TÓM TẮT
Nghiên cứu “Khảo sát thành phần loài luân trùng (Rotifera) vào mùa khô ở khu vực
thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2014
với 2 đợt thu mẫu qua 7 vị trí khảo sát. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện được 10 loài Rotifera
thuộc 7 giống khác nhau: Brachionus, Keratella, Filinia, Lepadella, Trichocerca, Polyarthra,
Lecane. Số lượng Rotifera biến động lớn từ 660 – 67.980 ct.m-3. Loài Filinia terminalis có
sinh lượng cao nhất và Brachionus angularis là loài có khả năng nuôi sinh khối phục vụ
trong nuôi trồng thủy sản.
Từ khóa: Luân trùng, Filinia terminalis, Brachionus angularis, nuôi sinh khối, Long Xuyên
Trang iv
ABSTRACT
Investigating, “Survey of species of Rotifera in the dry season in the area of Long Xuyen
city, An Giang province” was carried out from April to October, 2014 with 2 stage
sampling survey time 7 locations. Results showed that found 10 species of Rotifera
belonging to seven genus: Brachionus, Keratella, Filinia, Lepadella, Trichocerca, Polyarthra,
Lecane. The density of Rotifera fluctuated from 660 – 67.980 ind.m-3. Particularly the
species Filinia terminalis with the highest density and Brachionus angularis can use in life
food.
Keywords: Rotifera, Filinia terminalis, Brachionus angularis, biomass, Long Xuyen
Trang v
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
2.4.3. Ao ............................................................................................................................... 7
2.4.4. Ruộng ......................................................................................................................... 7
2.5. SINH VẬT CHỈ THỊ .................................................................................................... 8
2.6. CHỈ SỐ ĐA DẠNG SINH HỌC .................................................................................. 8
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................................. 10
3.1. ĐỊA ĐIỂM THU MẪU .............................................................................................. 10
3.2. THỜI GIAN VÀ CHU KỲ THU MẪU ..................................................................... 10
3.3. PHƯƠNG PHÁP THU MẪU .................................................................................... 11
3.3.1. Thu mẫu định tính .................................................................................................... 11
3.3.2. Thu mẫu định lượng ................................................................................................. 11
Trang vi
3.4. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MẪU ....................................................................... 11
3.4.1. Phân tích định tính .................................................................................................... 11
3.4.2. Phân tích định lượng................................................................................................. 11
3.5. PHƯƠNG PHÁP ĐANH GIÁ Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC ..................................... 11
3.6. XỬ LÝ SỐ LIỆU ....................................................................................................... 12
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................................... 13
4.1. THÀNH PHẦN LOÀI ROTIFERA KHU VỰC LONG XUYÊN, AN GIANG ....... 13
4.2. SỐ LƯỢNG ROTIFERA KHU VỰC LONG XUYÊN, AN GIANG ....................... 15
4.3. TÍNH ĐA DẠNG CỦA ROTIFERA KHU VỰC LONG XUYÊN, AN GIANG ..... 17
4.4. ĐỊNH HƯỚNG LOÀI TIỀM NĂNG ĐỂ NUÔI SINH KHỐI LÀM THỨC ĂN TỰ
NHIÊN ................................................................................................................................. 18
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................... 20
5.1. KẾT LUẬN ................................................................................................................ 20
5.2. KIẾN NGHỊ ............................................................................................................... 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 21
PHỤ LỤC
Hình 2. Sự biến động số lượng Rotifera theo từng đợt khảo sát ......................................... 16
Trang ix
LIỆT KÊ CÁC TỪ VIẾT TẮT
NXB: Nhà xuất bản
ct: cá thể
cs: cộng sự
Trang x
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
Luân trùng thuộc ngành Rotifera hiện diện trên 2.000 loài trong đó có 95% phân bố trong
môi trường nước ngọt. Luân trùng xuất hiện rộng trong hầu hết các loại hình thủy vực như
sông, kênh, ao, hồ... Luân trùng là loài có kích thước nhỏ dao động trong khoảng 50 – 200
µm, là thành phần quan trọng trong quần xã động vật phù du ở các loại hình thủy vực nước
ngọt (Vũ Ngọc Út, 2013).
