết định tìm hiểu đời sống của những ngời lao động. Ba nm sau, công
trình nghiên cứu của Enghen ra đời : Tình cảnh gia vấp công nhân Anh!. Bằng những chứng cớ sinh động của
cuộc sống và những tài liệu phong phú của chính quyền t sản, Enghen đá vẽ lên bức tranh hiện thực của cụôc đời
những ngời lao động. Qua đó, ông đơcị coi lf ngời đâùy tiên phát hiện sự mạng lịch sử vĩ ddaij của giai cấp công
nhân trong công cuộc đấu tranh giải phóng lao động, xây dựng xã hội mới không có áp bức, bóc lột.
Sau cuộc gạp gỡ mời ngày, Mác và Enghen trở thành hgai nghwời bạn chí tân và hết lòng cộng tác với nhau
trong hoạt động sáng tạo lí luận về chủ nghĩa xã hội khoa học và lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của giai
cấp công nhân . Các chính phủ pảnh đọng châu Âu luôn luôn theo dõ , kiểm soát và trục xuất Các Mác . Nghèo túng
và bệnh tật thờng xuyên ám ảnh cuộc sống của gia đình Mác, Enghen, ngời vẫ căm ghét lối sống t bản chả nghĩa ,
không thể dung hoà với t tởng cộng sản chủ nghĩa của ông, đac phải quay lại làm th ký hãng buôn của cho ông ở
6
thành phố Manchextơ (Anh) troang suôta hai mơi năm (1850-1870) để có tiền giúp đơc bạn. Không có sự hi sinh
của Phriđríc Enghen thì Mác không có điều kiện để hoàn thành tác phẩm lú luộn vĩ đại cảu cách mạng vô sản
Bộ T bản (quyển th nhất đợc xuất bản vào thánh 9-1867), quyển sách đợ coi nh quả đại bác dữ dội nhất băn vào
đầu bọn t sản.
Sau khi Mác qua đời (4-3-1883), Enghen đảm nhận trách nhiệm vẻ vang và nặng nề trong việc lãnh đại phong
trào cách mạng vô sản quốc tế. Ông nhận trách nhiệm hoàng thành xuất bản công trình đồ sộ T bản của Các Mác ,
trong hơn 10 năm (quyển II xuất bản năm 1885 và quyển III năm 1894). Nói về tình bạn giữa Mác và Enghen, V.I.
Lênin viết: những truyện cổ tích thờng kể lại những tấm gơng cảm động về tình bạn. Giai cấp vô sản châu Âu có
thể nói rằng ;Khoa học của mònh là tác phẩm sáng tạo của hai nhà học giả kiêm chiến sĩ mà tinàh bạn đã vợt xa tất
cả những gì là cảm động nhất troang truyền thuyết cảu đời xa. Là con ngời hết mực khiêm nhờng, Enghen thờng
nói: Khi Mác còn sống, tôi vẫn là câu đàn violông thứ hai bên cạnh Mác. Sự anghiệp cảu Mác và Enghen thật vĩ
đại, sự nghiệp ấý lại đợc tô điểm bởi tình bạn đẹp đẽ và cảm động giữa hai ngời
7. Công Lao của Ph.Enghen trong việc xuất bản quyển II và III bộ T bản của Các Mác
Mác qua đời (4-3-1883) đã khiến Enghen vô cùng đau đớn. Bạn bè thấy sức khoả cảu ông ngày một yếu đi,
sớng với công việc này. Một lần, ông thổ lộ với một ngời bạn: Chỉnh lí những di cảo của con ngời cẩn thận từng
chữ nh Các Mác cần phải bỏ ra một công sức lớn. Song đó lại là việc mà tôi yêu thích, vì tôi lại đựợc ở bên cạnh
ngời bạn già của tôi. Qủa là Ph.Enghen đã bỏ ra phần công xức rất lớn để xuất bản quyển II và III bộ T bản, nên
chỉ thể nói tác phầm này là do Mác và Enghen cùng sáng tạo nên.
Khi quyển III bộ T bản xuất bản (1894), Enghen đã 74 tuổi, ông vẫn còn mang hoài bão sẽ xuắt bản quyển IV
bộ T bản. Nhng đến mùa xuân năm sau, ông bị bệnh viêm thực quản. Mọi công việc đều phải ngng lại. 11 giờ đêm
ngày 5-8-1895, ngời bạn thân thiêt nhất của Các Mác Ph. Enghen - đã qua đời. Theo lời di chúc của Enghen,
ngày 27-8, mấy ngời bạn của ông ngồi trên chiếc thuyền con đi ra bờ biển nớc Anh, đến một mỏm đá cách bờ đùng
hai dăm, thả tro xơng của ông xuống biển cả. Đông thời cũng tại bờ biển này, ngời ta cắm một cột mốc để làm kỉ
niệm vĩnh cửu, nơi đã thả di cốt của ngời thầy vĩ đại, của chủ nghĩa cộng sản, ngời chiến sĩ kiên cờng âur giai cấp
vô sản, ngời đông chí trung kiên và ngời bạn hết mực khiêm nhờng của Các Mác Phriđríc Enghen.
9 .Công xã Pa-ri
Công xã Pa-ri mở cuộc họp các ủy viên công xã tại tòa Thị chính
Sau cuộc khởi nghĩa 18-3-1871, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên, ban chấp hành Trung ơng
Quốc dân quân tổ chức cuộc bầu cử Hội đồng công xã- nhà nớc kiểu mới - vào ngày 26-3-1871. Hội
đồng công xã gồm nhiều Uỷ ban, đứng đầu mỗi Uỷ ban là một uỷ viên công xã, chịu trách nhiệm tr-
ớc nhân dân và có thể bị bãi miễn. Mỗi uỷ ban gồm từ 5-8 ngời. Các cuộc họp của hội đồng công xã
thờng tiến hành ở toà thị chính rất trang nghiêm.
Toà thị chính đợc xây dựng vào thế kỉ XVI ở trung tâm một quảng trờng rộng lớn, trớc đó dùng
làm nơi hành hình những tù phạm tội bị án xử tử. Toà nhà đợc xây dựng theo thiết kế của kiến trúc
s Đô-mê-ni-cô đa Coóc-tô-na. toà thị chính là nơi làm việc của cơ quan đầu não của chính quyền
thành phố Pari. Toà nhà đợc kiến trúc theo phong cách thời kì Phục hng.
Ngày 28-5-1871, quân đội chính phủ t sản phản động, đứng đầu là Chi-e đã phá huỷ ngôi nhà
này. toà thị chính đợc xây dựng lại nh ngày nay, đợc hoàn thành vào năm 1882.
