SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Một số biện pháp giúp trẻ trẻ 4-5 tuổi phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt
động dạy trẻ kể chuyện”.
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Lênin đã viết: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con
người”. Trong cuộc sống của con người, trong sự phát triển xã hội loài người,
ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy,là phương tiện giữ gìn, bảo tồn,
truyền đạt và phát triển kinh nghiệm xã hội loài người. Ngôn ngữ còn là công cụ
biểu đạt tư tưởng, tình cảm, công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội.
Theo triết học Mac - Lênin, Ngôn ngữ là sản phẩm của sự phát triển lịch sử
xã hội. Tư duy và ngôn ngữ được hình thành và phát triển trong quá trình lao động.
Theo Usinxkin: “ngôn ngữ là cơ sở của mọi sự phát triển trí tuệ và là kho
tàng của mọi kiến thức. Tất cả mọi sự hiểu biết đều bắt đầu từ ngôn ngữ, thông
qua ngôn ngữ và trở lại cũng bằng ngôn ngữ”
Dạy tiếng mẹ để cho trẻ tuổi mầm non có một ý nghĩa đặc biệt quan
trọng. Ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp
phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Việc phát
triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với
các môn khoa học khác như: Môi trường xung quanh, làm quen với toán, âm
nhạc, tạo hình…mà điều tôi muốn nói ở đây đặc biệt là thông qua bộ môn làm
quen văn học. Bộ môn làm quen văn học dạy trẻ đọc thơ, kể chuyện, đóng
kịch… tạo cho trẻ được hoạt động nhiều. Việc phát triển vốn từ luyện phát âm
và dạy trẻ nói đúng ngữ pháp… không thể tách rời giaữ các môn học cũng như
các hoạt động của trẻ. Mỗi từ cung cấp cho trẻ phải dựa trên một biểu tượng cụ
thể, có nghĩa, gắn liền với âm thanh và tình huống sử dụng chúng. Nội dung vốn
từ cung cấp cho trẻ cũng như hình thức ngữ pháp phải phụ thuộc vào khả năng
tiếp xúc, hoạt động và nhận thức của trẻ.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong chương
triển ngôn ngữ thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện”, từ đó giúp phát triển
khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ, khả năng trình bày có lô gíc, có trình tự, chính
xác và có hình ảnh nội dung. Góp phần giúp cho trẻ phát triển toàn diện nhân
cách.
3. Đối tượng nghiên cứu :
Khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ 4-5 tuổi thông qua bộ môn văn học.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này tôi thực hiện các biện pháp sau:
4. 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận .
Phân tích tổng hợp lý thuyết: Thông qua đọc các tài liệu sách báo, tạp chí
có liên quan đến tổ chức hoạt động dạy phát triển ngôn ngữ cho trẻ cho trẻ 5-6
tuổi thông qua thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện.
Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết để làm rõ cơ sở của vấn
đề nghiên cứu.
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
a. Phương pháp điều tra :
Điều tra số lượng trẻ trên lớp, độ tuổi 4-5 tuổi với tổng số học sinh lớp 45 tuổi do tôi chủ nhiệm.
Điều tra về tình hình Phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Tìm hiểu các biện pháp Phát triển ngôn ngữ cho trẻ cho trẻ 4-5 tuổi
thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện để giúp trẻ đạt kết quả cao nhất.
b.Phương pháp quan sát :
Quan sát và lắng nghe trẻ trò chuyện với nhau thông qua hoạt động vui chơi.
c. Phương pháp trực quan:
Sử dụng hình ảnh, đồ chơi , tranh ảnh, quan sát, xem phim, tham quan…
giúp trẻ suy nghĩ mạch lạc và biểu hiện những ấn tượng của mình bằng lời nói
trôi chảy.
d. Phương pháp đàm thoại:
Tôi đàm thoại với các đồng nghiệp để trao đổi các kinh nghiệm hay trong
tạo trẻ phải tự nghĩ ra một nội dung câu chuyện, tạo ra cấu trúc logic được thể
hiện trong hình nói tương ứng (lời nói kết hợp với sử dụng đồ dung trực quan).