Chúng là mắt xích quan trọng trong mạng lưới thức ăn trong thủy vực tự nhiên, là thức ăn
quan trọng cho ấu trùng tôm cá. Bên cạnh đó luân trùng còn là sinh vật chỉ thị cho sự ô nhiễm
môi trường cũng như khả năng lọc sạch môi trường của chúng. Ngoài vai trò là thức ăn tự
nhiên cho động vật thủy sản luân trùng còn là loài chỉ thị môi trường giúp chúng ta dự đoán
được mức độ nhiễm bẩn của từng thủy vực.
Chính vì những lý do đó, đề tài “Khảo sát thành phần loài luân trùng (Rotifera) vào mùa
khô ở khu vực thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” được thực hiện.
Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát thành phần loài, số lượng Rotifera ở khu vực thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
Nhiệt độ
Thành phố Long Xuyên có nhiệt độ trung bình các tháng trong năm dao động từ 25,5 –
28,30C, nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 4 là 28,30C, tháng 5 là 28,10C, tháng 9 là
280C. Nhiệt độ thay đổi trong năm gần như theo quy luật tháng 4, tháng 5, tháng 9 là các
tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm. Nhiệt độ thấp nhất là vào các tháng 11 đến tháng 2
(25,5 – 26,80C). Nhìn chung nhiệt độ trong đất và trong nước tuy có biến động song không
lớn ở cả môi trường nước và đất là những điều kiện vô cùng thuận lợi cho các thủy sinh vật
phát triển quanh năm (Cục Thống Kê tỉnh An Giang, 2012).
2.1.2.2.
Thủy văn
Theo Bùi Đạt Trâm (1985) thành phố Long Xuyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa với 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, trong thời gian này mưa nhiều từ
tháng 7 đến tháng 10 mang hơi ẩm của gió mùa Tây Nam từ vịnh Thái Lan thổi vào. Mùa
khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau mang theo gió mùa Đông Bắc khô khan thổi từ lục địa
Châu Á.
Cũng theo Cục Thống Kê tỉnh An Giang (2012) thì trong năm lượng mưa trung bình thấp
nhất từ tháng 12 đến tháng 3, lượng mưa cao nhất vào tháng 10, tháng 11 hằng năm, lượng
mưa cũng thay đổi theo qui luật tăng từ tháng 4 và cao nhất vào tháng 10, tháng 11 và giảm
dần từ tháng 12 đến tháng 3. Lượng mưa thường không vượt quá 100 mm.
Bên cạnh đó lưu lượng nước biến động lớn và chịu ảnh hưởng của thủy triều, của lưu lượng
nguồn, mưa tại chỗ, gió chướng... nhưng dòng chảy trong năm khá ổn định do tác động điều
tiết của Biển Hồ. Lưu lượng đầu nguồn chảy vào châu thổ phân định theo mùa rõ rệt và biểu
thị qua chế độ dòng chảy. Vào mùa lũ, nước từ thượng nguồn chảy xuống xuôi theo một
chiều (bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11). Trong đó, tháng có dòng chảy lớn nhất
là tháng 9 và tháng 10. Mùa khô, toàn bộ hệ thống sông ngòi, kênh, mương chảy theo hai
chiều, vào mùa này tháng có dòng chảy lớn nhất là tháng 4 (Võ Lâm và cs., 2007).
Công nghiệp và xây dựng
23,7
23,5
23,2
25,5
Dịch vụ
72,4
73,0
73,6
71,5
Nguồn: UBND Tp Long Xuyên, 2011
2.2.
