Phßng gi¸o dôc ®µo t¹o huyÖn phó b×nh
Trêng mÇm non ®ång liªn
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ HỌC TỐT MÔN
KHÁM PHÁ KHOA HỌC
Họ và tên : Nguyễn Thi Thu Việt
Chức danh: Giáo viên
Đơn vị
: Trường Mầm Non Đồng Liên
Năm học: 2011 - 2012
1
A - PHẦN MỞ ĐẦU
I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bác Hồ kính yêu đã nói :
“ Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người ”
Giáo dục Mầm Non là ngành học mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân,
chiếm vị trí quan trọng trong ngành giáo dục, Giáo dục Mầm non có nhiệm vụ xây
dựng những cơ sở ban đầu, đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách con
người. Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia đình, là tương lai của cả dân tộc, việc bảo
vệ chăm sóc giáo dục trẻ không phải chỉ là trách nhiệm mỗi gia đình mà còn là
trách nhiệm của toàn xã hội.
Giai đoạn này là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, tất cả mọi việc đều bắt
Trên thực tiễn hiện nay các tiết học “ LQ với môi trường xung quanh cho trẻ
5-6 tuổi” còn rất tẻ nhạt , giáo viên ngại dạy trẻ chưa có húng thú học tập vì vậy
việc sử dụng những thủ thuật gây hứng thú hay những phương pháp cho trẻ nhằm
nâng cao tiết học “ LQ với môi trường xung quanh” là rất cần thiết , chính vì vậy
mà tôi đã chọn đề tài này .
II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trong công tác giáo dục trẻ mầm non thì việc cho trẻ làm quen với môi trường
xung quanh là không thể thiếu . Môi trường xung quanh có tác dụng giáo dục về
mọi mặt đối với trẻ như là: Ngôn ngữ, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ thể lực... Làm
quen với môi trường xung quanh là phương tiện để giao tiếp và làm quen với môi
trường xung quanh để giao lưu và bày tỏ nguyện vọng của mình và đồng thời là
công cụ của tư duy. Vì vậy các nhà giáo dục sử dụng nhiều phương pháp để cho trẻ
3
tiếp cận với thế giới xung quanh. Nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy môi trường
xung quanh.
III/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Căn cứ vào yêu cầu của đề tài, tôi chọn đối tượng nghiên cứu là trẻ Mầm Non 5
– 6 tuổi trường Mầm Non Đồng Liên .
IV/ GIỚI HẠN PHẠM VI - THƠI GIAN NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi khả năng và trách nhiệm của mình. Tôi vận dụng vấn đề mà
bài viết này đề cập đến chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non từ 5 – 6
tuổi ở chính đơn vị trường tôi đang công tác .
Đề tài được tiến hành trong học kỳ I, từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 1 năm
2012 tại lớp Mẫu giáo 5 tuổi B, của trường Mầm Non Đồng Liên.
V/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Qua đề tài nghiên cứu giúp giáo viên có những định hướng phù hợp trong
công tác chăm sóc cho trẻ mầm non ở độ tuổi 5- 6 tuổi sau khi vận dụng đề tài sẽ
Góc tự nhiên còn nghèo, số cây ít ,loại cây chưa phong phú, đồ chơi, đồ
dùng còn ít ...
Số trẻ ở lớp chưa qua nhóm lớp nhà trẻ, trẻ đến lớp 3 -4 tuổi chiếm 65 %, trẻ
đến lớp 4 -5 tuổi chiếm 90 % , khả năng trẻ tiếp thu chậm .
Vốn hiểu biết về môi trường xã hội còn hạn chế .
5
Đồ dùng phục vụ tiết dạy còn nghèo nàn, đồ chơi của trẻ cũng rất ít, thiếu
những hình ảnh đẹp, sinh động để trẻ quan sát .