Công trình kiến trúc liên hợp này thực sự uy nghiêm và độc đáo với những sảnh đờng khác nhau
đợc che bằng các mái vòm hình tháp cụt và một rừng tợng ở các góc tờng. Chí ít ra thì cũng có tới 136
bức tợng nằm trên 4 mặt tiền của toà nhà; và trên dãy nhà còn có một bức tợng Etiênn Marcel. Đó là
ngời cầm đầu các thơng gia Pari thể kỉ XIV. Qua hàng thế kỉ, toà nhà đã trở thành nơi xảy ra các sự
kiện lịch sử quan trọng. Sự kiện bi thảm nhất có lẽ đã xảy ra vào sáng ngày 27-7-1794 (tức ngày 9
tháng Tecmido, theo lịch sử của chính quyền cách mạng Gia cơ banh - chúng tôi chú, NNP).
troang viêv phản bội tổ quốc là Giuyn Phavrơ (Jules Favre), Bộ trởng Ngoại giao. Háng là hạng ngời
cấp tiến cửa miệng. Trong thời Đế chws, háng thờng đọc những bài diễn văn Phản đối Đế chế,
thực ra lại bợ đỡ những chính sách phản động của Đế Chế II. Khi làn Bộ trởng Ngoại giao của chín
phủ Vệ quốc, Phavrơ thề sống thề chết không nhờng một tấc đấy của Tổ quốc cho quân Đức. Nhng
hắn lại đã đến gặp Bixmacs ở Vùcai để xin ký hoà ớc và phái Chie (Thiers) chaỵ vạy khắp châu Âu
cầu xin đầu hành. Cũng nh Tơrôsuy, sau cuộc phản động trắng trợn này, Phavrơ đã bị gạt ra khỏi
vũ đài chính trị, trớc sự lên án và áp lực của quần chúng nhân dân Pari. Ngoài ra còn Chie, tên
Quỷ lùn quái dị (lời của Các mác), Giuyn Ximông, kẻ hám danh vọng không kém gì hàn vang,
Guyn Phẻi, kẻ vô tài vô hạnh, Llêmăng Tôma, Vinoa, nhứng kẻ coi mạng của ngời nghèo nh sâu
bọ...Lũ bán nớc, hại dân ấy đã giành lấy nhiệm vụ Quốc phòng và Bảo vệ Pari!
Ngày 28-1-1872, chính hủ Vệ quốc kí Hiêpj định đình chiến vơứi Chính phủ Vơng quốc Phổ.
Theo đòi hỏi của Bixmác, troang thời gian đình chiến (Ba tuần), nớc Pháp phải bầy ra một Quốc hội
để thông qua hoà ớc với phổ. Phổ không tha nhận chính phủ Vệ Quốc, mà muốn đợc danh nghĩa kí
kết với một chính quyền do Quốc hội bầu ra, thì hoà ớc có giá trin hpn. Cuộc bầu cử tiến hành ngày
8-2-1871, đại đa số ngời trủng cử Quốc hội là đại chả, tăng lữ và t sản phái hữu (Trong sôa 750 đại
biểu Quốc hôih có đến 450 tên bảo hoàng).
Quốc hội họp ở Boócđô ngày 12-2-1871 thành lập chính phủ mới, sau đó chuyển về Vecxau, do
Ađôngphơ Chie (Adolphe Thiers) đớng đầu. A.Chie (1797-1877) nguyên là một luật s, ký giả và sử
giả. Trong cuộc đấu tranh cách mạng 1830, hắn trở thành tên phản động khét tiếng, đã từng đàn áp
khởi nghĩa của công nhân. Sau cách mạng 4-9-1870, Chie có ảnh hởng lớn tới chính sáh của Chính
phủ Vệ quốc. Hắn là một ngờu giảo quyệt, tành nhẫn, tham lam, không từ một thủ đoạn nào để
năm quyền lực, đồng thời là kẻ tử thù của cách mạng , cảu gia cấp công nhân. Ngày 26-2-1871, Chie
đứng đầu Chính phủ pháp, ký Hiệp ớc sơ bộ Vecxai, nhận những điều kiện hoà bình nhục nhã, đi tới
ký hoà ớc Phranphuốc (10-5-1871), troabg đó có nhữg điều khoản nh: Pháp phải trả khoản bồi thóng
chiến tranh 5 tỉ phởăng, phải nhờng tỉnh Andát và một phần tỉnh Loren cho Đác, một số pháo đào ở
Pari bị quân Đức chiếm đóng. Thật là ô nhục, song bọn cầm đầu Chính phủ lại hí hửng vì đợc rảnh
tay chuẩn bị tớc vũ khí của Vệ quốc quân và tiêu diệt cách mạng.
Cuộc cách mạng vô sản ngày 18-3-1871
9
Sau khi rảnh tay với quân xâm lợc Phổ, giai cấp t sản Pháp liền quay lại tấn công giai cấp công
Cuộc khởi nghĩ ngày 18-3-1871 là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên thành công trong lịch sử.
Chính quyền giai cấp vô sản bị lật đổ , chính quyền vô sản đợc thành lập.Uỷ ban trung ơng Vệ quốc
quân làm nhiệm vụ của một chính phủ cách mạng lâm thời.
Cuộc bầu cử hội đồng công xã và lễ tuyên bố thành lập công xã Pari
Cuộc bầu cử Hội đồng công xã theo lối phổ thông đầu phiếu thực sự đân chủ đã đợc tiến hành
ngày 26-3-1871. Tuy bọn phản động đủ màu sắc tổ chức biểu tình (không quá 1000 ngời), bắn súng
khiêu khích, giai cấp t sản phỉ báng, thị trởng và các khu trởng phản kháng kịch liệt; nhng cuộc bầu
cử vẫn đợc tiến hành. Gần 300.000 công đan Pari đã đi bỏ phiếu. Mọi ngời mặc những bộ quần áo
đựp nhất, nô nức kéo nhau đến các pòng bầu cử, chọn những ngời đại diện của mình, không bị đe
doạ, mua chuộc, lừa phỉnh những cuộc bầu cử trớc đây. Cuộc bầu cử Hội đồng cống xã Pari ngày 26-
3-1871 thứcự là ngày hội lớn của nhân dân Pari. Trong 85 đại biểu trúng cử, có 28 công nhân, số
đông còn lại là những trí thc (thầy thuốc, thầy giáo, nhà báo...). Trong bầu cử Hội đồng công xã Pari
10
có khoảng 30 uỷ viên của Quốc tế I. Nh vậy, về cơ bản, Công xã bao gồm những đại biểu của quần
chúng lao động thủ đô. Tuy công nhân không chiếm đa số, nhng là lực lợng lãnh đạo, vì họ là giai
cấp cách mạng và đờng lối của hộ chi phối hoạt động của Công xã.