Yêu cầu này đòi hỏi trẻ phải có vốn từ phong phú, các kỹ năng tổng
hợp,kỹ năng truyền đạt ý nghĩ của mình một cách chính xác, tập trung chú ý và
nói biểu cảm. Những kỹ năng này trẻ lĩnh hội được trong quá trình nhận thức có
hệ thống bằng con đường luyện tập thường xuyên hang ngày. Từ những cơ sở lý
luận trên tôi đã đi sâu nghiên cưư đề tài: “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi
thong qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo” nhằm đáp ứng nhu cầu nhận
thức của trẻ mầm non hiện nay.
Làm quen với văn học có ý nghĩa và nhiệm vụ hết sức quan trọng trong
việc phát triển toàn diện các mặt cho trẻ .
Trước hết môn học này có ý nghĩa to lớn, góp phần phát triển 5 mặt cho
trẻ ,cụ thể là : ‘Giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, phát triển trí tuệ, phát triển
thể lực, và rèn luyện lao động’. Bên cạnh đấy, môn học này còn có nhiệm vụ
quan trọng là :
Cung cấp cho trẻ những kiến thức, trí thức về thế giới xung quanh trẻ .
Mở rộng hiểu biết và tích luỹ vốn kinh nghiệm cá nhân .
Làm giầu vốn từ, phát triển ngôn ngữ giầu hình tượng, giầu sức biểu cảm
đồng thời rèn luyện khả năng tri giác đối tượng .
Giáo dục thái độ cách ứng xử cho trẻ thông qua các bài học, dạy trẻ biết
yêu quê hương, đất nước, yêu thiên nhiên và con người .
Thông qua bộ môn văn học giúp trẻ 4-5 tuổi phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
Bởi vì qua những bài thơ, những câu truyện có hình ảnh, nội dung đối thoại giữa
các nhân vật trong truyện gây ấn tượng, bắt mắt với trẻ và phù hợp với chủ đề
giảng dạy thì việc sử dụng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho
trẻ 4-5 tuổi thông qua bộ môn văn học cho linh hoạt, phù hợp với từng hoạt
động để thu hút sự chú ý của trẻ cũng là điều mà mỗi giáo viên cần phải tìm tòi
và học tập thêm.
Ban giám hiệu đã thường xuyên tổ chức bồi dươững chuyên môn và các
đợt lên chuyên đề văn học, hội thi đồ dung đồ chơi cho chị em đồng nghiệp học
tập và rút kinh nghiệm.
Được sự tín nhiệm và tin cậy của phụ huynh.
Khó khăn:
Số trẻ trong lớp quá đông 57 trẻ , trong đó có 40% là trẻ mới đi học chưa
có nề nếp học tập cũng như kiến thức của trẻ còn hạn chế, nên gặp nhiều khó
khăn trong việc tổ chức các hoạt động cho trẻ kể chuyện sáng tạo.
Đồ dung trực quan còn ít chưa đa dạng phong phú, thẩm mỹ chưa đạt,
giá trị sử dụng chưa cao. Đặc biệt là đồ dung cho trẻ hoạt động còn rất ít.
Phụ huynh phần lớn là lao động nghèo chủ yếu làm nông nghiệp, nên rất khó
khăn trong việc hỗ trợ đóng góp kinh phí để tạo góc hoạt động văn học cho trẻ.
Khi dạy trẻ kể chuyện sáng tạo giáo viên chưa biết vận dụng tích hợp các
môn học khác và chưa đầu tư sưu tầm các câu chuyện ngoài chương trình.
Hơn 50% trẻ chưa phân biệt được sự khác nhau rất tinh tế trong cách
phát âm mà chỉ tiếp nhận một cách chung chung.
