Đánh giá khả năng triển khai chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉnh bắc kạn - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------

MA THỊ NGẦN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI CHI TRẢ
DỊCH VỤ MÔI TRƢỜNG RỪNG TRỰC TIẾP TẠI
THÔN BẢN DUỐNG, XÃ HOÀNG TRĨ,
HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------

MA THỊ NGẦN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI CHI TRẢ
DỊCH VỤ MÔI TRƢỜNG RỪNG TRỰC TIẾP TẠI
THÔN BẢN DUỐNG, XÃ HOÀNG TRĨ,
HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Lâm học

ii

LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên theo chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Lâm học khóa 21
(2014 - 2015).
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tác giả đã nhận được
sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Sau Đại học và các thầy, cô
giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên các bạn bè đồng nghiệp và các
cán bộ địa phương nơi tác giả thực hiện nghiên cứu. Nhân dịp này tác giả xin
chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ hiệu quả đó.
Trước tiên, tác giả xin đặc biệt cảm ơn TS. Lý Văn Trọng người hướng
dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ thuộc dự án 3PAD và Vườn
quốc gia Ba Bể, UBND các xã Nam Mẫu, Hoàng Trĩ đã tạo điều kiện giúp đỡ
tác giả trong việc thu thập số liệu ngoại nghiệp để thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả nghiên cứu là trung
thực và được trích dẫn rõ ràng.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, 2015
Tác giả

Ma Thị Ngần

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




iii




iv

1.3.1. Đặc điểm tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên ............................ 23
1.3.1.1. Đặc điểm tự nhiên .............................................................................. 23
1.3.1.2. Các nguồn tài nguyên ......................................................................... 25
1.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ...................................................................... 26
1.3.2.1. Dân tộc, dân số và lao động ............................................................... 26
1.3.2.2. Tình hình phát triển kinh tế ................................................................ 26
1.3.2.3. Hiện trạng xã hội ................................................................................ 27
1.3.3. Đặc điểm môi trường rừng liên quan tới chi trả DVMT tại
khu vực Ba Bể ................................................................................................. 28
1.3.4. Hiện trạng về môi trường và kinh tế - xã hội của thôn Bản Duống và
vùng hạ lưu liên quan đến chi trả DVMT ....................................................... 29
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 31
2.1. Đối tượng, phạm vi thời gian nghiên cứu ................................................ 31
2.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 31
2.2.1. Các điều kiện bối cảnh thử nghiệm chi trả DVMTR tại
khu vực nghiên cứu ......................................................................................... 31
2.2.2. Tiến trình thực hiện PES ....................................................................... 31
2.2.3. Đánh giá kết quả thực hiện hoạt động PES tại Bản Duống đến thời điểm
hiện tại ............................................................................................................. 31
2.2.4. Đề xuất, kiến nghị ................................................................................. 32
2.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 32
2.3.1. Lựa chọn địa điểm nghiên cứu .............................................................. 32
2.3.2. Phương pháp kế thừa tài liệu số liệu thứ cấp ........................................ 32
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp..................................................... 32

3.4.3. Kết quả đánh giá mô hình chi trả DVMTR tại Bản Duống. ................. 49
3.4.4. Kết quả đánh giá tác động sau khi triển khai thực hiện của mô hình PES
tại thôn Bản Duống ......................................................................................... 54
3.4.5. Kết quả phân tích những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải
pháp thực hiện mô hình chi trả DVMTR tại Bản Duống................................ 56
3.4.5.1. Kết quả phân tích những thuận lợi khó khăn trong quá trình thực hiện
mô hình chi trả DVMTR tại thôn Bản Duống. ............................................... 56