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LUÂN TRÙNG
2.2.1. Đặc điểm hình thái
Luân trùng hay còn gọi là trùng bánh xe thuộc nhóm động vật đa bào nhỏ nhất. Cơ thể của
tất cả các loài luân trùng gồm có một số lượng không đổi tế bào, loài Brachionus chứa khoảng
1.000 tế bào (Dhert, 1996). Luân trùng có kích thước từ 100 – 340 μm (Dhert, 1996). Các
con đực có kích thước nhỏ và kém phát triển hơn các con cái, một số chỉ có kích thước 60
Trong khoảng 2.000 loài luân trùng đã được mô tả thì có đến 95% loài sống trong môi trường
nước ngọt bao gồm sông, hồ, ao… Chúng có thể phát triển với mật độ trung bình từ 40 –
500 ct.L- và đôi lúc lên đến 5.000 ct.L-. Chỉ có khoảng 5% số luân trùng còn lại là sống trong
môi trường nước lợ (Pechenik, 2000; Dương Trí Dũng, 2000).
Ở nước lợ mặn chỉ vài loài luân trùng xuất hiện thường là các loài thuộc giống Synchaeta và
thỉnh thoảng là B. plicatilis. Park và Marshall (2000) khi nghiên cứu về sự phân bố của luân
trùng từ vùng nước ngọt đến cửa sông thuộc vịnh Chesapeake (Hàn Quốc) cho thấy có sự
tương quan nghịch giữa độ mặn với mật độ, sinh khối, thành phần loài luân trùng. Tại các
địa điểm có độ mặn từ 0,05 đến 16,03‰, luân trùng B. angularis đạt mật độ cao nhất ở độ
mặn 1,52‰ (24,8 ct.L-) và thấp nhất ở độ mặn 8,96‰ (0,4 ct.L-) và không thấy xuất hiện ở
độ mặn 16,03‰. Tương tự loài B. calyciflorus và B. caudatus phát triển mạnh ở độ mặn
0,07‰ (lần lượt là 63,8 và 48,3 ct.L-). Một số loài phát triển mạnh tại điểm thu có độ mặn
17,38‰ là Synchaeta baltica và S. fennica (71,8 và 75,8 ct.L-tương ứng).
Zakaria et al. (2007) khi điều tra về sự biến động quần thể động vật phiêu sinh tại vịnh ElMex (Alexandria, Ai Cập) với sự pha trộn nguồn nước mặn từ Địa Trung Hải và nước thải
từ đất liền có độ mặn dao động từ 3 đến 39‰. Kết quả cho thấy ở vùng có độ mặn 38‰ chỉ có 2 loài luân trùng xuất hiện là Synchaeta
okai và S. pectinata xuất hiện chiếm tỉ lệ 2%.
Theo Nogrady (1993) thì nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các
chức năng sinh lý và quá trình trao đổi chất của sinh vật. Ở những thủy vực ôn đới, sự xuất
hiện của luân trùng theo mùa càng rõ rệt hơn.
Anuraeopsis, Pompholyx… là những loài chỉ thích nhiệt độ ấm, xuất hiện ở vùng ôn đới
loài như B. angularis, B.urceus, Keratella quadrata, Trichocera capucina, Rotaria rotaria…
xuất hiện trong vùng nước giàu dinh dưỡng trong khi những loài như Anuraeopsis fissa,
Monostyla hamata, M. bulla… lại chỉ thị cho vùng nước sạch.
Tại Việt Nam Vũ Ngọc Út và cs (2011) trong một nghiên cứu ở khu vực Cầu Ngang, Trà
Vinh nhận thấy rằng luân trùng chủ yếu xuất hiện vào mùa mưa và các tháng đầu mùa khô
và thường gặp nhất là các giống Brachionus, Keratella.
Luân trùng Brachionus angularis phân bố nhiều ở khu vực nước tĩnh, ở độ mặn 0‰, ở độ
mặn 1‰ vẫn xuất hiện nhưng mật độ không đáng kể, ở độ mặn 5‰ không có xuất hiện (Trần
Bình Nguyên, 2008).
2.4.