Ví dụ: tay – tai, muỗi – mũi, phân biệt l – n.
45% khả năng chú ý của trẻ còn yếu, không đều, không ổn định, vì vậy
nên trẻ chưa chú ý đều đến các thành phần torng câu, trong từ. Vì vậy những âm
điệu được đọc lướt, những từ không nhấn mạnh trong câu trẻ dễ bỏ qua, không
chú ý.
- Trí nhớ của trẻ còn hạn chế, trẻ chưa biết hết khối lượng các âm tiếp thu
cũng như trật tự các từ trong câu. Vì thế trẻ bỏ bớt từ, bớt âm khi nói.
70% kinh nghiệm sống của trẻ còn nghèo nàn, nhận thức hạn chế dẫn đến
tình trạng trẻ dùng từ không chính xác, câu lủng củng.
35% trẻ nói, phát âm sai do ảnh hưởng ngôn ngữ của người lớn xung
quanh trẻ (nói tiếng địa phương như : Chết- chít; ở - ử, vịt – vệt)
Đa số phụ huynh bận công việc hoặc mốt lí do khách quan nào đó ít có
Trẻ đã sử dụng các loại câu phức khác nhau. Ví dụ: Câu phức đẳng lập:
Tích Chu đi chơi, Tích Chu không lấy nước cho bà. (Cháu Phước). Câu ghép
chính phụ: Cháu thích chơi lắp ráp nhà thôi, xây được nhà đẹp thì bạn Phương
lại gỡ ra rồi. (Cháu Quang).
Trẻ ít sử dụng câu cụt hơn. Tuy nhiên trong một số trường hợp trẻ dùng từ
trong câu vẫn chưa thật chính xác: Ví dụ: Mẹ ơi! Con muốn cái dép kia! ( phụ
huynh cháu Sơn kể lại).
Chủ yếu trẻ vẫn sử dụng câu đơn mở rộng.
Trẻ có khả năng kể lại chuyện và kể chuyện có trình tự logic. Thế nhưng qua
tìm hiểu quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ lớp chồi, tôi so sánh với lớp tôi thì
đa phần trẻ vẫn chưa có khả năng kể chuyện và kể chuyện có trình tự logic.
3.2 Biên pháp 2: Tạo môi trường hoạt động cho trẻ kể chuyện sáng tạo.
Tạo môi trường cho trẻ hoạt động là rất cần thiết trong chương trình đổi mới
Hiện nay, nếu cô tạo được môi trường cho trẻ hoạt động tốt thì sẽ kích
thích trẻ phát triển ngôn ngữ, tham gia vào các hoạt động và kết quả đạt được
rất cao. Vì thế ngay từ đầu năm học tôi đã đi sâu vào tạo môi trường bằng cách
đưa hình ảnh nhân vật của các câu chuyện nổi bật vào góc văn học và một số
góc trong và ngoài lớp học thể hiện trên các mảng tường. Vẽ và sưu tầm một số
bộ truyện tranh ngoài chương trình để đưa vào giảng dạy, vận động phụ huynh
đóng góp truyện tranh đưa vào góc văn học cho trẻ hoạt động thường ngày.
Những câu chuyện được thể hiện trên các mảng tường trong không gian to đã
giúp trẻ dễ tri giác, trẻ được thảo luận, bàn bạc về câu chuyện đó. Từ đó trẻ biết
vận dụng những kiến thức đó vào kể chuyện sáng tạo một cách dễ dàng. Ngoài
việc tạo những bức tranh trên mảng tường, những tập truyện tranh chữ to tôi
còn đi sâu làm một số đồ dung trực quan cho trẻ hoạt động như: một số con rối
dẹt có bánh xe, có cử động tay chân và tận dụng những truyện tranh cũ, những
Ví dụ: Chủ điểm: “ Các nghề phổ biến, ngày 22/12” khi dạy với đề tài
nghề xây dựng. Kể chuyện: “Ba con lợn nhỏ”, tôi sử dụng mô hình rối để gây sự
hứng thú cho trẻ.