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




vi

3.4.5.2. Một số giải pháp cho mô hình PES tại Bản Duống ........................... 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 60
1. Kết luận ....................................................................................................... 60
2. Kiến nghị ..................................................................................................... 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
II. Tài liệu tiếng Anh
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




vii

: Hợp tác xã

ICRAF

: Tổ chức nông lâm thế giới

LHQ

: Liên hợp quốc

LSNG

: Lâm sản ngoài gỗ

NN&PTNT

: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

PEFS

: Chi trả dịch vụ môi trường rừng

PES

: Chi trả dịch vụ môi trường

REDD/ REED+: Giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng và suy
thoái rừng ở các nước đang phát triển
UBND




ix

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Hình ảnh vệ tinh vị trí xã Nam Mẫu và Hoàng Trĩ ......................... 24
Hình 1.2. Bản đồ huyện Ba Bể........................................................................ 28
Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức của mô hình chi trả PES tại Bản Duống. ............... 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




1

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, trên phạm vi cả nước công tác quản lý sử dụng rừng phòng hộ
đang còn nhiều bất cập, các cơ chế hưởng lợi từ rừng phòng hộ ở những địa
phương khác nhau đều áp dụng theo những chính sách, quy định duy nhất đang
bộc lộ những thực tế không hợp lý, hiệu quả. Hơn nữa, các chính sách về
hưởng lợi từ rừng phòng hộ hiện nay như QĐ 178/2001/TTg và Thông tư
35/2011/ TT- BNNPTNT tạo rất ít cơ hội cải thiện đời sống mọi mặt của những
hộ dân, cộng đồng là chủ rừng phòng hộ, vì gần như chưa có nguồn lợi khả dĩ
nào mà họ được thực sự tiếp cận. Các chương trình, dự án quốc gia như 661,
147 dần dần kết thúc, có nghĩa rằng nguồn hỗ trợ tuy ít ỏi, duy nhất đối với
những cộng đồng dân cư nghèo, sống gần như phụ thuộc vào rừng cũng không
còn được tiếp tục duy trì. Những bất cập nêu trên là nguyên nhân chủ yếu của
một thực tế là: rừng vẫn bị mất (kể cả rừng đặc dụng và rừng phòng hộ) hoặc

tiền thẳng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng không cần thông qua tổ
chức trung gian. Chi trả trực tiếp được thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa
thuận tự nguyện giữa bên sử dụng và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng
phù hợp với quy định tại các Nghị định và Thông tư này và là hình thức chi
trả có tính hiệu quả, khả năng bền vững cao nhất, nhưng cũng là hình thức
khó xác lập nhất và gặp nhiều trở ngại trong việc xác định lượng chi trả,
phương thức chi trả và quá trình đánh giá giám sát…
Hiện nay, ở khu vực Vườn quốc gia Ba Bể, kể cả vùng lõi và vùng
đệm, nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất, đặc biệt là phục vụ du lịch
sinh thái ở những khu vực thấp: mặt hồ, các thôn bản chuyên làm du lịch như
Bó Lù, Pác Ngòi… , ruộng vườn xung quanh hồ phụ thuộc rất nhiều vào việc
giữ được các khu rừng đầu nguồn ở các thôn bản vùng cao như Bản Duống và
một số thôn vùng cao khác.
Những hậu quả của việc mất rừng, suy thoái rừng, biến đổi khí hậu, ô
nhiễm môi trường đã và đang là mối quan tâm đặc biệt của các tổ chức, cá nhân
đối với hệ sinh thái của Vườn quốc gia Ba Bể như bồi lắng tại Hồ Một (gần
thôn Pác Ngòi, Bó Lù), nguồn nước không ổn định, đất bị xói mòn gần các
thôn Đán Mẩy, Khâu Qua, Cốc Tộc…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