SỰ PHÂN BỐ CỦA LUÂN TRÙNG THEO HỆ SINH THÁI
2.4.1. Sông
Sự phân bố của luân trùng ở hệ sinh thái này thường thấp do điều kiện môi trường không
thuận lợi như dòng chảy của nước, độ đục cao và thiếu thức ăn (Nogrady, 1993). Các giống
loài này sinh sản kém trong vùng có dòng nước chảy và thường đến từ các khu vực ven bờ,
đầy cỏ dại, ao tù hoặc các vùng duyên hải khác (Donner, 1970; 1972). Saunders và Lewis
(1988, 1989) khi điều tra sự hiện diện của động vật phù du ở trên sông White và sông Oricono
của Venezuela cho thấy mặc dù đạt mật độ thấp (138 ct.L-) nhưng luân trùng đã chiếm tỉ lệ
Trang 5
khoảng 90% mật độ của động vật phiêu sinh trên sông. Vasquez và Rey (1989) điều tra dọc
theo sông Oricono (khoảng 900 km) chỉ tìm thấy 100 loài luân trùng trong đó loài đạt mật
độ cao nhất chỉ chiếm 22,9 ct.L-. Kết quả điều tra trên sông Zamanti, Develi, Thổ Nhĩ Kỳ
vào tháng 12 năm 2005 cho thấy có sự xuất hiện của luân trùng B. angularis, Keratella
cochlearis, K. quadrata, K.tecta… (Kaya & Altindag, 2007).
Ở Việt Nam, theo Nguyễn Viết Phổ (1982) và Trần Trường Lưu (1982) (trích bởi Đặng Ngọc
Thanh, 2002) thì sông là nơi cư trú rất quan trọng, được đặc trưng bởi hàm lượng oxy hòa
điểm đã khảo sát.
Trang 6
2.4.3. Ao
Theo Đặng Ngọc Thanh (2002) thì ao có độ sâu trung bình trên dưới 1 m, lớp bùn dày từ 20
– 40 cm. Hàm lượng oxy thay đổi theo chu kỳ ngày thường cao vào buổi trưa và thấp nhất
vào sáng sớm do sự quang hợp và hô hấp của thực vật thủy sinh. Nhiệt độ phụ thuộc vào
nhiệt độ của không khí thay đổi theo mùa, tầng nước. pH dao động từ 6,5 – 8,6. Hàm lượng
dinh dưỡng cao nên nhóm sinh vật nổi rất phát triển. Các ao bón phân lượng động vật nổi
cao đạt tới 321.000 con/m3, trong khi đó ao không bón phân mật độ chỉ đạt được 55.000
con/m3.
Luân trùng sống trong hệ sinh thái này thường có dạng sống phiêu sinh hoặc sống đáy. Một
số luân trùng thường sống trong môi trường ao như Brachionus angularis, B. calyciflorus,
B. caudatus, Asplanchna sieboldi, Keratella tropica… (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980).
Nghiên cứu thành phần quần thể động vật phù du trong 12 ao mới đào được làm đầy ao bằng
nước máy và bổ sung nước giếng để duy trì mức nước trong ao và không thả cá, Jenkins
(1995) cho thấy luân trùng phát triển chiếm ưu thế về cả mật độ, sinh khối và thành phần
loài so với các nhóm động vật phù du khác (47 loài luân trùng trong tổng số 61 loài). Green
(1995) so sánh thành phần loài luân trùng sống phiêu sinh và sống bám ở khu vực cửa sông
Kemaman và Chukai (Malaysia) và hai ao ở khu vực gần bên cho thấy số loài hiện diện trong
ao (29 loài) thấp hơn nhiều so với 63 loài ở vùng cửa sông.