Tôi sử dụng các nguyên vật liệu mở như: Muỗng gỗ, thanh tre, ly nhựa, nắp
thiếc, hộp sữa, lõi giấy vệ sinh… để làm thành những con rối xinh xắn. Trẻ cũng có
thể sử dụng được để kể chuyện theo ý thích.
Ví dụ: Từ lõi giấy vệ sinh ta kết hợp với quả banh làm phần đầu con rối,
tóc làm bằng đất nặn, miếng xốp trái cây bọc ra ngoài lõi giấy làm áo đầm và
chú ý trang trí đa dạng màu sắc để thu hút trẻ. Có thể hướng dẫn để cháu làm
theo.
Để làm trang phục cho trẻ tôi dùng: Vải vụn, mút bitis, giấy, lá cây tạo nhiều
kiểu dáng trang phục lạ mắt.
3.4 Biện pháp 4: Dạy trẻ cách sử dụng nhân vật phù hợp với ngôn ngữ
lời kể sáng tạo.
Bên cạnh một môi trường hoạt động với đầy đủ các loại đồ dung trực
quan đa dạng phong phú, thu hút sự hứng thú tham gia kể chuyện sáng tạo của
trẻ thì chúng ta còn phải dạy trẻ cách sử dụng nhân vật phù hợp với ngôn ngữ
lời kể sáng tạo.
Khi dạy trẻ sáng tạo tôi đã chuẩn bị cho trẻ những tập truyện tranh sưu
tầm bằng cách đọc kể cho trẻ nghe ở các giờ đón, giờ trả trẻ và giở chơi hang
ngày. Đây là hình thức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, là cơ sở cho trẻ
có kiến thức vững vàng khi thực hiện kể chuyện sáng tạo. Qua cách làm quen
như vậy trẻ biết đánh giá, nhận xét về đặc điểm tính cách của các nhân vật
thong qua ngôn ngữ nói của mình.
Ví dụ: Gà cón xinh đẹp đáng yêu, sói già gian ác, bà tiên ông bụt thì tốt
bụng còn phù thuỷ thì độc ác.
Bên cạnh đó tôi còn định hướng cho trẻ quan sát các tranh chuyện , cho
trẻ xem qua đĩa hình các câu chuyện. Đồng thời kết hợp tri giác với đàm thoại
của trẻ để cô góp ý nhận xét.
Qua cách làm này, bước đầu tôi đã thành công trong việc thực hiện dạy
trẻ kể chuyện sáng tạo, giúp trẻ linh hoạt sử dụng đồ dung trực quan kết hợp với
ngôn ngữ nói rõ ràng mạch lạc, có kỹ năng tổng hợp về “ mắt nhìn, miệng nói,
tai nghe, tay sử dụng”.
Sau đây là một số câu chuyện của trẻ khi thực hiện kể chuyện sáng tạo.
Câu chuyện “ Con lợn nhựa của tôi” tác giả cháu Đăng Dũng với đồ dung
là một con lợn nhựa được cháu thể hiện như sau:
+ Chủ nhật tớ được về quê thăm bà. Ở quê bà tơ nuôi rất nhiều lợn, các
con lợn rất to và ăn rất nhiều rau với cám. Thấy tớ thích con lợn đó, bà tớ liền
mua cho tơ một con lợn, nhưng đó là con lợn nhựa. Con lợn nhựa của tớ nó
chẳng ăn được gì mà nó chỉ giúp tớ cất tiền. Đến tết ai mừng tuổi là tớ cho vào
con lợn nhựa này để gửi mẹ mua quần áo. Tớ rất yêu quý co lợ nhựa này của tớ.