Ngày 28-3-1871, Công xã tuyên bố thành tập một cánh trang trọng ở quảng trờng toà Thị
chính, giữa một biển ngời bao la. Mặt trớc của Toà Thị chính đợc trang hoàng lộng lẫ. Cờ đỏ bay
phất phới khắp nơi. Vải đỏ phất phới khắp nơi. Vải đỏ cho lấp bức tợng oai nghiêm của vua Hăngri
IV và trùm lên một cái bàn dài, nơi dùng làm lễ đài, các Uỷ viên Công xá sẽ ra mắt quốc dân trong
bộ đồng phục Vệ quốc quân. Mời vạn Vệ quốc quân, động ngữ chỉnh tề, lỡi gơng tuất trần, biểu dơng
lực lợng trức lễ đài. Nhân đãn kéo đến quản trờng từ sáng tinh mơ, chật kín hè phố. Sau khi Uỷ ban
trung ơng Vệ quốc quân công bố danh sách các uỷ viên Công xã và trao quyền cho Công xã, các uỷ
viên công xá đều quàng băng đỏ ra mắt quốc dân. Tiếng hoan hô vang dậy: công xá muôn năm!.
Tiếng đại bác chào mừng rung chuyển đất trời. Các đoàn uqqn nhạc cử Quốc ca (Cài Macxâye).
Hàng trăm nghìn ngời hát theo nh sấm động
Các uỷ viên Công xã anh hùng
Các uỷ viên Công xã mới đợc bầu lên, theo một nhà văn thời bấy giờ viết, là những nhân vật vô
cùng trung thực, chân thành, thông minh, tận tuỵ, trong sạch và Cuồng tín hiểu theo nghia tốt
của nghĩa này. Phusăng (Pustave Flouten, 1838-1871), con tai một nhà khoa học nổi tiếng, đã dấn
Trên đóng đá thô sơ phủ đầy hoa lá
ĐờLêcluydơ đi đến cái chết, hiên ngang.
Đômbrôxki (Dombrowski, 1836 - 1871), một chiến sĩ ngời Ba Lan, một nhà quân sự tài ba, ngời
đã chiến đấu không mệt mỏi cho chính nghĩa, cho cách mạng trên nhiều chiến trờng châu Âu. Xuất
thân trong một gia đình quý tộc nghèo Ba Lan, Đômbrôxki đã sớm dời bỏ gia đình để tham gia cách
mạng. ở Vacxava, ông liên lạc với các quan tiến bộ Ba Lan, thảo một kế hoạch khởi nghĩa chống đế
quốc Nga đang thống trị nớc ông. Việc bại lộ ông bị bắt và bị xử đày tại Xibia 15 năm. Nhờ bạn bè
giúp sức, ông vợt ngục, trốn sang Pháp; đó là năm 1865. Đến Pari, ông sống bằng nghề vẽ và tiếp tục
hoạt động cách mạng. Từ ngày 18-3, ông tham gia quân đội về quốc và giữ nhiều trọng trách trong
việc tổ chức và huấn luyện quân đội Về quốc. Đầu tháng 4 ông đợc giao chỉ huy cuộc phòng ngự ở
phía tây, tỏ ra có một tài năng quân sự phi thờng và trung thành tuyệt đối với Công xã. Không chỉ
phòng ngự, Đômbrôxki còn chuyển sang tấn công đánh cho địch những đòn rất nặng nề. Ngày 24-4
ông đã đánh chiếm đợc khu vực Nơii (Neuilly), nhng đến ngày 17-5, lại phải rút lui, vì không đợc
tiếp viện. Đầu tháng 5, ông giữ nhiệm vụ Tổng t lệnh các lực lợng vũ trang của Công xã. Bọn gián
điệp chui vào đợc cả Bộ tổng tham mu, tìm cách mua chuộc Đômbrôxki nhng vô ích. Khi quân
Vecxai và Pari, ông chiến đấu rất anh dũng, đánh bại quân thù trên nhiều mặt trện Ngày 23-5,
Đômbrôxki bị tử tơng trên chiến luỹ Mira (Myrrha) và trút hơi thở cuối cùng tại một bệnh viện. Nhà
báo Công xã Vecmoren đã ca ngợi ông là một bó đuốc và anh hùng của nền cộng hoà thế giới
Phranken (Frankel) vốn là thợ kim oàn ngời Hungari, sang Phá trong thập niên 60, rất thân với
Vaclanh. Cũng nh Vaclanh, Phranken là uỷ viên chấp hành của chi bộ Pari của Quốc tế I và gần gũi
với Mác. Phranken đợc khu XII bầu vào Công xã và giữ chức vụ Bổ trởng Bộ Lao động của Công xã,
năm 27 tuổi. Ngày 30-3, Phranken viết th thỉnh thị Mác về vấn đề triệt để cải tạo quân hệ xã hội.
Từ đó tới ngày cuối cùng của Công xã, Mác liên tục th từ cho Phranken và Vaclanh qua Êlidavêta
Đimitriêva, một phụ nữ cách mạng Nga lu vong. chính Êlidavêta Đimitriêva ngời tổ chức lao động
cho phụ nữ Pari thời kì Công xã và chiến đấu trên chiến luỹ, đã cứu đợc Phranken bị thơng thoát
khỏi tay bọn khát máu Vecxai.
Giuốcđơ (Jourde), Bộ trởng Tài chính, là một tấm gơng liêm khiết hiếm có. Tuy nắm trong tay
một kho tiền bạc của Công xã nhng ông vẫn ăn cơm tháng ở một quán cơm xoàng xĩnh ở phố Luých
xăm bua. Vợ ông vẫn hàng ngày đi giặt giũ ở máy nớc công cộng và con ông học ở một trờng học bình
dân, không phải đóng tiền học.
thời điểm chiến sự đang diễn ra quyết liệt, Chie và đồng bọn đã kí kết với Bixmac một hoà ớc nhục
nhã tại Phranphuóc (10-5-1871) van xin Bixmac thả 100.000 tù binh Pháp ở biên giới trở về Vecxai
với đầy đủ súng ống, để tăng cờng lực lợng cho Chie
Ngày 20-5, quân đội Vecxai bắt đầu tổng công kích, 3 giờ chiều ngày chủ nhật 21-5 bọn gián
điệp trong khu t sản ở phía tây Pari đã mở cửa thành Bình Minh (Point du Jour) ở khu Ôtơi, nơi
không ai canh giữ, để quân Vecxai xông vào nội thành. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt trên các đờng
phố, kéo dài trong một tuần lễ (từ 21 đến 28-5), lịch sử goi là Tuần lễ máu Quân Vecxai tiến dần
vào trung tâm thành phố dọc theo bờ bắc sông Xen. Các chiến sĩ Công xã chặn đánh quân thù từng
bớc, bảo vệ dũng cảm từng căn nhà, khu phố. Chiến sự lan dần đến khu công nhân ở phía đông.
Trong những khu công nhân, không chỉ thanh niên nam giới, mà cả ngời già, phụ nữ, trẻ em đều lên
chiến luỹ. Thế giới phải ngạc nhiên và khâm phục về những tấm gơng của phụ nữ và thiếu nhi Pari.