Trần Sương Ngọc và Vũ Ngọc Út (2011) cho biết trong hệ sinh thái ao bao gồm các ao tự
nhiên, ao ương và nuôi cá tra cho thấy ở đợt thu mẫu tháng 5/2008 đều có sự xuất hiện của
luân trùng B. angularis . Tuy nhiên mật độ luân trùng B. angularis thay đổi rất lớn từ 695
đến 27.612 ct.m-3 phụ thuộc vào mô hình nuôi. Trong ao ương luân trùng B. angularis xuất
hiện trong ao ương và đạt mật độ cao nhất là 27.612 ct.m-3. Trong ao nuôi cá tra thâm canh
mật độ B. angularis thấp hơn so với trong ao ương (3.778 ct.m-3).
2.4.4. Ruộng
1995). Theo Lê Văn Khoa và cs. (2007), sinh vật chỉ thị là những đối tượng sinh vật có yêu
cầu nhất định về điều kiện sinh thái liên quan đến nhu cầu dinh dưỡng, hàm lượng oxy, cũng
như khả năng chống chịu (tolerance) một hàm lượng nhất định các yếu tố độc hại trong môi
trường sống và do đó, sự hiện diện của chúng biểu thị một tình trạng về điều kiện sinh thái
của môi trường sống nằm trong giới hạn nhu cầu và khả năng chống chịu của đối tượng sinh
vật đó.
Tính đa dạng của Rotifera thường phản ảnh thông qua chỉ số đa dạng Shannon H’, chỉ số
này biểu hiện cho sự phát triển ưu thế của các loài đó trên từng vị trí khảo sát. Theo Nguyễn
Văn Tuyên (1998) thì chỉ số đa dạng H’ vừa nói lên mức độ đa dạng về loài, vừa nói lên
mức đồng đều của các loài đó. Giá trị H’ tăng khi số loài trong quần xã tăng, trong thực tế
giá trị H’ không vượt quá 5,0. Giá trị H’ càng cao môi trường càng ít ô nhiễm (Lê Trình,
2004).
2.6.
CHỈ SỐ ĐA DẠNG SINH HỌC
Để đánh giá tính đa dạng của một quần xã thuỷ sinh vật trong thiên nhiên, người ta thường
dùng cách tính toán một số hệ số đa dạng sinh học dùng cho một số quần xã là đối tượng so
sánh về tính đa dạng. Nguyên tắc của các phương pháp tính toán này dựa trên mối quan hệ
giữa số loài và số cá thể có trong một quần xã thuỷ sinh vật, và theo qui luật tính đa dạng
của quần xã thay đổi khi hệ sinh thái thuỷ vực có biến đổi, đặc biệt khi bị ô nhiễm.
Chỉ số đa dạng sinh học được ứng dụng rộng rãi từ những năm 1960 để đánh giá phản ứng
của các quần thể cá trước ô nhiễm (Norris và Georges, 1993). Cairns (1977) nhận định đây
có thể là chỉ số phù hợp và đơn giản nhất để đánh giá sự phong phú loài trong môi trường
nước sông suối.
Một trong những hệ số sinh học chỉ thị cho đa dạng sinh học được áp dụng nhiều nhất là hệ
số Shannon – Wiener đầu tiên được công bố bởi nhà khoa học Shannon (Shannon và Weaver,
1949).
Hệ số Shannon H’ thường được dùng phổ biến trong việc đánh giá mức độ ô nhiễm một thủy
vực căn cứ vào hiện trạng tính đa dạng của quần xã thủy sinh vật sống trong đó, theo một
4
3 – 4,5
Nhiễm bẩn nhẹ (oligosaprobic)
Trang 9
CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.
ĐỊA ĐIỂM THU MẪU
Xác định thành phần loài và số lượng Rotifera được thực hiện bằng cách thu mẫu trên các
thủy vực sông, ao, rạch và ruộng lúa ở khu vực thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Thể
hiện ở bảng 1.