2/ Số liệu điều tra trước khi thực hiện
Trước khi thực hiện đề tài tôi đã có những tiết cho trẻ làm quen với môi
trường xung quanh, tôi thấy vốn biểu tượng về thế giới xung quanh của trẻ còn ít,
đặc biệt trẻ rất rễ nhầm lẫn, khi gọi tên các con vật, ví dụ như : Tất cả các con vật
biết bay, trẻ đều gọi là chim mà không gọi được đó là chim én hay chim bồ câu ...
Mặt khác khẳ năng quan sát, phân loại của trẻ gặp rất nhiều khó khăn, số liệu cụ
thể qua từng tiết dạy được tổng hợp trong bảng sau :
Bảng 1 : Kết quả tổng kết khả năng quan sát, so sánh ,phân loại vật mẫu
của trẻ.
( Tổng số trẻ là 31)
STT Kỹ năng quan sát ,tìm ra đặc điểm ,
khả năng so sánh , phân loại
Loại tốt
Loại khá
Loại TB
Loại yếu
1
2
quanh nhằm củng cố hoá kiến thức. Mở rộng vốn hiểu biết từ thế giới xung quanh
và qua đó làm giàu vốn từ cho trẻ. Trẻ nhận biết phân biệt âm đúng chuẩn, đồng
thời phát triển ngôn ngữ, diễn đạt rõ ràng mạch lạc. Sau một kỳ thực hiện đề tài, tôi
đã sử dụng một số biện pháp sau :
• Xây dựng cơ sở vật chất.
• Bổ sung đồ dùng, đồ chơi để tiết dạy thêm sinh động , hấp dẫn .
• Xây dựng góc (bé với thiên nhiên).
• Làm giầu vốn biểu tượng về môi trường xung quanh .
• Rèn trẻ thông qua tiết dạy.
• Nâng cao kỹ năng quan sát, so sánh và phân loại.
• Kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh để đạt hiệu quả dạy trẻ cao nhất.
Đã được tôi đưa vào dạy và đạt kết quả cao, tôi đã áp dụng nhiều vào tiết học
của cháu về những đề tài khám phá khoa học và tất cả đều được sự hưởng ứng
nhiệt tình, say mê của cách cháu. Với tiết học này tôi thấy vui và các cháu thực sự
chủ động khi làm công việc thí nghiệm, phụ huynh cũng đã đến kể cho tôi nghe về
những thành quả cháu. Tôi thật sự phấn khởi với những phương pháp, biện pháp
khi cho trẻ khám phát khoa học.
III - NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1/ Xây dựng cơ sở vật chất :
Đồ dùng , trực quan, đồ chơi phục vụ tiết học như : Bàn ,ghế ,bảng ,tranh,
mô hình, các từ gắn với mỗi hình ảnh, vật mẫu ... Cần phải đầy đủ cho cô và trẻ
cùng hoạt động .
7
Đồ dùng của trẻ cũng phải đẹp, hấp dẫn, phong phú sinh động nhằm kích
thích hứng thú, tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ, tôi thường sử dụng đồ thật, vật
thật hoặc hình ảnh động cho tiết học sinh học .
Dựa vào yêu cầu thực tế dạy trẻ, tôi đề nghị với BGH nhà trường trang bị
trong tiết dạy môi trường xung quanh, tôi thấy trẻ rất hào hứng, hứng thú học, trẻ
hiểu biết nhiều, quan sát rất tốt, tìm rất nhanh các vật mẫu cô đưa ra, so sánh và
phân loại cũng rất rõ ràng, rành mạch, ngôn ngữ rất phát triển, trẻ thuộc rất nhiều
thơ ca dao, tục ngữ,đặc biệt là các câu đố về các con vật, các cây hoa, các loại
quả ... Tư duy của trẻ cũng nhanh và chính xác hơn .
3/ Xây dựng góc “bé với thiên nhiên ”
Góc thiên nhiên là nơi dành cho các hoạt động chăm sóc cây cối: Nhặt cỏ,
bắt sâu, tưới nước, ngoài ra còn là nơi tìm đọc các loại sách về thiên nhiên, các
tranh ảnh về thế giới tự nhiên .