Có những chiến luỹ hoàn toàn do phụ nữ xây dựng và chống giữ nh ở Quảng trờng trắng. hàng vạn
nữ công nhân đã làm công tác cứu thơng, đảm nhiệm những trạm y tế lu động, cứu sống biết bao th-
ơng binh, hình ảnh của tiểu đoàn nữ chiến sĩ chiến đấu dới sự chỉ huy của cô giáo Luidơ Misen mãi
mãi tiêu biểu cho tinh thần bất khuất của phụ nữ lao động Pháp. Mời bảy thiếu niên xây dựng lên
một chiến luỹ và tự bảo vệ. Tiêbô (Thiebaud), mời bốn tuổi, vừa chở một thùng rợu đến chiến luỹ
xanh Uen cho Vệ quốc quân, thì quân Vecxai ập đến. Em đã chọc thủng thùng rợu, giằng lấy khẩu
súng của một chiến sĩ vừa ngã xuống, bắn chết một sĩ quan Vecxai, rồi trốn thoát. Băngđơrítte
(banderitte) bắn nhau với quân thù suốt mời ngày đêm, cho đến khi bị thơng không chiến đấu đợc
nữa. Nhiều thiếu niên anh hùng vô danh khác đã hi sinh bên chiến luỹ.
Ngày 27-5, quân Vecxai chiếm khu công nhân Benvin. Gần hai trăm chiến sĩ Công xã rút vào
nghĩa địa Cha Lase chiến đấu trên từng nấm mồ . Đến chiều, những ngời sống sót bị dồn đến trớc t-
ờng nghĩa địa và bị bawnscheets hết. Bức tờng này, sau trở thành nơi hằng năm nhân dân Pháp và
nhân dân thế giới tới thăm viếng, tởng nhớ, ngỡng mộ sự hi sinh cao cả của những chiến sĩ Công xã.
13
10 giờ sáng chủ nhật 28-5, trung tâm kháng chiến cuối cùng của Công xã ở phố Răngponnô bị
tấn công. Một nhóm chiến sĩ còn lại trên chiến luỹ tiếp tục chiến đấu chống lại quân thì đến 2 giờ
chiều.
Cuộc tàn sát trong Tuần lễ máu và những ngày sau đó, do tên " quỷ lùn" Chie chỉ huy, kinh
khủng không bút nào tả xiết. Cả Pari biến thành một lò sát sinh khổng lồ, ớc tính có đến 30.000
Sau cuộc khủng bố dã man, phong trào đấu tranh của nhân dân nổ ra mạnh mẽ. Ngày 9-1-1905 trở thành ngày
mở đầu của cách mạng Nga 1905-1907.
Bônsêvich
Khuynh hớng cách mạng triệt để trong phong trào công nhân xuất hiện ở nớc Nga vào đầu
thế kỷ XX.
Gắn liền với khuynh hớng chính trị này là một chính đảng chính trị của giai cấp vô sản đợc
hình thành vào năm 1903 do kết quả của cuộc đấu tranh của những ngời Macxit Nga, đứng đầu là
V.I.Lênin. Từ Bônsêvich xuất hiện tại Đại hội II của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga vào
14
tháng 7/1903, tại Luân Đôn. Những ngời ủng hộ Lênin thu đợc đa số phiếu trong cuộc bầu cử vào
Ban Chấp hành Trung ơng, do đó đợc gọi là phái đa số (Bônsêvich); những ngời chống lại Lênin
thu đợc số phiếu ủng hộ ít hơn. chiếm thiểu số (Mensêvich).
Cơ sở lý luận của chủ nghiã Bônsêvich là chủ nghĩa Mác-Lênin.
Lịch sử của chủ nghĩa Bônsêvich là lịch sử của Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ năm 1903 đến
năm 1952, danh từ Bônsêvich đã trở thành tên gọi chính thức của Đảng: Đảng Công nhân xã hội
dân chủ (Bônsêvich) Nga (1918), Đảng cộng sản (Bônsêvich) Liên Xô (1925), mãi tới năm 1952, mới
đổi tên thành Đảng Cộng sản Liên Xô.
12.Chiến tranh Nga Nhật (1904-1905)
Cuộc chiến tranh giành quyền thống nhất thuộc địa ở Viễn Đông, và cũng là một trong
những cuộc chiến tranh đế quốc đầ tiên để phân chia lại thế giới giữa các đế quốc.
Vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, cả nớc Nga sa hoàng và Nhật Bản đều muốn bành tr-
ớng mở rộng phạm vi ảnh hởng của mình ở Trung Quốc và Triều Tiên. Trong khi đó, Anh và Đức lại
mong muốn làm cho nớc Nga suy yếu. Mỹ cũng muốn nhảy vào Viễn Đông. Chính sách đó của các đế
quốc làm cho mâu thuẫn Nga Nhật ngày càng trở lên sâu sắc. Hơn nữa trong lúc này, những mâu
thuẫn trong nớc Nga (giữa nhân dân với Chính phủ Nga, giữa các dân tộc bị áp bức với chính quyền
Nga, giữa nông dân với địa chủ phong kiến, giữa công nhân với t sản.v.v)cũng ngày càng gay
gắt.Chính phủ nga hoàng muốn hớng mâu thuẫn đó ra ngoài bằng một chiến thắng với đế quốc
Nhật Bản. Cuộc chiến tranh Nga Nhật Bản nổ ra
Bớc vào cuộc chiến, Nhật yếu hơn Nga cả về kinh tế và quân sự, nhng lại nắm đợc thế chủ
động của Nga cha chuẩn bị đầy đủ cho cuộc chiến tranh. Lực lợng quân đội Nhật tham chiến gần 1,2
chiếm thuộc địa.
13.Trận hải chiến giữa hạm đội Nhật và Nga tại Tsusima (đối mã) năm 1905
Năm 1895, cuộc chiến tranh Trung - Nhật kết thúc bằng hoà ớc Simônôsaki (ký ngày 17/4/1895),
Trung Quốc là nớc bại trận, phải công nhận chủ quyền của Nhật ở Triều Tiên (khi đó, Triều Tiên
vẫn triều cống Trung Quốc) và nhờng cho Nhật các tỉnh Đông Bắc Trung Quốc, cảng Lữ Thuận, Đại
Liên, Uỷ Hải Vệ
Nớc Nga vốn có nhiều quyền lợi ở vùng này, nên không tán thành hoà ớc đó. Nga hoàng viện lẽ
rằng sự việc này làm Trung Quốc mất quyền tự chủ và gửi kháng nghị Nhật Bản. Hai nớc Pháp và
Đức tán thành Nga. Hơn thế nữa, họ gửi chiến hạm sang Viễn Đông phối hợp với hạm đội Nga uy
hiếp Nhật. Do cha đủ sức đối phó, nên Nhật phải nhân nhợng, trả Lữ Thuận và Liêu Đông cho
Trung Quốc. Vì có công trong việc này, nên Nga đợc Trung Quốc dành cho quyền làm đờng xe lửa ở
Mãn Châu, đóng quân ở Lữ Thuận và Đại Liên. Nhật nuốt hận lo chuẩn bị một cuộc chiến tranh
trên biển, tổ chức một hạm đội mạnh, đóng thêm nhiều chiến hạm và tập kích tích cực, chờ thời cơ.
