HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP HÓA HỌC - Pdf 40

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ...............
TRƯỜNG THCS .................

*****

HƯỚNG DẪN HỌC SINH
GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP HÓA HỌC

1


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

Bìa
Bìa lót
Mục lục
Danh mục sách tham khảo
Lời giới thiệu
Tên sáng kiến, tác giả, chủ đầu tư, lĩnh vực áp dụng, ngày áp dụng đầu ...
Mô tả bản chất của đề tài
Cơ sở lý luận
Thực trạng nghiên cứu
Giải pháp thực hiện
Một số dạng bài tập cơ bản hóa học 9
Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
Kết luận và kiến nghị

1

8. Câu hỏi và bài tập Hoá Học trắc nghiệm 8,9. Ngô Ngọc An
9. Ôn luyện Hóa Học 9.
(Nhà xuất bản giáo dục - Phan Thanh Bình - Đỗ Thị Lâm)
10. Đề kiểm tra theo chuẩn kiến thức kĩ năng hóa học 9
(Nhà xuất bản giáo dục - Đặng Thị Oanh - Trần Cẩm Tú)

Danh mục viết tắt.
CTHH : Công thức hóa học
PTHH: Phương trình hóa học
M: Khối lượng mol
m: Khối lượng chất
n: Số mol chất
V: Thể tích chất
Các biểu bảng
Bảng 1: Bảng thống kê điểm kiểm tra đầu vào
Bảng 2: Bảng thống kê điểm kiểm tra đầu ra (sau khi tác động)

Phần I: LỜI GIỚI THIỆU
I. LỜI GIỚI THIỆU

1.1. Cơ sở lí luận:
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, chất lượng Giáo dục - Đào
tạo là vấn đề mà toàn xã hội quan tâm. Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng Giáo dục Đào tạo là vấn đề lớn đặt ra đối với toàn xã hội, nhưng chịu trách nhiệm trực tiếp nhất
chính là những người làm công tác trong ngành giáo dục ở tất cả các ngành học, bậc học,
3


cấp học, trong đó có bậc THCS. Trong bối cảnh toàn ngành đang nỗ lực đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong
hoạt động học tập. Trong điều kiện hiện nay khi khoa học kĩ thuật của nhân loại phát triển

4


1.3. Mục đích nghiên cứu:
Nội dung chuyên đề này nhằm tìm hiểu thực trạng dạy và học ở trường THCS, đề cập
đến những vấn đề lí luận chung, lí luận riêng về "Hướng dẫnhọc sinh giải một số dạng
bài tập hóa học 9" trao đổi học tập những kinh nghiệm giảng dạy đặc biệt với bộ môn
Hoá 9 để thống nhất biện pháp tổ chức các hoạt động dạy học, hình thành cho học sinh kĩ
năng giải bài tập Hoá học 9 để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy - học môn Hoá học.
Nghiên cứu, phân loại một số dạng bài tập cơ bản Hoá học 9 giúp học sinh biết nhận
dạng một số bài tập hoá học, có phương pháp giải bài tập hoá học. Phát huy tính tích cực
và tạo hứng thú cho học sinh trong học tập đặc biệt là trong việc giải bài tập Hoá học 9.
1.4. Bản chất
Thông qua môn Hoá học học sinh không chỉ được trang bị những kiến thức cơ bản về
các khái niệm, định luật, phương trình hoá học mà còn rèn luyện được kĩ năng thực
nghiệm, phân loại, tra cứu, sử dụng thông tin, kĩ năng phân tích, tổng hợp phán đoán vận
dụng kiến thức để giải một số bài tập cơ bản. Từ đó giúp học sinh hiểu đúng đắn và hoàn
chỉnh nâng cao những tri thức hiểu biết về thế giới con người, là cơ sở phát huy tính sáng
tạo, biết vận dụng kiến thức kỹ năng phục vụ cho đời sống con người.