3

Thôn Bản Duống thuộc xã Hoàng Trĩ, có vai trò rất quan trọng, đó là
thôn vùng cao thượng nguồn của Hồ Ba Bể và các thôn, xã liên quan khác ở
vùng dưới.
Các thôn bản vùng thấp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ có điều kiện
phát triển du lịch như: trực tiếp cung cấp các dịch vụ du lịch như tham quan,

bỗ khuyết cho các bước tiếp theo, cũng như có thể mở rộng sang các thôn
khác, như thôn Nà Diếu… chẳng hạn, cần có những nghiên cứu, đánh giá một
cách khoa học. Đề tài “Đánh giá khả năng triển khai Chi trả dịch vụ môi
trường rừng trực tiếp tại thôn Bản Duống, xã Hoàng Trĩ, huyện Ba Bể,
tỉnh Bắc Kạn” xuất phát từ nhu cầu thực tế trên. Kết quả nghiên cứu nhằm
bước đầu phục vụ cho việc khắc phục những bất cập, tồn tại và đóng góp
những bài học kinh nghiệm cho quá trình hoàn thiện về phương án chi trả
cũng như góp phần hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ
về chi trả dịch vụ môi trường rừng, hướng tới quản lý sử dụng rừng và đất
lâm nghiệp bền vững.
2. Mục tiêu
- Đánh giá được những kết quả bước đầu về thực hiện chi trả: cơ chế,
tính tự nguyện, khả năng bền vững, khả năng mở rộng, các bất cập và hướng
khắc phục.
- Bước đầu đề xuất được các kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện cơ
chế, chính sách chi trả DVMT.
3. Phạm vi nghiên cứu
Thôn Bản Duống xã Hoàng Trĩ và các thôn liên quan như Bó Lù, Pác
Ngòi (xã Nam Mẫu); các hộ làm dịch vụ xuồng máy, các nhà nghỉ phục vụ du
lịch, VQG Ba Bể.
Các hoạt động chi trả DVMTR của dự án 3PAD.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
Đóng góp vào bài học kinh nghiệm trong các giải pháp quản lý rừng
bền vững, bổ sung vào cơ sở dữ liệu về chi trả DVMT vì đây là lĩnh vực mới
mẻ ở Việt Nam, đặc biệt là hình thức chi trả trực tiếp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN



những lợi ích này được gọi là dịch vụ hệ sinh thái hay dịch vụ môi trường.
Theo Costanza và cs. (1997) [22] các dịch vụ môi trường là "những lợi
ích của các hệ sinh thái rừng cung cấp cho hộ gia đình, cộng đồng và nền
kinh tế". Cụ thể hơn, chức năng của hệ sinh thái rất đa dạng như môi trường
sống, các đặc tính sinh học hoặc hệ thống, hoặc các quá trình của hệ sinh thái.
Các loại sản phẩm từ hệ sinh thái (chẳng hạn như thực phẩm) và dịch vụ
(chẳng hạn như đồng hóa chất thải) thể hiện qua lợi ích mà các cộng đồng
người thu được, trực tiếp hay gián tiếp, từ các chức năng hệ sinh thái.
Theo Wunder và cs. (2005) [23] Chi trả dịch vụ môi trường được hiểu
là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, có ràng buộc về mặt pháp
lý. Với hợp đồng này thì một hay nhiều người mua dịch vụ sẽ chi trả bằng
cách trả tiền mặt hoặc các hỗ trợ cho một hoặc nhiều người bán (hay còn gọi
là „người cung cấp dịch vụ sinh thái‟). Người bán người cung cấp dịch vụ này
có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sử dụng đất nhất định cho một giai
đoạn xác định để đảm bảo các dịch vụ môi trường thoả thuận.
Theo IUCN thì dịch vụ môi trường là “Các điều kiện và các mối hệ mà
thông qua đó các hệ sinh thái tự nhiên và các loài phát triển tồn tại và phục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