Cuối năm 1903, Nga bổ sung thêm nhiều tàu chiến cho hạm đội Viễn Đông ở Vlađivôxtốc (Hải
Sâm Uy) và mở rộng cảng Lữ Thuận. Đầu tháng 2/1904, Nhật tuyệt giao với Nga, không chờ tuyên
chiến, phái một đoàn tàu khu trục đến trớc cửa Lữ Thuận đánh đắm nhiều tàu Nga. Đô đốc Nga là
Alếcxêép lúng túng, không biết đối phó ra sao. Tháng 3/1904, Nga Hoàng cử đô đốc tài danh
Makharốp, sang thay Alếcxêép, chấn chỉnh lại đội ngũ. Ngày 13/4/1904, hạm đội Nga kéo ra ngoài
khơi tìm đánh tàu Nhật, đi lạc vào khu thuỷ lôi của Nhật, tàu bị nổ tung và đô đốc Makharốp bị
chết. Đô đốc Vitép lên thay. Ngày 10/8/1904, Vitép chỉ huy 5 tàu thiết giáp và một đoàn tuần dơng
hạm đối đầu với hạm đội Nhật, do đô đốc Tôgô chỉ huy. Trận này bắt đầu từ 1 giờ tra đến 7 giờ tối.
Quân Nhật bắn rất chính xác, nên tàu Nga bị đắm nhiều và kỳ hạm Tsareevitsơ cũng bốc cháy. Đô
đốc Vitép bị tử thơng. Hạm đội Nga tan tác. Chiếc Đia chạy về phía nam, xin c trú ở Sài
Gòn.Chiếc Askold chạy về c trú ở Thợng hải.
Lúc ấy, một bộ phận hạm đội Nga ở Valađivôxtốc (Hải Sâm Uy) xuất trận để cứu đồng đội đang
nguy khốn trên biển Nhật bản. Khi đến Tsusima (Đối Mã) có biển nằm giữa Triều Tiên và Nhật
Bản, thì hạm đội Nga gặp đoàn tuần dơng hạm của Nhật do đô đốc Kamimura chỉ huy. Trận hải
chiến diễn ra vào ngày 14/8/1904. Trong trận này, quân Nga bị đắm một số tàu, số còn lại chạy trở
về Vlađivôxtốc.
Tin xấu cứ dồn dập bay về kinh đô Pêtrôgrat, Nga hoàng choáng váng và quyết định phái hạm
hùng dân tộc.
14. khởi nghĩa Xipay (1857-1859)
Từ đầu thế kỉ XVI, thực dân Bồ Đào Nha, rồi đến Hà Lan, Pháp, Anh lần lợt đến xâm chiếm và
cớp bóc ấn Độ. Năm 1600, Công ty Đông ấn Độ của Anh đợc thành lập và chiếm độc quyền buôn bán
ở ấn Độ. Công ty này đã tổ chức quân đội đánh thuê gồm ngời Anh và rất đông ngời bản xứ (lính
bản xứ ấn Độ gọi là xipay). Đội quân đánh thuê này đã đánh bại quân đội của Bồ, Hà Lan, Pháp,
giành độc quyền chiếm đóng ấn Độ cho Công ty Đông ấn Độ của Anh. Bọn thực dân Anh còn sử
dụng đội quân Xipay xâm chiếm các tiểu vơng quốc trong nội địa ấn Độ và xâm lợc các quốc gia
xung quanh ấn Độ nh Apganixtan, Iran, Mianma, Trung Quốc. Tuy nhiên, trong quân đội địch, lính
Xipay ấn Độ vẫn không thoát khỏi thân phận của ngời nô lệ. Họ bị thực dân Anh khinh rẻ, đối xử
bất công và tàn nhẫn. Họ bị đánh đạp, chửi mắng, lơng tháng ít ỏi (chẳng hạn: một viên đại uý
Xipay, sau 40 năm phục vụ trong quân đội đợc lĩnh mỗi tháng 40 rupi khi đó một viên đại uý ngời
Anh lĩnh 563 rupi).
Dới ách thống trị của công ty Đông ấn Độ và Chính phủ Anh (từ năm 1858, công ty Đông ấn Độ
bị giải tán và Chính phủ Anh trực tiếp cai trị ấn Độ), đất nớc ấn Độ bị tàn phán nặng nề. Nhân dân
ấn Độ, ngoài việc nộp thuế khoá nặng nề, bị cớp đoạt trắng trợn, còn bị cỡng bức trông cây công
17
nghiệp cho Nhà nớc; do đó nạn đói kém thờng xuyên xảy ra. Thợ thủ công, nhất là nghề dệt, không
thể cạnh tranh nổi với hàng công nghiệp của Anh ngày càng tràn ngập ấn Độ. Tình cảnh khổ cực
của lính Xipay ấn Độ, vì đại đa số họ cũng là nông dân hay thợ thủ công bị phá sản vì sự thống trị
của Anh phải trở thành lính đánh thuê.
Những năm trớc khi nổ ra cuộc khởi nghĩa 1857 1859, tình hình ở ấn Độ rất căng thẳng.
Những bài hát, những câu chuyện yêu nớc đợc lu truyền trong nhân dân nhằm khơi dậy ý chí chống
thực dân Anh. Những bài hát và câu chuyện đó đã ca tụng lịch sử huy hoàng ngàn xa của ấn Độ, ca
ngợi tinh thần hi sinh để bảo vệ tổ quốc và tôn giáo. Khi đó còn xuất hiện cả sấm truyền rằng sự
thống trị của ngời kitô giáo (chỉ ngời Anh) không thể kéo dài 100 năm, kể từ sau trận Plátxây (trận
Plátxây xảy ra năm 1757), nh vậy đến năm 1857, nền thống trị của Anh sẽ chấm dứt
Mở đầu cuộc khởi nghĩa là cuộc đấu tranh của Xipay ở Mirruts tháng 5-1857. Lính Xipay phải
dùng răng bóc đầu đạn có bịt giấy tẩm mỡ lợn hoặc mỡ bò. Theo tục lệ, ngời ấn Độ theo Hinđu giáo
xem bò là vật thiêng liêng, còn tín đồ Hồi giáo thì xem lợn là vật bẩn thỉu, nên họ không chịu làm
18
ở Congpua, Nana khahíp con nuôi của cựu quốc vơng Maratha đã bị thực dân Anh truất ngôi
liên kết với tổ chức của Xipay và các tiểu vơng cũ để khởi nghĩa và đã giành đợc thắng lợi từ tháng
6-1857. Nana Khahíp tự xng là quốc vơng và nhận làn ch hầu của hoàng đế Đê li. Khoảng cuối
tháng 6, quân Anh sau khi dm đợc Alahabát đã tấn công congpua. Nghĩa quân không chống đỡ nổi,
phải rút khỏi thành phố về các vùng nông thôn lân cận. Nhờ đợc nông dân tiếp tục giúp đỡ, nghĩa
quân tiếp tục chiến đấu ở vùng chung quanh Congpua.