II. TÊN SÁNG KIẾN:
" HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP HÓA HỌC 9 ".

III. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN :
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Hường
Địa chỉ: Trường THCS Thổ Tang - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc.
Điện Thoại: 0914590459
Email:
5


năng, phương pháp giải một số bài tập cơ bản một cách độc lập sáng tạo, phát huy thêm
khả năng tự học, tự nhận thức của học sinh.
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
2.1 Thực trạng, nguyên nhân.
Trường THCS Thổ Tang có bề dày truyền thống trong công tác giảng dạy, ban giám
hiệu luôn quan tâm giúp đỡ tới đội ngũ giáo viên và học sinh, đa số học sinh có ý thức học
tập tốt. Phát huy những thuận lợi và những kết quả đạt được trong những năm học trước,
cùng với sự tích cực nghiên cứu hoàn thiện chuyên đề này, cũng như nhận được sự giúp
đỡ, tạo điều kiện từ nhiều phía, chúng tôi đã và đang áp dụng chuyên đề này tại trường.
Qua thực tế giảng dạy cho thấy: môn Hoá học trong trường phổ thông là môn học mà
học sinh thấy khó khăn ngại học, ảnh hưởng đến kết quả học tập. Đa số học sinh không tự
giải quyết được các bài tập tính toán trong sách giáo khoa, mặc dù trong giảng dạy đã chú
ý đến việc hướng dẫn cụ thể, chi tiết cho từng phần kiến thức có liên quan đến các dạng
bài tập, có những bài tập đã hướng dẫn chi tiết nhưng khi gặp lại học sinh vẫn còn bỡ ngỡ
không làm được. Cụ thể: Khi đọc một bài tập hoá học đa số các em chưa xác định được đề
bài đã cho những đại lượng gì, có liên quan đến công thức nào cần sử dụng đại lượng đề
bài yêu cầu . Các em chưa xác định được hướng giải phù hợp. Mặt khác, học sinh chưa
nắm vững được công thức cơ bản và kĩ năng lập PTHH nên ảnh hưởng đến khả năng giải

7


bài tập hoá học vì thế chúng tôi đã đi sâu tìm hiểu nghuyên nhân để tìm bịên pháp khắc
phục. Chúng tôi nhận thấy có một sơ nguyên nhân dẫn đên tình trạng trên:
- Một số gia đình học sinh mải làm kinh tế, mức độ nhận thức của phụ huynh học
sinh còn hạn chế, không có điều kiện quan tâm đến việc học tập của con em mình.
- Nhiều học sinh còn ham chơi nên thời gian dành cho học tập không nhiều
Việc học tập của học sinh chủ yếu ở giờ chính khoá nên thời gian ôn tập, củng cố
cũng như hướng dẫn các dạng bài tập cho học sinh ít.
- Việc áp dụng lí thuyết vào giải bải tập hoá học của học sinh chưa linh hoạt sáng tạo

9A

45

0

0

4

6

12 13

5

9B

42

0

3

5

5

10


5,2

- Qua kết quả trên chúng ta thấy tỉ lệ học sinh khá giỏi ít, số học sinh yếu kém còn
nhiều. Từ thực trạng như vậy chúng tôi dành thời gian để thực hiện chuyên đề và bước
đầu đã cho kết quả khả quan.
3. Các giải pháp thực hiện:
3.1. Đối với giáo viên
Thực hiện giảng dạy theo phương pháp mới, sử dụng tối đa đồ dùng học tập để học
sinh nắm vững lí thuyết, trong quá trình giảng dạy, cần quan tâm đến từng đối tượng học
sinh, động viên khuyến khích kịp thời giúp các em học tập tốt.
Giáo viên cần trang bị cho học sinh vốn kiến thức cơ bản về hoá học, với học sinh
trung bình, yếu, kém giáo viên cần ghi tóm tắt, hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ, như vậy
8