Câu chuyện “Bác Voi tốt bụng” của cháu Mai Anh, Anh Dương ,Thùy Trang ,
là con gà, vịt, voi từ sản phẩm vẽ của trẻ bồi bìa cứng và làm rối tay, câu
chuyện được các bé thể hiện như sau:
+ Bạn vịt bầu ơi có đoi chơi với tớ là gà trống không.
+ Ừ hôm nauy trời đẹp chúng mình cùng đi chơi nhé.
+ Chúng mình đến vườn hoa kia chơi nhé! ở đó có nhiều trò chơi thích lắm.
+ Hai bạn gà, vịt mải chơi đến khi trời tối không biết đường về nữa, cả
hai cùng khóc hu hu…
+ Lúc đó bác voi xuất hiện và nói đừng khóc nữa lên đây bác đưa về.
+ Hai bạn cùng trèo lên lưng bác voi đưa về, từ đó hai bạn không dám đi
chơi xa.
Ở câu chuyện này ba cháu sử dụng rối rất tốt. Các cháu đã biết kết hợp
với nhau sử dụng các nhân vật phù hợp ăn khớp với lời kể. Ngôn ngữ của các
cháu được thể hiện một cách rất tự nhiên và phong phú.
Trong quá trình nghiên cứu và tiến hành kể chuyện sáng tạo đến nay ở
mục đích giúp trẻ nhớ lalị nội dung câu chuyện, giúp trẻ xây dựng dàn ý câu
chuyện kể, lựa chọn hình thức ngôn ngữ (cách dùng từ đặt câu).
Ví dụ: Truyện cây khế: Theo con tính cách người em như thế nào? + Yêu
cầu với câu hỏi: Đặt câu hỏi về tên nhân vật, thời gian, không gian, hành động
chính, lời nói, cá tính nhân vật, không nên đặt quá nhiều câu hỏi chi tiết vụn vật.
Ví dụ: Truyện: Dê con nhanh trí: Dê mẹ dặn dê con như thế nào? Câu hỏi phải
phù hợp với trẻ cả về hình thức ngữ pháp và nhận thức. Khi đàm thoại cô cần lưu
ý giới thiệu cho trẻ biết thêm các từ đồng nghĩa những cụm từ thay thế để tạo
điều kiện cho trẻ lựa chọn từ để kể.
Tôi dùng ngôn ngữ ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của trẻ kể
lại nội dung tác phẩm: Cô kể diễn cảm, lời kể có các mẫu câu cần luyện cho trẻ
(mới). Mẫu truyện của cô có tác dụng chỉ cho trẻ thấy trước kết quả trẻ cần đạt
được: Về nội dung, độ dài, trình tự câu chuyện.
Ví dụ: Câu chuyện cây khế: Ngày xửa ngày xưa có hai anh em nhà kia
cha mẹ mất sớm. Khi người anh lấy vợ, người anh không muốn ở chung với
người em nữa. Người anh tham lam chiếm hết ruộng vườn, trâu bò, nhà cửa cảu
cha mẹ để lại, chỉ cho người em một cây khế và một túp lều nhỏ.
Thời gian đầu khi chưa quen trẻ kể theo mẫu cảu cô (hoặc đối với trẻ
kém). Khi trẻ đã quen cô khuyến khích trẻ kể bằng ngôn ngữ của mình.
Tôi đặc biệt lưu ý khi trẻ kể:
Trẻ phải quay mặt xuống các bạn, kể với tốc độ vừa phải, giọng rõ ràng,
tư thế tự nhiên. Trong quá trình kể, trẻ đứng sai tư thế, phát âm sai cô nên để trẻ
kể xong mới sửa cho trẻ.
Khi cô gọi trẻ lên, trẻ không kể, cô nên đặt câu hỏi gợi ý để trẻ trả lời
giúp trẻ mạnh dạn, có thói quen giao tiếp tốt.
Nếu trẻ quên, cô có thể nhắc hoặc đặt câu hỏi cho trẻ nhớ.