ở Lắcnao, thủ phủ của vơng quốc Audd, cuộc khởi nghĩa không bắt đầu bằng cuộc nổi dậy của
Xipay, mà bằng cuộc đấu tranh vũ trang của nông dân các làng lân cận. Sau đó, quân lính Xipay
đóng ở Lắcnao cũng nổi dậy hởng ứng. Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa là nhà truyền giáo Maulêvi Atmét.
Tuy xuất thân là đại địa chỉ, nhng ông nhiật thành yêu nớc, kiên quyết chống thực dân Anh, mong
muốn đem lại quyền lợi thực sự cho nhân dân. Tháng 11- 1857, thực dân Anh tấn công Lắcnao;
nghĩa quân kháng cự mạnh mẽ; quân Anh rút lui. Lực lợng nghĩa quân rất đông (khoảng 30.000
Xipay và 60.000 quân tinh nguyện gồm nông dân và thợ thủ công), nhng trang bị kém, tổ chức rời
rạc. Đầu tháng 3- 1858, quân Anh với một lực lợng hùng mạnh (gồm 70.000 ngời, có cả kị binh và
pháo binh) tấn công Lắcnao. Suốt hai tuần lễ, chúng ta sức bắn giết, cớp bóc và tàn phá. Chúng còn
đợc bọn phong kiến phản bội giúp sức, đàn áo cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân ohair rút khỏi Lắcnao.
Không bao lâu sau, Atmét bị bọn phong kiến phản bội giết chết. Nghĩa quân mất vị chỉ huy tài giỏi,
nhanh chóng tan rã.
Cuộc đấu tranh vũ trang ở nhiều nơi vẫn tiếp diễn, chuyển thành chiến tranh du kích.
Từ giữa năm 1858, bọn phong kiến công khai phản bội nghĩa quân. Nhiều lãnh tụ nghĩa
quân bị chúng bắt nộp cho bọn thực dân Anh. Cuối năm 1859, phong traog khởi nghĩa của
nhân dân ấn Độ hoàn toàn thất bại.
15.Khang Hữu Vi (1858 - 1927)
Khang Hữu Vi - học giả, chính khách có xu hớng cải lơng, ngời đề xớng phong trào Duy Tân
năm 1898 ở Trung Quốc.
Khang Hữu Vi xuất thân trong một gia đình địa chủ quan liêu ở tỉnh Quảng ông. Tuy chịu sự
giáo dục của Nho học, nhng rất hâm mộ những thành tựu của nền văn hóa, khoa học, kỹ thuật và
chế độ dân chủ t sản phơng Tây. Ngời cho rằng chỉ có cải cách đất nớc theo con đờng t bản chủ nghĩa
với thể chế quân chủ lập hiến nh ở Anh thì mới cứu Trung Quốc khỏi nguy cơ thuộc địa.
hàng công nghiệp của các nớc Âu Mĩ càng mạnh mẽ, do đó các nớc t bản Âu Mĩ càng quyết tâm
ép buộc Trung Quốc phải mở cửa. Nhận thấy các quan lại và nhà giàu Trung Quốc quen dùng thuốc
phiện vào Trung Quốc. Năm 1786, số thuốc phiện nhập vào Trung quốc khoảng 6.000 hòm (mỗi hòm
nặng 72,5kg). Từ năm 1835 trở đi, mỗi năm nhập tới 35.000 hòm. Thấy thơng nhân Anh buôn thuốc
phiện có lãi lớn, thơng nhân các nớc Âu Mĩ cũng đua nhau buôn. Trớc tình trạng thuốc phiện lan
tràn, vua Thanh ra lệnh cấm bán và hút thuốc phiện vào năm 1796, nhng không có kết quả. Số ngời
nghiện thuốc phiện vẫn ngày một tăng, ngời Trung Quốc phải dùng bạc trắng để mua thuốc phiện,
do đó bạc trắng tuồn ra nớc ngoài nhiều hơn, ảnh hởng tới giá cả thị trờng và thu nhập tài chính của
nhà nớc . Một số quan lại sáng suốt nhận thấy mối đe doạ nghiêm trọng của việc hút thuốc phiện,
đã chủ trơng nghiêm cấm buôn bán và hút thuốc phiện, trong đó có Lâm Tắc Từ.
Lâm Tắc Từ (1785 - 1850) tự Thiếu Mục, ngời Hởu Quan, Phúc Kiến, con một vị tú tài, làm nghề
dạy học. Năm 1811, ông đạu tiến sĩ, năm 1837 làm Tổng đốc Hồ Quảng. Tại Hồ Quảng ông đã ra
lệnh cấm hút thuốc phiện. Năm 1838 ông dâng th lên hoàng đế Đạo Quang: Nừu không mau mau
cấm thuốc phiện, quốc gia ngày càng cùng khốn, sức khoẻ nhân dân ngày càng suy yếu, thì chỉ cần
mấy chục năm nữa sẽ không thu nổi thuế bằng bạc, mà cũng chẳng trng dụng đợc binh lính. Lúc đó
thuốc phiện tràn lan nguy hại cả nớc, nên vua Đạo Quang đặc chiếu cho Lâm Tắc Từ về kinh đô bệ
kiến. Liên tiếp trong 8 ngày, vua nghe ông trình bày: Rồi lệnh cho ông làm Khâm sai đại thần đi
Quảng Châu chủ trì việc câm thuốc phiện và phong ông làm Tiết chế thuỷ binh Quảng Đông.
Tháng 3-1839 Lâm Tắc Từ đến Quảng Châu, trớc tiên sai chém đầu mấy tên thơng gia Trung
Quốc cấu kết với ngời nớc ngoài buôn lậu thuốc phiện. Sau đó, ông ra lệnh tất cả ngời nớc ngoài hạn
trong ba ngày đa nộp toàn bộ số thuốc phiện còn lại trên xà lan và viết giấy cam kết từ nay không
chở theo thuốc phiện, nếu kiểm soát thấy thuốc phiện thì tịch thu hết và xử theo pháp luật. Lâm
Tawwcs Từ thu đợc ở Quảng Đông hơn hai mơi vạn thùng, tính ra hơn 237 vạn cân Trung Quốc. Ông
đem toàn bộ ra tiêu huỷ trớc công chúng tại bãi biển Hổ Môn, 22 ngày đêm mới cháy hết. Đó là vụ
đốt thuốc phiện ở Hổ Môn kinh động Trung Quốc và nớc ngoài.
Trong việc cấm thuốc phiện này, Giám đốc thơng vụ Anh Sáclơ Huy đã ngang ngạnh chống lại.