Bảng 3. Loại hình và vị trí khảo sát Rotifera trên các thủy vực
Vị trí
Loại hình
thủy vực
Tên địa phương
Mô tả
A1
A5
Ao
nhiên
A6
Ao nuôi cá Ao nuôi cá quảng canh Mật độ thả cá thấp, ít cho ăn
quảng
tại phường Mỹ Quý,
canh
Long Xuyên, An Giang
A7
Ruộng lúa
3.2.
tự Ao tại phường Mỹ Quý, Ao tự nhiên là hệ sinh thái nước
Long Xuyên, An Giang tĩnh đặc trưng
Phường Mỹ Phước, Ruộng lúa là thủy vực tự nhiên
Long Xuyên, An Giang mực nước cạn chịu tác động của
phân bón, thuốc trừ sâu.
THỜI GIAN VÀ CHU KỲ THU MẪU
Mẫu được thu làm 2 đợt: đợt 1 tháng 04/2014; đợt 2 tháng 05/2014.
Mẫu được thu vào buổi sáng (6 – 10h).
Số lượng sinh vật được xác định bằng buồng đếm Sedgwick rafter và tính bằng công thức:
Trong đó:
P: số lượng cá thể từng nhóm động vật phiêu sinh trong mẫu (ct.m-3);
T: số lượng số lượng cá thể từng nhóm động vật phiêu sinh trong các ô đã đếm.
Vcđ: thể tích mẫu cô đặc (ml)
N: số ô đếm (60)
A: thể tích ô đếm (1 mm3)
Vm: thể tích mẫu đã thu (ml)
3.5.
PHƯƠNG PHÁP ĐANH GIÁ Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC
Đánh giá tính đa dạng và ô nhiễm nguồn nước bằng chỉ số Shannon.
Chỉ số đa dạng của sinh vật Shannon – Weiner (H’) được xác định theo công thức:
H’ = - Σpi.lnpi ; với pi = ni/N
Trong đó:
ni: sinh lượng loài thứ i;
Trang 11
N: tổng sinh lượng của sinh vật trong mẫu (Gerritsen et al., 1998).
Bảng 4. Mức độ ô nhiễm của thủy vực với các chỉ số Shannon H’
STT
3.6.
Chỉ số Shannon H’
Mức ô nhiễm
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1.
THÀNH PHẦN LOÀI ROTIFERA KHU VỰC LONG XUYÊN, AN GIANG
Qua 2 đợt khảo sát trên hệ thống thủy vực khu vực Long Xuyên, An Giang đã phát hiện được
sự hiện diện của 10 loài Rotifera, thuộc 7 giống là Brachionus, Filinia, Keratella, Lepadella,
Trichocerca, Polyarthra và Lecane (Bảng 2 và Bảng 3).
Thành phần loài của mỗi giống dao động từ 1 – 3 loài trong đó Brachionus chiếm ưu thế với
sự xuất hiện của 3 loài chiếm tỷ lệ 30% và Filinia có sự xuất hiện của 2 loài chiếm tỷ lệ 20%.
Các giống còn lại đều chỉ có sự xuất hiện của 1 loài. Các loài thường xuất hiện trong các lần
thu mẫu và trên các điểm thu mẫu là: Brachionus falcatus, Brachionus angularis, Brachionus
calyciflorus, Polyarthra vulgaris, Filinia longiseta và Lecane luna. Chúng là những loài
thường được phân bố trong các thủy vực giàu chất hữu cơ, nước cống rãnh, các thủy vực
nhiễm bẩn nước thải sinh hoạt (Đặng Ngọc Thanh, 1980).
Bảng 5. Kết quả phân tích định tính qua đợt thu mẫu lần 1
Điểm thu mẫu
STT
A1
A2
A3
A4
A5
-
+
+
+++
++
-
3
Brachionus calyciflorus
+
+
-
-
+
+
+
+
+
-
6
Lepadella sp
-
-
-
-
+
+
-
7
Trichocerca sp
-
9
Filinia longiseta
-
-
-
-
-
-
+
10
Lecane luna
-
-
+
+
A5
A6
A7
Loài
1
Brachionus angularis
-
-
+
+
+++
+
-
2
Brachionus falcatus
+
4
Keratella valga
-
-
-
-
+
+
_
5
Filinia terminalis
+
+
+++
-
-
-
-
-
+
-
8
Polyarthra vulgaris
-
+
-
-
-
-
+
-
-
-
Ghi chú: -: không phát hiện, +: xuất hiện ít, ++: xuất hiện vừa, +++: xuất hiện nhiều
Thành phần loài Rotifera qua 2 đợt khảo sát biến động từ 3 – 7 loài tùy theo vị trí thu mẫu
(Hình 1).