7

vụ cho cuộc sống con người. IUCN cũng đưa ra khái niệm về chi trả dịch vụ
môi trường được đưa ra như sau “Người mua tự nguyện đồng ý trả tiền hoặc
các khuyến khích khác để chấp nhận và duy trì các biện pháp quản lí tài
nguyên thiên nhiên và đất bền vững hơn mà nó cung cấp dịch vụ hệ sinh thái
xác định”.
Trên thế giới PES đã được chú ý thực hiện từ những năm 90 của thế kỉ

suy thoái rừng, viết tắt là REDD+ .
Theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP [16], dịch vụ môi trường rừng là công
việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu
cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ: bảo vệ
đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối, điều tiết và
duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội, hấp thụ và lưu giữ cácbon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp
ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững,
bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái
rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch và dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn
và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản.
Nghị định 99 tạo ra cơ sở pháp lý cho các tỉnh để đề nghị các nhà máy
thủy điện, công ty cung cấp nước sạch và các đơn vị kinh doanh du lịch chi
trả một phần nhất định từ doanh thu của họ cho bên cung cấp dịch vụ môi
trường. Ví dụ về bên cung cấp DVMT như các chủ sử dụng đất và những
người bảo vệ rừng. Các DVMT quy định trong chính sách này rất rõ ràng là
cung cấp nước, vẻ đẹp cảnh quan, lâm sản, nguồn gen, đa dạng sinh học, và
chống xói mòn và lũ lụt. Các loại rừng được chi trả DVMT rừng bao gồm:
rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Theo nghị định này có 2 hình
thức chi trả DVMTR là chi trả trực tiếp và chi trả gián tiếp.
Hình thức chi trả trực tiếp là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả
tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Đối với loại hình chi
trả này được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng
có khả năng và điều kiện việc thực hiện chi trả thẳng cho bên cung ứng dịch
vụ môi trường rừng không cần qua tổ chức trung gian. Ở Việt Nam chi trả
trực tiếp được thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận tự nguyện giữa bên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN





Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




10
 „Tính thực tế‟: việc chi trả phải gắn kết với các mức thay đổi đo đếm
được của dịch vụ môi trường;
 „Tính điều kiện‟: chi trả dựa trên hiệu quả và, nếu có thể, kết quả đầu
ra. „Tính điều kiện‟ cũng có nghĩa việc chi trả chỉ được thực hiện nếu người
cung cấp dịch vụ tuân thủ hợp đồng. Tính điều kiện đồng thời yêu cầu các
chính sách và khung thể chế hỗ trợ cùng với sự giám sát hiệu quả và phạt vi
phạm đối với các trường hợp không tuân thủ, điều mà rất nhiều mô hình PES
khó đạt được trên thực tế.
 „Tính tự nguyện‟: chi trả dựa trên sự đồng thuận một cách tự do và
được thông tin trước của tất cả các bên, với mức đền đáp phù hợp với tất cả
mọi bên tham gia; và
 „Tính hướng nghèo‟: (hoặc ít nhất không làm tăng sự bất bình đẳng),
tức là giảm được nghèo hoặc không làm sâu thêm sự chênh lệch giàu nghèo
tại cộng đồng tham gia cung cấp DVMT.
Phương pháp xác định mức chi trả
Theo 4 nguyên tắc trên, lượng chi trả cho dịch vụ môi trường thường
được xác định dựa trên những lựa chọn của người mua và người bán, các cân
nhắc về cung cầu, công bằng, khả năng tài chính, và tính hiệu quả.
Xác định được mức chi trả/đền đáp hoặc giá hợp đồng nhằm phản ánh
được giá trị của việc bảo tồn đồng thời bù đắp cho những chi phí cơ hội của
chủ sở hữu đất những người cung cấp dịch vụ. Nếu mức chi trả quá thấp, các
nhà cung cấp dịch vụ tiềm năng có thể sẽ không tham gia bởi vì chi phí của
việc chuyển đổi hình thức sử dụng đất hoặc gìn giữ duy trì nguồn dịch vụ của

c cũng sử dụng đấu giá về bảo

tồn để khuyến khích bảo vệ hệ thực vật và đa dạng sinh học trên đất tư.
1.2. Những kinh nghiệm trên thế giới và trong nƣớc về chi trả dịch vụ
môi trƣờng
1.2.1. Chi trả dịch vụ môi trường trên thế giới
Mặc dù PES là một khái niệm mới, được đưa vào tư duy và thực tiễn
bảo tồn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên, nó đã nhanh chóng trở nên phổ
biến ở một số nước. Sự phát triển của PES ngày càng được lan rộng và ở một
số nước PES còn được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật. Hiện nay,
PES đã nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi
ích trong cộng đồng và xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