Lâm Tắc Từ tỏ thái độ kiên quyết, hạ lệnh đình chỉ mậu dịch Trung Anh, đa quân phong toả thơng
quán, rút nhân công Trung Quốc làm ở thơng quán về. Saclơ Huy cuối cùng đành phải ra lệnh cho
thơng quán Anh giao nộp thuốc phiện cho Lâm Tắc Tử. Sau vụ đốt thuốc phiện ở Hổ Môn, lãnh sự
Anh Enliốt báo cáo mọi việc về nớc và thỉnh cầu Chính phủ Anh cho tăng thêm quân lính để đối phó
bán.
- Bồi thờng 21 triệu quan chiến phí
Mơì tháng sau, Trung Quốc lại chấp nhận thêm hai điều khoản bổ sung nữa:
- Ngời Anh đợc hởng quyền lãnh sự tài phán
- Thuế quan do hai bên thơng lợng
Với hiệp ớc Nam Kinh, Trung Quốc mất chủ quyền về đất đai, thuế quan và quyền xét xử ngời
nớc ngoài phạm tội trên đất Trung Quốc. Từ đây, Trung Quốc dần trở thành một nớc nửa thuộc địa,
nửa phong kiến.
Trong khi quân xâm lợc Anh tấn công Trung Quốc thì Lâm Tắc Từ bị đa đi đồn trú ở Y Lợi để
Lập công chuộc tội. Ông ở Y Lợi tới ba năm (1842 - 1845), đã tổ chức khai khẩn, đắp thuỷ lợi, mở
đồn điền đợc ba vạn khoảnh. Nhờ có nhiều thành tích, ông lại đợc bổ nhiệm làm tổng đốc Vân Quý.
Tháng 2 1850, vua Đạo Quang mất, vua Hàm Phong kế vị, cử lâm Tắc Từ là ngời anh hùng dân
tộc chống đế quốc nổi tiếng thời Cận đại Trung Quốc.
17. Hồng Tú Toàn lãnh tụ phong trào khởi nghĩa nông dân Thái Bình thiên quốc
Hồng Tú Toàn (1814 - 1864) nguyên tên Hoả Tú, còn có tên là Nhân Khôn, sinh ngày 1-1-1814,
trong một gia đình trung nông, thôn Quang Lộc Bố, huyện Hoa, tỉnh Quảng Đông. Khi còn nhỏ, ông
21
ts thông minh, năm 16 tuổi, gia đình gặp khó khăn, ông phải nghỉ học ở nhà giúp đỡ gia đình và trở
thành thầy đồ dạy trẻ trong làng. Hồng Tú Toàn mấy lần thi tú tài ở Quảng Châu, không đỗ. Một
lần tình cờ đọc cuốn Lời lành răn đời của Hội truyền bá đạo thiên chúa xuất bản ở Quảng Châu,
nhân đang sẵn vó tâm lí bất mãn với chế độ khoa cử, căm thù sự hủ bại cuả triều đình Mãn Thanh,
ông đã đi theo chủ nghĩa bình đẳng của Đạo Thiên Chúa, sáng lập đạo Bái thợng đế tập hợp nhân
dân chống lại chính quyền Mãn Thanh.
Năm 1844, Hồng Tú Toàn cùng bạn là Phùng Vân Sơn dời quê hơng đến vùng núi tỉnh Quảng
Tây truyền đạo. Hai ông đợc dân chúng tin yêu, gia nhập hội Bái thợng đế ngày càng đông. Phàm
ai vào hội đều đợc bình đẳng, các hội viên nam cũng nh nữ coi nhau nh anh em. Họ chỉ thờ Thợng
đế, không thờ bất cứ thần tợng nào khác. Ông sáng tác ra các bài Nguyên đạo cứu thế ca, nguyên
đạo tinh thế huấn, Nguyên đạo giác thế huấn để phát huy giáo lí cơ bản của đạo Bái Thợng đế, đề ra
Thợng đế là chân thần duy nhất, thờ Thợng đế sẽ tai qua, nạn khỏi và khi chết sẽ đợc lên thiên đ-
ờng.
Chính sách bình đẳng nam nữ mang tính chất tích cực kì tiến bộ của Thái bình Thiên Quốc. Phụ
nữ không những đợc chia ruộng đất nh nam giới, không bị mua bán làm nô lệ, tì thiếp, không bị đày
ải vào kiếp giang hồ, kĩ nữ để mua vui cho bọn quyền quý, mà Thái bình Thiên Quốc còn quy định
chế độ một vợ một chồng, cấm Nam giới lấy nhiều vợ, phụ nữ không phải bó chân, đợc học hành, thi
cử nh nam giới, đợc đi lính và tuyển làm sĩ quan. Nhiều tấm gơng tiêu biểu của phụ nữ đợc giải
phóng đã xuất hiện nh Hồng Tuyên Kiều (em ruột Hồng Tú Toàn) là một nữ chỉ huy thiện chiến;
Phó Thiên tờng đỗ trạng nguyên, đợc cử làm thừa tớng trong những ngày xây dựng chính quyền ở
Nam Kinh. Trong quân đội của Thái Bình thiên quốc có 40 quân đoàn nữ, mỗi quân đoàn có 2.500
ngời, với một đội ngũ sĩ quan nữ 5.100 ngời. Khi có chiến sự, họ tham gia chiến đấu nh nam giới; lúc
bình yên, họ lại làm ruộng, canh cửi. Một kí giả ngời Anh đến thăm Nam Kinh lúc này đã mô tả: ở
nam Kinh, phụ nữ đi lại một cách tự nhiên, hoặc cỡi ngựa trên đờng phố, tuyệt nhiên không e dè, sợ
sệt ngời nớc ngoài nh phụ nữ các vùng khác của trung quốc.
Sau khi chiếm đợc Nam Kinh, Hồng Tú Toàn đã sai quân tiến hành bắc phạt và Tây chinh.
Quân Bắc phạt do các tớng Lâm Phúc Tờng, Lí Khai Phơng chỉ huy, vợt qua Hoàng hà tiến vào Hà
Bắc, áp sát Thiên Tân. Đến đây, quân Thanh đã phá đê cho nớc ngập nhiều vùng, ngăn cản đờng
tiến của nghĩa quân. nghĩa quân không hạ đợc thành Thiên Tân. Mùa đông lại đến, khí hậu khắc
nghiệt, lơng thực thiếu thốn, đành phải lui quân, chờ viện binh. Nhng viện binh không đến ứng cứu
đợc, vì bị quân Thanh ngăn cản. Cánh quân Bắc phạt chiến đấu trong hoàn cảnh đơn độc, cuối cùng
toàn bộ đã hi sinh anh dũng. Cánh quân Tây chinh do Thạch Đạt Khai chỉ huy, đánh tam tác đội
quân Tơng của Tăng Quốc Phiên (Tăng Quốc Phiên là một địa chủ quan lại ngời huyện Tơng Đàm,
tỉnh Hồ Nam, gọi là quân Tơng), ở vùng thợng lu sông Trờng Giang, khiến cho Tăng mấy lần toan tự
tử. Lần cuối cùng, Tăng bị vây ở Nam Xơng sắp bị nghĩa quân tiêu diệt, thì lúc đó Nam Kinh xảy ra
nội loạn, Thạch Đạt khai trở về Nam Kinh, Tăng thoát chết.