8
7
Số lượng loài
6
5
4
3
2
1
0
A1
A2
A3
A4
nhiên, Đoàn Thanh Tâm (2008) cũng đã nhận định rằng thành phần và số lượng động vật
phiêu sinh ở các thời điểm khác nhau thì khác nhau nhất là trong thủy vực nước chảy.
Trong một nghiên cứu năm 2012, Trần Sương Ngọc đã nhận định rằng hệ sinh thái ruộng
lúa phụ thuộc rất nhiều vào vào tác động của con người thông qua mùa vụ canh tác vì vậy
điều kiện môi trường biến động rất lớn đặc biệt là mực nước trong ruộng nhiều hay ít phụ
thuộc vào giai đoạn phát triển của cây lúa, sự hiện diện của các loài Rotifera còn ảnh hưởng
bởi việc sử dụng thuốc trừ sâu trên đồng ruộng. Thời điểm thu mẫu ở vị trí A7, ruộng lúa
đang trong giai đoạn phát triển, có sử dụng thuốc trừ sâu nên sự xuất hiện của các loài
Rotifera thấp (2 loài ở đợt 1 và 3 loài ở đợt 2).
Trong hệ sinh thái ao được khảo sát gồm ao tự nhiên, ao nuôi quãng canh và ao nuôi cá tra
thịt đều cho thấy sự hiện diện của các loài Rotifera cao hơn so với các hệ sinh thái khác.
Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu của Maryse et. al. (2000); Xiong et. al. (2003);
Fafioye và Omoyimi (2006), Trần Sương Ngọc (2012). Tuy nhiên sự hiện diện của các loài
Rotifera thay đổi từ 4 – 7 loài tùy theo mô hình nuôi. Trong ao nuôi cá tra môi trường nuôi
sẽ được kiểm soát nghiêm ngặc, việc nuôi cá sử dụng thức ăn công nghiệp với số lượng lớn
nên môi trường nước rất giàu dinh dưỡng. Tuy nhiên đây là những ao nuôi cá thịt nên việc
thay nước và sử dụng hóa chất xử lý môi trường thường xuyên diễn ra nên kết quả khảo sát
chỉ phát hiện được 4 loài Rotifera.
Điều này càng rõ hơn khi trong ao nuôi tự nhiên và ao nuôi quãng canh khi sự thay nước và
xử lý hóa chất hầu như không có đã cho thấy sự hiện diện càng nhiều loài Rotifera (6 loài
đối với vị trí thu mẫu A5, 7 loài ở đợt thu mẫu 1 và 6 loài ở đợt thu mẫu 2 đối với vị trí thu
mẫu A6). Thành phần loài ở vị trí thu mẫu A5 không có sự biến động so với vị trí thu mẫu
A6 do đây là ao tự nhiên sự biến động môi trường nước và hệ thực vật phù du hầu như rất ít
so với ao nuôi quãng canh ở vị trí thu mẫu A6.
4.2.
SỐ LƯỢNG ROTIFERA KHU VỰC LONG XUYÊN, AN GIANG
Kết quả phân tích cho thấy số lượng Rotifera tại các vị trí thu mẫu qua hai đợt khảo sát biến
động từ 660 – 67.980 ct.m-3.