sẽ kích thích được hứng thú học tập của đại đa số các đối tượng học sinh. Các em sẽ ít
ngại học môn Hoá học.
Giáo viên chọn các bài tập từ dễ đến khó sẽ tạo được sự tích cực tính độc lập, tính
sáng tạo cho học sinh, sử dụng triệt để hệ thống bài tập trong việc củng cố kiến thức cơ
bản, trong đó người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh, tạo ra
giờ học hứng thú, thoải mái.
Với mỗi dạng bài tập, giáo viên cần giúp học sinh phân tích tìm hiểu kĩ đề bài, tái
hiện được kiến thức cần áp dụng qua đó định hướng được phương pháp giải các dạng bài
tập hoá.
Để rèn học sinh có phương pháp giải các dạng bài tập hoá học bản thân giáo viên
phải không ngừng tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến bộ môn học, thường
xuyên dự giờ, trau dồi học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp trong công tác giảng dạy để
đưa ra giải pháp tốt nhất trong việc nâng cao chất lượng môn Hoá học.
Thông qua bài tập Hoá học giúp học sinh hình thành, rèn luyện, củng cố kiến thức kĩ
năng về Hoá học, qua đó yêu cầu học sinh thực hiện các thao tác tư duy như tái hiện kiến

ý nghĩa của từng đại lượng mở rộng. Cần tóm tắt đề bài bằng kí hiệu hóa học, chuyển đổi
đơn vị nếu cần thiết.
Bước 2: Xác định hướng giải bài tập: Tái hiện lại các khái niệm, các qui tắc, công
thức,... có liên quan.Từ đó tìm ra mối liên hệ giữa điệu kiện đề bài cho với yêu cầu bài tập.
Bước 3: Trình bày lời giải: Thực hiện các bước đã vạch ra.
Bước 4: Kiểm tra kết quả: Xem lại đã trả lời đúng yêu cầu của bài chưa? Tính toán
có sai sót không?

4.1.Dạng bài tập định tính ( bài tập lí thuyết)
4.1.1.Bài tập về thực hiện tính chất của các chất viết PTHH.
a. Đặc điểm bài toán- Phương pháp
Trong dạng bài tập này thường thực hiện việc viết PTHH trên cơ sở các tính chất
hóa học của các chất vì vậy người giáo viên yêu cầu học sinh phải nắm chắc, thuộc các
tính chất hóa học của các chất vô cơ hay hữu cơ đã học. trên cơ sở tính chất chung thực
hiện các yêu cầu của bài.
Dạng bài tập này dải đếu ở hấu hết tất cả các phần bài tập sau học lý thuyết, nhằm
củng cố khắc sâu kiến thức lý thuyết của học sinh
b.Ví dụ
Ví Dụ1: ( Bài 1 SGK trang 6)
Có những oxit sau: CaO, Fe2O3, SO3. oxit nào có thể tác dụng được với
a/ Nước?
b/ axit clohiđric?
c/ Natri hiđroxit?
Viết các PTHH.
Giải
a/ Các oxit tác dụng với nước: CaO, SO3.
CaO + H2O → Ca(OH)2
10



b.Ví dụ
Ví dụ 1: ( Bài 1 SGK trang 11)
S → SO2 → CaSO3
H2SO3 → Na2SO3 → SO2
Na2SO3
Giải
11


/
/

a/
b/
c/
d/
e/
g/

S + O2 → SO2
SO2 + Ca(OH)2 → CaSO3 + H2O
SO2 + H2O → H2SO3
2NaOH + H2SO3→ Na2SO3 + 2H2O
SO2 + Na2O → Na2SO3
Na2SO3 + H2SO4→ Na2SO4 + H2O + SO2

Ví dụ 2 ( Bài 1 SGK trang 30)
(1)
( 2)
( 3)