Trẻ kể xong, cô nhận xét, đánh giá truyện kể của trẻ, không nên để đến
cuối giờ trẻ sẽ quên mất những ưu nhược điểm của mình hay của bạn. Cô cần
những điều trẻ đã biết, tưởng tượng... trẻ phải tự lựa chọn nội dung, hình thức,
ngôn ngữ , sắp xếp chúng theo một trình tự nhất định.Tôi chủ yếu tập cho trẻ kể
theo dạng : Kể chuyện miêu tả, kể chuyện theo chủ đề. Ví dụ : miêu tả hiện
tượng thời tiết: trời âm u, mây đen , gió thổi mạnh trời sắp mưa.
Kể chuyện theo chủ đề: tôi chủ yếu rèn cho trẻ truyền đạt lại những sự kiện
xảy ra trong thời gian nhất định của nhân vật nào đó. Ví dụ :Truyện ( dê con nhanh
trí) con cáo giả vờ làm dê mẹ lúc dê đi vắng và nhúng chân vào chậu bột cho chân
trắng giống dê mẹ. Nhưng cáo vẫn bị dê con phát hiện và đuổi cáo đi.
Hoạt động góc:
Dạy trẻ kể chuyện theo tri giác: Không ngừng phát triển ở trẻ ngôn ngữ
độc thoại, nên cho trẻ nói đúng ngữ pháp, tư thế tác phong khi nói mà còn góp
phần phát triển tốt các cơ quan cảm giác của trẻ. Bởi vì trẻ có quan sát tốt mới kể
miêu tả được chính xác.
Mục đích: phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ, phát triển tư duy logic,
khả năng quan sát. Tôi tập trung dạy cho trẻ kể chuyện tri giác theo 3 loaọi: Kể về
đồ chơi, kể về vật thật, kể chuyện theo tranh.
Chuẩn bị:
Chọn đồ chơi: Đồ chơi đẹp, màu sắc rõ rangà, tươi sáng, hấp dẫn về hình
thức để làm cho trẻ thích thú, rung động khi kể.
Chọn vật thật: Có thể là đồ dùng hàng ngày: Gương, lược, khăn, ly, chén,
váy áo, tàu xe, xe máy, túi sách…Những công cụ lao động: Cuốc, xẻng, máy
giặt… Súc vật nuôi trong nhà: Mèo, chó, gà… Cây trồng, hoa, thiên nhiên,
phong cảnh…cho trẻ kể về những đồ vật từ đơn giản đến phức tạp.
Chọn tranh: Nên chọn tranh có màu sắc tươi sáng, bố cục rõ ràng, không
có quá nhiều chi tiết rườm rà. Có thể là tranh đơn hoặc tranh liên hoàn.
Tổ chức cho trẻ làm quen với tranh hoặc vật thật trước một vài hôm để trẻ
quan sát, xác định màu sắc, đặc điểm, cách chơi, cách sử dụng.
Thời gian đầu trẻ kể theo mẫu của cô. Dau đó có thể là trẻ yếu kể theo
Tổ chức sinh động để phát huy trí tưởng tượng của trẻ, giúp trẻ xây dựng
câu chuyện một cách hoàn chỉnh theo ý của từng cá nhân.
Một số cháu đã kể chuyện được khi sử dụng mô hình, sách tranh, con rối,
tranh ảnh sưu tầm… Sau mỗi lần kể tôi chú ý nhận xét kĩ lời kể của trẻ và tạo
mọi cơ hội cho trẻ được kể chuyện sáng tạo.
3.7 Biện pháp 7: Lồng ghép các môn học khác khi dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.
Với lới kể diễn cảm, hấp dẫn đã làm rung động người nghe, nhưng biết
tích hợp các môn học khác thì còn hay hơn vì nó làm thay đổi không khí, làm
thay đổi trạng thái khi kể chuyện. Bằng những lời ca, lời đối thoại,những câu
đố, những bài đồng dao, ca dao hay một số trò chơi xen lẫn.