A3
A4
A5
A6
A7
Điểm thu mẫu
Đợt 1
Đợt 2
Hình 2. Sự biến động số lượng Rotifera theo từng đợt khảo sát
Đối với hệ sinh thái ao tự nhiên. Đây là những thủy vực không có sự chăm sóc của con
người, sự suy tàn của thực vật thủy sinh như rong, bèo, tảo… và qua thời gian sẽ tạo nên
nguồn vật chất hữu cơ lớn trong ao. Mặt khác ao tự nhiên rất ít có sự trao đổi nước bên ngoài
dẫn đến hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp so với ao nuôi. Điều này dẫn đến mật độ
luân trùng đạt đến 67.980 ct.m-3. Ở ao nuôi cá tra thịt môi trường được kiểm soát tốt phù hợp
cho thủy sinh vật phát triển nhưng việc thay nước liên tục sẽ làm cho thực vật phù du giảm,
đây là nguồn thức ăn chính cho Rotifera nên mật độ luân trùng ở những ao nuôi thịt không
cao so với ao tự nhiên. Điều này cũng phù hợp với những kết quả nghiên cứu của Trần Sương
Ngọc (2012) khi cho biết mật độ Rotifera trong ao tự nhiên luôn cao hơn so với ao nuôi cá
tra thịt thâm canh. Mật độ luân trùng ở các thủy vực ao cao cho thấy các ao đã bị ô nhiễm.
Trang 16
38,81 19,23
0
2
Brachionus falcatus
0
0
2,59
3,57
47,26 42,31
0
3
Brachionus calyciflorus
40 42,86
0
0
Lepadella sp
0
0
0
0
6,47
3,85
0
7
Trichocerca sp
0
0
0
0
0
0
0
40 28,57 93,97 71,43
20
0
0
0
0
0
40
0
0
1,72
7,14
0
Văn Tuyên (1998) thì chỉ số đa dạng H’ vừa nói lên mức độ đa dạng về loài, vừa nói lên
mức đồng đều của các loài đó. Giá trị H’ tăng khi số loài trong quần xã tăng, trong thực tế
giá trị H’ không vượt quá 5,0. Giá trị H’ càng cao môi trường càng ít ô nhiễm (Lê Trình,
2004).
Kết quả khảo sát cho thấy chỉ số đa dạng H’ biến động từ 0 – 1,61. Sự biến động chỉ số H’
không chỉ phụ thuộc vào số lượng loài Rotifera ở trong thủy vực mà nó còn phụ thuộc nhiều
vào tần suất xuất hiện của từng loài trong vị trí khảo sát. Ở đợt khảo sát 1, A6 có số loài cao
nhất (7 loài) chỉ số H’ là 1,61 và chỉ số H’ thấp nhất là 0 ở điểm A1 khi chỉ có sự hiện diện
của 1 loài Rotifera. Tuy nhiên, tại vị trí A3, A4 đều có sự hiện diện của 4 loài nhưng chỉ số
H’ lần lượt là 0,25 và 0,86.
Trang 17
Bảng 8. Biến động chỉ số đa dạng của Rotifera theo vị trí thu mẫu
Điểm thu mẫu
Đợt thu mẫu
A1
A2
A3
A4
A5
A6
1,61
0,69
Tổng số loài
3
3
4
4
6
6
3
0,69
1,04
0,33
0,86
1,18
trong nuôi thủy sản hiện nay như B. calyciflorus (196 μm), B. rubens (216 μm). Điều này rất
có ý nghĩa trong việc đáp ứng nhu cầu thức ăn tự nhiên cho các loài cá bột có kích thước
miệng nhỏ như cá bống tượng (chiều dài khoảng 4mm, kích cỡ miệng khoảng 0,1 mm) và
góp phần nâng cao hiệu quả trong việc sản xuất giống. Saksena (1987) trong nghiên cứu của
mình cũng đã cho rằng B. angularis là một trong những loài luân trùng chỉ thị cho môi trường
từ vừa đến giàu dinh dưỡng và sự cạnh tranh môi trường sống của B. angularis cao hơn so
với một số loài khác thuộc nhóm Rotifera.
Trang 18