Cơ sở để giải bài tập này là dựa vào các tính chất khác nhau của từng chất. Vậy học
sinh cần hiểu rõ về tính chất vật lý, tính chất hóa học của các chất, các loại hợp chất.
Nguyên tắc: Dùng hóa chất thông qua phản ứng có hiện tượng xuất hiện để nhận biết
các hóa chất đựng trong các bình mất nhãn.
Phản ứng nhận biết: Phản ứng hóa học được chọn để nhận biết là phản ứng đặc trưng
đơn giản, nhanh nhạy, có hiện tượng rõ ràng (kết tủa, hòa tan, sủi bọt khí, mùi, thay đổi
màu sắc).
Cách trình bày bài tập nhận biết:
Bước 1: Trích mẫu thử (Đánh số thứ tự tương ứng)
Bước 2: Chọn thuốc thử để nhận biết (Tùy theo yêu cầu của đề bài: thuốc thử không
giới hạn, có giới hạn hay không dùng thuốc thử nào khác)
Bước 3: Cho thuốc thử vào mẫu thử, trình bày hiện tượng quan sát được (mô tả hiện
tượng xảy ra) rút ra kết luận đã nhận biết được chất nào.
Bước 4: Viết phương trình phản ứng xảy ra khi nhận biết để minh họa.
12


B. Một số dạng bài tập nhận biết
I. Dạng toán không giới hạn thuốc thử:
1. Nhận biết chất rắn:
a. Đặc điểm bài toán - Phương pháp
Khi nhận biết các chất rắn cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Nếu đề yêu cầu nhận biết các chất ở thể rắn, hãy thử nhận biết theo thứ tự:
Bước 1: Thử tính tan trong nước.
Bước 2: Thử bằng dung dịch axit (HCl, H2SO4, HNO3…)
Bước 3: Thử bằng dung dịch kiềm.
- Có thể dùng thêm lửa hoặc nhiệt độ, nếu cần.
b.Ví dụ
Ví dụ 1: Bài 3 SGK trang 72): Có 3 kim loại là nhôm, bạc, sắt. Hãy nêu phương pháp
hoá học để nhận biết từng kim loại. Các dụng cụ hóa chất coi như có đủ. Viết các phương

b/ - Dùng quì tím để nhận biết được Na 2CO3 làm quì tím hóa xanh, NaCl không đổi
màu quì tím, HCl và H2SO4 làm quì tím hóa đỏ.
- Dùng dung dịch BaCl2 để nhận biết 2 dung dịch làm quì tím hóa đỏ: H2SO4 phản
ứng tạo kết tủa trắng, HCl không phản ứng.
PTPƯ: BaCl2 + H2SO4 → BaSO4 ↓ trắng + 2HCl
c/ - Dùng quì tím chia thành hai nhóm.
+ Nhóm 1: NaOH, Ba(OH)2 làm quì tím hoá xanh
+ Nhóm 2: BaCl2, NaCl không đổi màu quì tím
- Cho dung dịch Na2SO4 vào từng mẫu thử ở hai nhóm. Ở nhóm 1: mẫu tạo kết tủa
trắng là Ba(OH)2, NaOH không phản ứng. Nhóm 2: mẫu tạo kết tủa trắng là BaCl 2, NaCl
không phản ứng.
PTPƯ: Ba(OH)2 + Na2SO4 → BaSO4 ↓ trắng + 2NaOH
BaCl2 + Na2SO4 → BaSO4 ↓ trắng + 2NaCl
d/ - Dùng dung dịch HCl để nhận biết được K 2CO3 vì có khí thoát ra, AgNO3 có kết
tủa trắng tạo thành.
PTPƯ: K2CO3 + 2HCl → 2KCl + CO2↑ + H2O
AgNO3 + HCl → AgCl ↓ trắng + HNO3
-Dùng dung dịch BaCl2 để nhận biết Na2SO4 vì có kết tủa trắng tạo thành, BaCl 2
không phản ứng.
PTPƯ:
BaCl2 + Na2SO4 → BaSO4 ↓ trắng + 2NaCl
e/ - Dùng dung dịch NaOH để nhận biết: Thấy tạo kết tủa xanh chất ban đầu là
Cu(NO3)2; tạo kết tủa trắng sau đó hóa đen chất ban đầu là AgNO 3; tạo kết tủa đỏ nâu chất
ban đầu là Fe(NO3)3; KNO3 không phản ứng.
PTPƯ: Cu(NO3)2 + 2NaOH → Cu(OH)2 ↓ xanh + 2NaNO3
AgNO3 + NaOH → AgOH ↓ trắng + NaNO3
2AgOH → Ag2O ↓ đen + H2O
14