Tôi xây dựng góc thiên nhiên có các cây xanh như: cây vạn niên thanh , cây
hoa hồng… Dàn dây leo.
Tôi bố trí giá sách chủ yếu là sách vẽ con vật, cây cối,hoa lá, quả hạt …
Tranh ảnh vừa tầm với của trẻ để trẻ có thể xem và đọc sách (có que chỉ cho việc
đọc sách). Đọc sách theo từng chữ, từng dòng, tôi sắp xếp các hộp đựng vỏ cây
khô hoa lá ép khô, các loại hạt… Có ngắn nhãn mác và hình ảnh rõ ràng để trẻ rễ
nhận thấy, trẻ được chơi và làm được những sản phẩm từ những dồ chơi ấy. Ngoài
ra tôi cũng dùng vỏ hến, ốc trai ,sò … vỏ trứng vệ sinh sạch sẽ vừa làm đồ dùng,
đồ chơi phong phú vừa rẻ tiền vừa rễ kiếm .
Các tranh , lô tô đều được phân loại để ở giá vừa rễ lấy , rễ tìm .
Ví dụ : Tôi phân loại lô tô :
- Lô tô con vật xếp vào một ô .
- Lô tô các loại quả xếp vào một ô.
9
Đối với tranh đều có chữ cái tương ứng ở dưới cũng được phân loại xếp gọn
gàng và rễ kiếm .
Tôi cố gắng tạo cho trẻ có góc chơi rộng rãi với các nguyên vật liệu khác nhau
để trẻ được trải nghiệm .
* Chuẩn bị
- 3 cây nến, bật lửa.
- 2 vại thuỷ tinh lớn và nhỏ
* Tiến hành:
Bước 1:
- Cho trẻ quan sát và gọi tên các đồ dùng của cô đã chuẩn bị
- Hỏi trẻ: gắn cây nến lên đĩa bằng cách nào?
- Sau khi gắn xong đặt 1 đĩa nến ở ngoài, 1 đĩa còn lại được đậy bởi 1 cái vại nhỏ.
Cô hỏi trẻ : hiện tượng gì xảy ra ? cây nến nào cháy lâu hơn ?
Bước 2:
- Cô tiếp tục đốt 1 cây nến nữa và úp lên bởi cái vại lớn. Cô hỏi trẻ : hiện tượng gì
xảy ra ? cho trẻ dự đoán cây nến nào cháy lâu nhất trong 3 cây nến ?
Bước 3:
- Cô cho trẻ quan sát cho đến khi 2 cây nến ở trong vại tắt dần. Cho trẻ rút ra kết
luận.
* Giải thích : Cây nến với nhiều không khí xung quanh có thể tiếp tục cháy sau
khi hai cây nến ở trong vại đã tắt. Cây nến trong vại lớn có nhiều không khí hơn
nên sẽ cháy lâu hơn cây nến trong vại nhỏ.
11
Trong quá trình thực hiện, tôi thấy trẻ rất hứng thú, phát triển khả năng tư duy
cao. Trẻ biết đặt ra những câu hỏi “Tại sao” trước những hiện tượng lạ, từ đó thu
12
nhận được những hiểu biết, những vốn kinh nghiệm nhất định để áp dụng trong đời
sống hàng ngày. Hầu hết tất cả các trẻ đều háo hức chờ đón những giờ thí nghiệm,
tập trung cao độ để quan sát hiện tượng xảy ra, kiên nhẫn chờ đón kết quả. Qua đó
Râu ngắn vểnh lên
Mình trơn bóng nhỡn
( con cá trê)
Như vậy trẻ được câu đố rất vui vẻ hào hứng, kích thích tư duy, làm phong
phú vốn từ và ngôn ngữ mạch lạc... Trong tiết dạy tôi cũng lồng ghép toán sơ đẳng,
LQ với con cua, cô và trẻ cùng đếm số chân cua .