12

Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình PES sớm
nhất. Ở châu Âu, Chính phủ một số nước cũng đã quan tâm đầu tư và thực
hiện nhiều chương trình, mô hình PES. Ở châu c, Australia đã luật pháp hoá
quyền phát thải cácbon từ năm 1998, cho ph p các nhà đầu tư đăng ký quyền
sở hữu hấp thụ cácbon của rừng. PES cũng đã được phát triển và thực hiện thí
điểm tại châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và
Việt Nam. Đặc biệt là Indonesia và Philippines đã có nhiều nghiên cứu điển
hình về PES đối với quản lý lưu vực đầu nguồn [15].
Cho đến nay, hàng trăm sáng kiến mới về PES đã được xây dựng trên
khắp toàn cầu. Costa Rica, Mexico và Trung Quốc đã xây dựng các chương
trình PES quy mô lớn, chi trả trực tiếp cho các chủ đất để thực hiện các biện

thiện, trong khi cùng một lúc thu nhập của họ tăng và chất lượng nước cũng
được cải thiện. Khối lượng trầm tích trong hồ giảm. Kết quả là, nó đã có thể
để cung cấp nước đảm bảo chất và số lượng cho thành phố liên tục. Thành
phố Bhopal thúc đẩy bảo vệ rừng và cung cấp các giải thưởng, hỗ trợ cho
những người sống ở thượng nguồn để đảm bảo tính sẵn sàng liên tục của các
nguồn nước và giảm lượng bồi lắng về những hồ nước từ lưu vực [9].
Chi trả dịch vụ nước và vẻ đẹp cảnh quan
Chi trả DVMT nước là cơ chế chi trả cho các chức năng của lưu vực,
theo đó người sử dụng nước ở hạ lưu phải chi trả cho chủ rừng ở thượng lưu
để duy trì rừng chống xói mòn đất và nguy cơ lũ lụt; Cơ chế chi trả vẻ đẹp
cảnh quan thường bao gồm chi trả phí vào cửa các khu vực bảo tồn để tạo
nguồn quỹ bảo tồn thông qua du lịch; và du lịch dựa vào cộng đồng như là cơ
chế dịch vụ môi trường cho cả vẻ đẹp cảnh quan lẫn đa dạng sinh học.
Trong bối cảnh đó, các mô hình dịch vụ môi trường hiện nay ở Cốt-xơta Ri-ca là rất tương đồng. Một trong các mô hình dịch vụ môi trường ở Cốtxơ-ta Ri-ca là một số khách sạn tham gia vào cơ chế chi trả dịch vụ môi
trường để bảo vệ lưu vực. Cơ sở của việc chi trả này là nhận thức về mối
tương quan chặt chẽ giữa cung cấp dịch vụ môi trường nước do bảo vệ lưu
vực và người hưởng là ngành du lịch. Lý do là các hoạt động ngành du lịch
phụ thuộc rất lớn vào trữ lượng và chất lượng nước. Vì vậy, từ năm 2005 một
số khách sạn chi trả hàng năm 45,5 đô-la Mỹ cho mỗi ha đất của các chủ đất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




14

địa phương và trả 7% trong tổng số chi phí hành chính của mô hình chi trả
dịch vụ môi trường. Tuy nhiên, cũng ở Cốt-xơ-ta Ri-ca, “vẫn chưa có một cơ
chế được thừa nhận chung nào dựa vào lợi ích của mọi người được chi trả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status