Na2S.
- Các phương trình phản ứng:
AgNO3 + HCl → AgCl ↓ trắng + HNO3
Na2S + 2HCl → 2NaCl + H2S ↑ mùi trứng thối
15


Hoặc HS có thể làm Na2S, dd NaOH làm quỳ tím hóa xanh. HCl làm quỳ tím hóa
đỏ. Sau đó dùng HCl vừa nhận biết được để nhận biết các chất còn lại.
Ví dụ 2: Chỉ được dùng phenolphtalein, hãy nhận biết 3 dung dịch bị mất nhãn sau:
KOH, KCl, H2SO4.
Hướng dẫn giải
- Dung dịch KOH làm hồng phenolphtalein.
- Khi cho dung dịch KOH có màu hồng ở trên vào 2 dung dịch còn lại nhận ra dung
dịch H2SO4 làm mất màu hồng.
PTPƯ: H2SO4 + 2KOH → K2SO4 + 2H2O
Còn lại là KCl
c. Các bài tập tương tự tự luyện:
( Bài 1, 2 SGK trang 9) ( Bài 2 SGK trang 11), ( Bài 3, SGK trang 19) ( Bài 4, SGK trang
25), ( Bài 2 SGK trang 30), ( Bài,2, SGK trang 33) …

4.1.4.Dạng bài tập tách chất ra khỏi hỗn hợp
a. Đặc điểm bài toán-Phương pháp
- Dùng phương pháp hóa học tách riêng 1 chất ra khỏi hỗn hợp hoặc tách riêng từng
chất ra khỏi hỗn hợp.
`
- Phản ứng dùng để tách chỉ tác dụng lên 1 chất trong hỗn hợp( thường là chất muốn
tách), sản phẩm tạo thành có thể tách dễ dàng khỏi hỗn hợp, sản phẩm đó dễ tái tạo lại
được chất ban đầu.
*.Phương pháp tái tạo:


Fe,Cu

+ H SO
2 4

FeSO4

+Zn

ZnSO4

+ Dùng H2SO4 loãng tách Cu( Fe tan trong axit H2SO4 tạo thành dung dịch FeSO4)
lọc lấy Cu không tan.
H2SO4 + Fe → FeSO4 + H2↑
+ Dùng Zn đẩy Fe ra khỏi FeSO4.
Zn + FeSO4 → ZnSO4 + Fe
Đây là loại bài tập đòi hỏi sự chuẩn xác cao (thu được sản phẩm khá tinh khiết và
không bị mất mát nhiều). Với đối tượng học sinh khá, giỏi thì nên làm chính xác, triệt để
hơn. Nếu thực hiện như trên thì Fe thu được sẽ lẫn Zn mà không được xử lý hay có những
phản ứng phụ do dung dư lượng hoá chất đã không được xét đến, có thể dễ làm sai lạc kết
quả.
Để chính xác hơn:
+ Dùng HCl tách Cu: (Fe tan trong dung dịch HCl dư tao thành dung dịch FeCl 2).
Lọc lấy Cu không tan.
Fe + HCl → FeCl2 + H2
+ Điện phân dung dịch FeCl2 thu được Fe.
FeCl2 đpdd
Fe + Cl2
Ví dụ 2: Để tách CO2 ra khỏi hỗn hợp A gồm: N2, CO2 ,H2, CO. Ta dẫn hỗn hợp A qua