Tôi đưa âm nhạc xen kẽ giữa các phần chuyển tiếp trong tiết dạy để tiết dạy
thêm hào hứng, sôi động.
Trong tiết dạy tôi cũng kích thích khẳ năng sáng tạo nghệ thuật của trẻ bằng
cách gắn hoặc dán để hoàn thiện bức tranh .
Tôi thường tổ chức các trò chơi trong tiết học. Các trò chơi động, trò chơi
tĩnh đan xen nhau để tạo hứng thú, tiết dạy vui tươi, trẻ thêm phần hoạt bát nhanh
nhẹn .
Với mỗi hình ảnh cho trẻ làm quen đều có từ tương ứng ở dưới để rễ nhận
biết được chữ cái mình đã học .
6 / Nâng cao kỹ năng quan sát, so sánh và phân loại ở trẻ.
Biết được kỹ năng và nghệ thuật dạy trẻ làm quen với MTXQ cũng chưa thật
sáng tạo, nên bản thân tôi khắc phục bằng cách: Thường xuyên học tập bạn bè
đồng nghiệp, luyện tập giọng nói sao cho thật chuyền cảm, tác phong dạy sao cho
nhẹ nhàng, linh hoạt.
Về kiến thức phải nắm vững phương pháp dạy, cung cấp cho trẻ kiến thức
dù đơn giản nhưng cũng phải thật chính xác.
Tận dụng mọi thời gian để tự rèn luyện mình, dù ở lớp hay ở nhà .
14
Sử dụng bộ tranh cho trẻ LQVMTXQ, theo nội dung từng bài, theo đúng
chương trình .
Luôn nắng nghe, tiếp thu ý kiến nhận xét, của BGH sau mỗi tiết dạy, để từ
Qua các buổi dạo chơi ,thăm quan , hoạt động ngoài trời , dã ngoại … khi trẻ
quan sát tôi hướng trẻ sử dụng mọi giác quan để trẻ có thể chỉ ra chọn vẹn đối
tượng đó .
Ví dụ : Cô và trẻ quan sát cây hoa hồng, hướng trẻ nhận biết màu sắc cánh
hoa. Cho trẻ sờ cánh hoa thấy mịn và nhẵn, các mép của lá có răng cưa. Đưa hoa
nên ngửi có mùi thơm .
Trẻ được quan sát kỹ, có được đầy đủ các đặc điểm của đối tượng nên trẻ so
sánh rất tốt và phân loại rất nhanh .
Dạo chơi thăm quan hoạt động ngoài trời, không những để trẻ khám phá thế
giới xung quanh mình mà tôi còn giáo dục tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi
trường. Tôi cũng luôn chú ý kiến thức xã hội với trẻ về công việc của mỗi người ,
về mối quan hệ giữa con người với nhau, đặc biệt là giáo dục Bảo vệ môi trường.
Với trẻ mặc dù kiến thức rất đơn giản như tạo cho trẻ thói quen vứt rác đúng nơi
quy định và ý thức bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp.
7 / Kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh…
Đối với trẻ mầm non dễ nhớ lại dễ quên, nếu không được luyện tập thường
xuyên thì sau ngày nghỉ sẽ quên lời cô dạy.
Vì thế tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh vào giờ đón trả trẻ để hiểu
được tính cách trẻ và để phụ huynh luyện thêm cho trẻ .
Cháu A , cháu B rất thích đọc câu đố cho bố mẹ nghe .
Cháu C ,cháu D rất hay hỏi về những gì lạ xung quanh .
Động viên các cháu không chỉ biết bảo vệ môi trường xung quanh mà còn
giữ gìn, giúp đỡ cha mẹ những công việc vệ sinh nhỏ.
16
Trao đổi với phụ huynh mua cho trẻ những quển tranh về con vật, cây cỏ…
phù hợp với lứa tuổi. Trẻ được làm quen với hình ảnh, với chữ viết .