Ví dụ: Bài thơ “Thỏ bông bị ốm” “Ong và bướm”, “Cá vàng bơi”….hoặc
cho trẻ đọc thuộc các câu đố về con chó, mèo, lợn, cá, gà…hay một số bài đồng
dao, ca dao “Vè chim”, “Đi cầu đi quán”….
Âm nhạc là môn bổ trợ cho rẻ làm quen với tác phẩm văn học, dễ gây ấn
tượngcho người xem, vì thế tôi cho trẻ hát thuộc các bài hát: “ Thương con
mèo”, “Một con vịt”, “đố biết con gì”, “Trời nắng trời mưa”…giúp trẻ khi kể
chuyện về con vật nào trẻ có thể hát về các con vật đó phù hợp với nội dung câu
chuyện.
Trò chơi là hình thức chuyển tiếp giữa các lần kể hay thay cho phần củng
cố câu chuyện mà các tiết dạy thường áp dụng. Tôi cho trẻ chơi một số trò chơi
ở dạng động như trò chơi: Mèo và chim sẻ, gà gáy vịt kêu, trời nắng trời mưa,
cáo và thỏ…
Việc tích hợp các môn học khác, các trò chơi vào cho trẻ kể chuyện sáng
tạo là việc cung cấp thêm một số kiến thức bổ trợ cho câu chuyện sinh động
hơn. Ở lứa tuổi này tâm lý của trẻ thường mau nhớ chóng quên. Vì vậy vào giờ
đón trả trẻ tôi đưa trẻ vào góc văn học để hướng dẫn trẻ kiến thức mới và củng
1. Kết quả
Sau khi thực hiện các biện pháp tôi đã thu được một số kết quả sau:
Đối với bản thân:
Tôi thấy mình đã nâng cao được phong cách nghệ thuật lên lớp,giọng kể
được trau dồi diễn cảm, thu hút trẻ hứng thú tham gia vào tiết học.
Tôi đã rút ra được nhiều kinh nghiệm qua cách dạy trẻ kể chuyện sáng
tạo, sưu tầm được nhiều truyện tranh, học thuộc nhiều truyện ngoài chương
trình.
Tạo được môi trường cho trẻ hoạt động tốt ở các góc, đặc biệt là góc văn
học.
Tôi đã tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có, dễ tìm để tạo ra nhiều loại rối
phong phú, đa dạng, sử dụng có hiệu quả trong việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.
Các tiết dạy kể chuyện sáng tạo tôi tham gia lên chuyên đề ,hội gảng thi
giáo viên giỏi của trường, đều đạt loại Tốt
Từ việc áp dụng những biện pháp nêu trên trong việc phát triển ngôn
ngữ cho trẻ lớp mình thông qua bộ môn văn học tôi đã kết quả sau:
Kết quả trên trẻ:
Sau khi tiến hành các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4-5
tuổi thông qua bộ môn văn học, qua khảo sát đã thu được kết quản hư sau:
Trước
Sau khi áp dụng
Nội dung khảo sát
khi chưa áp
Kỹ năng nghe
Kỹ năng nói
82
16,7
32/57
57
42/57
74
16,7
24/57
thể hiện vai chơi của mình.
Phát âm câu phức
33/57
Hứng thú tham gia kể chuyện
27/57
sáng tạo
Đánh giá chung:
50
38/57
66,6
hoạt.
+ Biết kể truyện sáng tạo, kể theo trí tưởng tượng một cách phong phú và
đa dạng.
Về đồ dùng trực quan;
Xây dựng một góc tuyên truyền về các câu chuyện sáng tạo của cô của
trẻ đa dạng, phong phú.
Làm 20 bộ truyện tranh chữ to.
Sưu tầm rất nhiều tranh ảnh theo từng chủ điểm cho trẻ kể chuyện.
Làm 35 con rối dẹt, 15 con rối tay cho trẻ hoạt động ở mỗi chủ điểm.
Làm 10 con rối tay cho cô hoạt động.