- Khí còn lại là CO
Ví dụ 2:(Bài 7 SGK trang 72): Bạc dạng bột có lẫn tạp chất đồng, nhôm. Làm thế nào
để thu hồi được Ag tinh khiết. Các hóa chất coi như đủ.
Hướng dẫn: Dựa vào tính chất hóa học của kim loại để giải quyết bài toán.
- Hòa tan hỗn hợp Ag, Cu, Al vào dung dịch AgNO3 dư, thì Al, Cu bị hòa tan hết
Al + 3AgNO3 → Al(NO3)3 + 3Ag
Cu + 2AgNO3 → Cu(NO3)2 + 2Ag
- Lọc dung dịch và rửa sạch được Ag
c.Các bài tập tương tự tự luyện:
( Bài 5 SGK trang 6), ( Bài 2 SGK trang 54), ( Bài 4, SGK trang 58), ( Bài 3, SGK trang
60,) ( Bài 4 SGK trang 116) ) …
Một số lưu ý khi tách một số chất vô cơ:
Chất cần tách

PƯ tách và PƯ tái tạo lại chất ban đầu

Al (Al2O3
hay hợp chất
nhôm)

Al  
→ NaAlO2

Zn (ZnO)

Zn  
→ Na2ZnO2 CO
2 → Zn(OH)2 ↓

Mg


0

0
t MgO +CO

→ Mg
NaOH
 → Mg(OH)2 ↓ →

0
+CO
ck )
Fe (FeO hoặc Fe dd
HCl
→ Fe Cl2 NaOH
→ Fe
 → Fe(OH)2 ↓ t(
→ FeO 
Fe2O3)

Cu(CuO)

NaOH
SO
4
Cu H
2
→ CuSO4  → Cu(OH)2 ↓
( đn )

1. Điều chế oxit:

Phi kim + o xi

Nhiệt phân axit(axit mất nước)

Kim loại + oxi
O xi

OXIT

Nhiệt phân muối

+ hợp chất

Nhiệt phân ba zơ không tan
Kim loại mạnh + oxit kim loại yếu

t
Ví dụ:2 N2 + 5O2 → 2N2O5
H2CO3 →
CO2 + H2O
;
t Fe3O4
t CaO + CO2
3Fe + 2O2 →
;
CaCO3 →
t
t

P2O5 + 3 H2O →
2H3PO4
as
H2
+ Cl2
→ 2 HCl
t
2NaCl + H2SO4(đ/ nóng) →
Na2SO4 + 2 HCl
0

3. Điều chế ba zơ:
Kim loại + H2O

Kiềm + dd muối
BAZƠ

Oxit bazơ + H2O

Điện phân dd muối ( có màng ngăn)

19


Ví dụ:
2K +H2O → 2KOH + H2 ; Ca(OH)2 + K2CO3 → CaCO3 + 2 KOH
Na2O + H2O → 2 NaOH
; 2KCl + 2 H2O đpnc

→ 2KOH +H2 + Cl2

Hướng dẫn:
- Thực chất đây là kiểu bài tập thực hiện quá trình biến hoá nhưng chỉ cho biết chất đầu
và chất cuối. Học sinh phải suy nghĩ và lựa chọn con đường đúng nhất và ngắn nhất để
thực hiện (Vì chất điều chế được phải tinh khiết và về nguyên tắc nếu đi bằng con đường
dài hơn nhưng không sai thì vẫn giải quyết được yêu cầu của đề bài nhưng sẽ mất nhiều
thời gian để viết các phương trình đã dùng đến một cách không cần thiết)
- Xét bài tập trên: Mg → MgSO4
20


Sẽ thấy ngay cho Mg tác dụng với dung dịch axit sunfuric loãng tạo ra MgSO4
Mg + H2SO4 → MgSO4 + H2
Tương tự MgO → MgSO4
MgO + H2SO4 → MgSO4 + H2O
Mg(OH)2 → MgSO4
Mg(OH)2 + H2SO4 → MgSO4 +2 H2O
c. Các bài tập tương tự tự luyện:
( Bài 1 SGK trang 19), ( Bài 3 SGK trang 25), ( Bài 2 SGK trang 27), ( Bài 7,8 SGK
trang 81), ( Bài 5 SGK trang 143,) ( Bài 3 SGK trang 167) …