Sau khi thành lập triều đình ở Nam Kinh, tập đoàn lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Thái Bình thiên
quốc dần dần thoái hoá, biến chất, tranh giành quyền lực, tiêu diệt lẫn nhau. Hồng Tú Toàn đợc tôn
làm Thiên Vơng (vua của thợng đế sai xuống)ở lì trong cung cấm, suốt ngày vui chơi hởng lạc, không
nghĩ gì đến triều chính. Dơng Tú Thanh (xuất thân là thợ đốt than), một ngời lãnh đạo xuất sắc của
Thái Bình thiện quốctrớc đây, nắm mọi quyền trong tay, độc ác, kiêu ngạo. Vĩ Xơng Huy (xuất thân
địa chủ kiêm buôn bán mới nổi lên) thấy Dơng Tú Thanh nắm quyền trong tay sinh ra đố kị, thờng
xuyên nói xấu Dơng Tú Thanh trớc mặt Hồng Tú Toàn. Hồng Tú Toàn cũng cảm thầy quyền lực của
thiên quốc, Hồng Tú Toàn trao quyền chỉ huy quân đội cho Lí Tú Thành. Lí Tú Thành xuất thân từ
một gia đình nông dân nghèo ở tỉnh Quảng Tây. Ông cùng toàn thể gia đình tham gia Thái Bình
thiên quốc từ những ngày đầu. Ban đầu, ông chỉ là một binh sĩ bình thờng, sau trởng thành trong
chiến đấu và đợc Hồng Tú Toàn phong là Trung Vơng. tháng 9-1858, quân Thái Bình đánh phá
Giang Bắc đại doanh, trọng điểm của quân Thanh. Tháng 10-1858, đánh lớn ở trấn Tam Phiên.
Tháng 5-1860 lại phá đại doanh Giang nam mới đợc quân Thanh xây dựng lại, phá đợc vòng vây
Thiên Kinh và thừa thắng chiếm Tô Châu, Hàng Chaai, mở thêm căn cứ địa Tô Triết. Tháng 2-
1862, quân Thái Bình tấn công mãnh liệt quân xâm lợc nớc ngoài ở Thợng Hải, Ninh Ba. Tại Thợng
hải, nghĩa quân đã giết và bắt sống một số tớng Pháp, Anh, Mĩ, trong đó có t lệnh hải quân pháp
Prôtê và tớng Mĩ Phorextơ. Để cứu vãn tình thế nguy ngập, Anh, Pháp, Mĩ thúc đẩy quân Mãn
Thanh và quân địa chủ vũ trang đánh mạnh vào Thiên Kinh để buộc quân Thái Bình phải quay về
cứu viện và cố thủ, lâm dần vào thế bị động.
Tuy nhiên, quân Mãn Thanh và quân địa chủ vũ trang đợc quân xâm lợc phơng Tây giúp sức,
cũng phản công lại quân Thái Bình ở nhiều nơi. Tháng 9-1861, do lực lợng quá chênh lệch so với
quân địch, quân Thái Bình đã không bảo vệ đợc An Khánh. Tháng 5-1863, hạm đội Ninh ba Pháo
đổ bộ lên Hàng Châu để giuớ quân thanh đánh Ninh Ba. Tháng 6-1863, những đội quân súng tây
của Pháp phối hợp với quân Thanh đánh chiếm Thiệu hng và vây hãm Hàm Châu. Quân Thái Bình
ở Triết Giang cũng bị thất bại.
Tháng 12-1863, thấy tính thế quá nguy ngập, Lí Tú Thành từ tiền tuyến xuyên vòng vây trở về
Nam Kinh, khuyên Hồng Tú Toàn rời bỏ Nam Kinh, đi xây dựng căn cứ nơi khác. Nhng Hồng Tú
Toàn không nghe, giữ ông ở lại Nam Kinh. Mùa xuân năm 1864, thiên kinh bị lực lợng của triều
đình Mãn Thanh và bọn địa chủ quan liêu bao vây chặt Quân súng tây của Anh, Mĩ cũng tham
gia tấn công thành. Tàu chiến Pháp bắn súng lớn vào thành để trợ lực cho quân triều đình và áp đảo
tinh thầnh nghĩa quân. Trong thành, nghĩa quân và nhân dân kiên cờng chống giữ. Nhng lơng thực
và vũ khí cạn dần. Ngày 1-6-1864 Hồng Tú Toàn uống thuốc độc tự tử và di chúc cho Lí Tú Thành
trông nom con trai mình là Hồng Phúc. Ngày 19-7-1864, quân thù lọt vào đợc Nam Kinh, quân Thái
Bình chiến đấu trên từng đờng phố, từng căn nhà, thà chết không chịu đầu hàng. Sau ba ngày chiến
đấu, mời vạn quân Thái Bình đã hi sinh anh dũng. Sông Tần Hoài ngập đầy xác chết, nam Kinh
biến thành biển máu và lửa.
24
là Lơng Khải Siêu.
Lơng Khải Siêu (1873 - 1929) tự Trác Nh, hiệu Nhiệm Công, biệt hiệu Thơng Giang, còn có biệt
hiệu ẩn băng thất chủ nhân, ngời quận Tân Hội, tỉnh Quảng Đông, xuất thân trong gia đình địa
chủ. Ông thông minh lanh lợi từ nhỏ, 11 tuổi đỗ tú tài, 16 uổi đỗ cử nhân. Năm 1890, Lơng lên Bắc
Kinh, dự khoa thi Hội, không đỗ trên đờng trở về, ông qua Thơng Hải mua đợc cuốn Doanh hoàn chí
lợc (lợc chí thế giới) và một số sách Tây học khác. Về Quảng Châu, nghe nói Khang Hữu Vi dâng lên
Hoàng đế yêu cầu cải cách không thành và đã trở về quê nhà mở trờng dạy học, theo học suốt ba
năm. Lơng hoàn toàn tiếp thu t tởng và chủ trơng cải cách của Khang. Trong thời gian này, ông dã
giúp Khang biên soạn sách Tân học nguỵ kinh pháo.
Mùa xuân năm 1895, Khang cùng Lơng lên Bắc Kinh dự kì thi Hội. Lúc này, chiến tranh Trung
Nhật (1894 - 1895) vừa kết thúc, tiều đình Mãn Thanh phải kí điều ớc Mã Quan hết sức nhục
nhã với Nhật Bản. Các sĩ tử đều rất căm phẫn, Khang liền vận động hơn 1.300 cử nhân dự thi,
trong đó Lơng là ngời hiệp trợ đắc lức nhất, dâng bức th thá hai cho vua Quang Tự, phản đối điều ớc
25