Việc kết hợp giữa gia đình và cô giáo là không thể thiếu được, giúp trẻ luỵên
66.67
2
33.33
Với trẻ có tiến bộ rõ rệt trong từng tiết dạy .
Trẻ có kỹ năng quan sát, so sánh,phân loại tốt, hiểu biết rộng về tự nhiên
cũng nh ư về xã hội .
Đặc biệt trong hội thi : “Bé vui hội xuân” và giáo dục bảo vệ môi trường .
Qua hội thi các cháu lớp tôi thể hiện rất tốt và có ý thức bảo vệ môi trường . Được
ban giám khảo đánh giá rất cao .
KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CỦA TRẺ
Được biểu hiện qua bảng sau :
17
Bảng 3 : Kết quả đạt được của trẻ
TT
Kỹ năng quan Đầu năm
sát ,so sánh,
1
2
3
4
Loại tốt
Loại khá
Trung bình
Loại yếu
0
7
2
%
22.6
6.5
* Đối tượng phụ huynh :
Các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc dạy trẻ làm
quen với môi trường xung quanh , tạo điều kiện cùng công tác với cô giáo để được
làm quen với môi trường xung quanh của trẻ đạt hiệu quả cao nhất, đó cũng đã
góp phần nâng cao chất lượng môn cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh .
* Bài học kinh nghiệm:
- Giáo viên thực sự yêu nghề mến trẻ , có năng lực sư phạm , nắm chắc chuyên
môn.
- Có sự hiểu biết về kỹ năng dạy trẻ làm quen với môi trường sung quanh .
- Có sự sáng tạo trong mỗi tiết dạy , luôn có sự đổi mới trong phương pháp dạy trẻ.
- Thường xuyên rèn luyện bản thân ,kỹ năng dạy , thao tác ,rèn luyện giọng nói
- Đồ dùng dạy trẻ phong phú sáng tạo hấp dẫn với trẻ .
- Làm tốt công tác tuyên truyền với các bậc phụ huynh .
-
Luôn tạo được môi trường học mà chơi, chơi mà làm .
- Chú ý rèn trẻ ít nói, chậm hiểu có phương pháp hướng dẫn cụ thể .
- Động viên kịp thời và giúp trẻ tập luỵên thường xuyên .
- Tạo điều kiện tốt để trẻ có khả năng tư duy, phát triển tốt . dựa vào hội thi “Bé
vui hội xuân” và giáo dục BVMT, sử dụng năng lượng tiết kiệm.
19
LỜI CẢM ƠN
20
Trong thời gian thực hiện sáng kiến được sự giúp đỡ và quan tâm của Ban
giám hiệu cùng các cô giáo trong trường, đã giúp tôi hoàn thành sánh kiến.
Để thực hiện công việc này tôi tiến hành thực nghiện cùng với sự giúp đỡ
nhiệt tình của phụ huynh trong lớp.
Do điều kiện thời gian, do năng lực bản thân trong quá trình thực hiện đề tài
không thể tránh khỏi nhữnh thiếu sót. Vậy tôi rất mong ý kiến đóng góp của ban
lãnh đạo phòng Giáo dục huyện Phú Bình, Ban giám hiệu nhà trường cùng bạn bè
đồng nghiệp để sáng kiến của tôi thêm phong phú và được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Liên .Ngày 21 tháng 2 năm 2012
NHẬN XÉT , ĐÁNH GIÁ , XẾP LOẠI CỦA
NGƯỜI VIẾT
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CƠ SỞ
Chủ tịch hội đồng
( Ký tên , đóng dấu )
TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
4
V/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4
VI / PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4
B - NỘI DUNG
5
5
I – TÌNH HÌNH THỰC TẾ
1/ Tình trạng trước khi thực hiện đề tài
5
2/ Số liệu điều tra trước khi thực hiện
5
II - NỘI DUNG
6
7
16
V. KẾT LUẬN CHUNG
18
VI. KIẾN NGHỊ
18
LỜI CẢM ƠN
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
23
24