4.2. Dạng bài tập định lượng ( bài tậpcó tính toán)
4.2.1 / Bài toán tính theo PTHH dạng cơ bản
a. Đặc điểm bài toán-Phương pháp
Là dạng bài toán hóa học cơ bản, tính khối lượng, thể tích chất khí dựa vào PTHH của
phản ứng xảy ra. Học sinh phải nắm tốt các bước để làm bài toán và thực hiện thành thạo
kĩ năng tính toán.
Cách làm chung:
Bước 1: Đổi số liệu về số mol ( n) và viết PTHH
aA


=

22,4 = 1,5 (lit)

c. Các bài tập tương tự tự luyện:
( Bài 6 SGK trang 19,)( Bài 5 SGK trang 25), ( Bài 5 SGK trang 36), ( Bài 6 SGK trang
51), ( Bài 5 SGK trang 60), ( Bài 3 SGK trang 116), ( Bài 4 SGK trang 119) …
4.2.2 Dạng bài tập về lượng chất dư
a. Đặc điểm bài toán - Phương pháp
Khi trường hợp bài toán cho biết lượng của hai chất tham gia và yêu cầu tính lượng chất
tạo thành. Trong số hai chất tham gia phản ứng sẽ có một chất tham gia phản ứng hết.
Chất kia có thể phản ứng hết hoặc dư. (Hoặc cả hai chất còn dư sau phản ứng. Tuy nhiên
với bài tập hóa học lớp 9 chỉ học dạng một chất phản ứng hết còn một chất dư). Lượng
chất tạo thành tính theo lượng chất nào phản ứng hết, do đó phải tìm xem trong hai chất
cho biết chất nào phản ứng hết.

Dạng 1:

Xác định chất dư khi cho dữ kiện của hai chất tham gia phản ứng trong đó

một chất phản ứng hết, một chất còn dư sau phản ứng.
Dấu hiệu: Biết n, m hoặc v của A, B
I. Cách làm chung
Bước 1: Đổi số liệu về số mol và viết PTHH
n A, n B
aA

+ bB → cC + dD

Bước 2: Lập tỉ số

98

Al2O3 + 3 H2SO4
Ta có:

n Al2O3
1

=

Al2(SO4)3 +3 H2O

n
0,59
0,5
> H 2 SO4 =
1
3
3

vậy Al2O3 dư sau phản ứng.
Theo PTHH :

1
0,5
nAl2O3 = nAl2 ( SO4 )3 = nH 2SO4 =
mol.
3
3
Vậy:Khối lượng muối nhôm sunfat tạo thành là:


Fe + H2SO4 → FeSO4
Ta có

>

+ H2

(1)

⇒ Fe dư sau phản ứng. Axit phản ứng hết

Theo PT (1) n Fe phản ứng = n H2SO4 = 0,25 (mol)
⇒ n Fe dư sau phản ứng = 0,4 - 0,25 = 0,15 (mol)
⇒ Khối lượng sắt dư sau phản ứng là:
0,15 . 56 = 8,4 (gam)
b/ Theo PT (1)
n H2 = n H2SO4 = 0,25 (mol)
Vậy thể tích khí hidro (đktc) thu được là:
0,25 . 22,4 = 5,6 (lit)

Dạng 2: Tính nồng độ dung dịch của các chất sau phản ứng khi biết trong dung dịch
sau phản ứng có chất dư.
I. Cách làm chung
Bước 1: Đổi số liệu về số mol và viết PTHH
n A, n B
aA

+ bB → cC + dD



m H2SO4 = .100 = 20 (gam)
n H2SO4 =
CuO + H2SO4
Ta có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status