298
Nguyễn Đăng Khoa
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN MỞ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Nguyễn Đăng Khoa*1
1. DẪN NHẬP
Năm 2002, Viện Công nghệ Massachusetts - MIT (Mỹ) đưa ra
một thuật ngữ mới mang tính lịch sử đối với giáo dục thế giới: “Học
liệu mở” – OCW với mục đích đưa toàn bộ nội dung giảng dạy của
mình lên web và cho phép người dùng Internet ở mọi nơi trên thế giới
truy nhập hoàn toàn miễn phí. Việt Nam cùng rất nhiều trường đại học
và viện nghiên cứu trên thế giới đã tham gia phong trào OCW/OER
để chia sẻ nội dung, công cụ cũng như phương thức triển khai học liệu
mở sao cho đạt được hiệu quả cao nhất.
Trên thế giới, “Học liệu mở” không còn là một khái niệm, mà đã
phát triển sâu và rộng thành một phương pháp giáo dục mới, nghĩa
là đã có những quy định, pháp lý cho phương thức dạy và học này ở
các trường đại học, cao đẳng. Tuy nhiên, ở Việt Nam “học liệu mở”
vẫn còn là một khái niệm dù không mơ hồ, rất dễ hiểu nhưng khó
thực hiện. Ở bài viết này, tôi mong muốn trình bày những suy nghĩ
của mình về vai trò của nguồn mở trước dòng chảy chung của tri thức
Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần thơ.
*1
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN MỞ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
liệu tham khảo, bài tập về nhà, bài thi, bài thí nghiệm được số hóa, để
người dùng có thể tham khảo cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu
của mình bằng cách truy cập tại những khóa học miễn phí trên mạng.
Đối với người học lẫn người dạy, nguồn học liệu mở cung cấp các tư liệu
300
Nguyễn Đăng Khoa
quý có khả năng hỗ trợ tốt cho giáo trình lý thuyết như các phần đọc
thêm, bài tập ở nhà… (Phạm Đình Trúc, 2007). Quan trọng hơn là
sinh viên có thể tự chủ động theo học một môn học nào đó, tiếp cận
phương pháp học mới hiệu quả hơn, kích thích sự năng động sáng
tạo của bản thân; và giảng viên có nhiều nguyên liệu để xây dựng giáo
trình, bài giảng, thiết kế bài tập, đề thi hoàn chỉnh hơn, tính thời sự
cao hơn.
3. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN MỞ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
3.1. Ứng dụng công nghệ mở trong giảng dạy
Trường ĐHCT đã triển khai và sử dụng hệ thống Dokeos để xây
dựng hệ thống E- Learning cho toàn trường từ năm 2003. Số liệu thống
kê cho thấy hiện nay số lớp hiện có trên hệ thống E-Learning của Trường
ĐHCT là 1627, tuy nhiên số lớp đã khóa hoặc yêu cầu mật khẩu đăng
nhập chiếm gần 20% so với tổng số lớp có trên hệ thống, số liệu này chưa
kể đến các lớp học dù mở hoàn toàn nhưng không hoạt động. Điều này
nói lên một thực trạng rằng việc phát triển E-Learning hay xa hơn là học
liệu mở không phải là một cuộc chạy đua số lượng, mà cần phải đảm bảo
chất lượng và đúng tinh thần “học liệu mở”.
Từ năm học 2007-2008, Khoa Công nghệ thông tin và Truyền
hoạt động thảo luận, góp ý bài tập của các thành viên khác đã nộp trên
hệ thống E-learning lớp học (chiếm 15% tổng điểm); Thầy Nguyễn
Hồng Dân (Khoa Công nghệ thông tin) đã tổ chức thi giữa kỳ và cuối
kỳ bằng hình thức trắc nghiệm trực tuyến cho môn Ứng dụng truyền
thông đa phương tiện (2012) (chiếm 80% tổng điểm).
Hiện nay, phần mềm thi trắc nghiệm trực tuyến (trên nền Moodle)
được áp dụng sâu rộng từ những bài kiểm tra mang tính nhỏ lẻ đến
các đợt thi giữa kỳ, cuối kỳ môn học. Năm 2015, hình thức thi trực
tuyến đã phát triển thành phương pháp kiểm tra chất lượng Anh văn
cho hơn 9000 tân sinh viên khóa 41 và thu nhận được nhiều tín hiệu
khả quan. Các cuộc thi ngoại khóa như Olympic Khoa học Chính trị,
tư tưởng Hồ Chí Minh, tìm hiểu kiến thức pháp luật trong hệ thống
Công đoàn Giáo dục Việt Nam - năm 2015… cũng áp dụng hình thức
thi trực tuyến này.
302
Nguyễn Đăng Khoa
3.3. Tình trạng sử dụng tài liệu số tại Trung tâm Học liệu
Học liệu mở không chỉ dừng lại ở việc sử dụng phần mềm mã nguồn
mở, mà đích thị là việc khai thác các cơ sở dữ liệu nhằm đáp ứng nhu cầu
thông tin, tri thức cũng như mục tiêu giáo dục. Trang tài liệu số của Trung
tâm Học liệu Trường ĐHCT được xây dựng từ năm 2007 nhằm số hóa các
tài liệu có giá trị, hòa vào dòng chảy phát triển thư viện trên thế giới và trên
hết là tính tiện ích, mở rộng giúp bạn đọc dễ dàng tiếp cận và sử dụng tài
nguyên học liệu của trường. Gần 10 năm phát triển, trang tài liệu số đặt tại
tên miền không ngừng phát huy vai trò
Bài báo phục vụ chuyên ngành đào tạo
1,534
5
Tài liệu học phần
5,098
6
ĐTNCKHĐBSCL
857
7
AV
728
8
Giáo trình
710
9
lượt đăng nhập và download có phần khiêm tốn, song thực tế vẫn cho
thấy rằng tình hình sử dụng tài liệu dạng trực tuyến của trường gia tăng
qua từng năm, lượt download tài liệu năm 2015 tăng khoảng 65% so
với cùng kỳ năm trước. Dự báo các con số này vẫn sẽ tăng đều trong
những năm tiếp theo.
Bảng 2. Thống kê sử dụng tài liệu số trên trang
qua các năm (tính từ tháng 10/2013)
Tính đến 10/2014
Tính đến 10/2015
Số lượng tài khoản đã cấp
53.399
74.320
Số lượng đăng nhập TVS
30.335
52.197
Số lượng download tài liệu
84.565
139.583
1.657
304
Nguyễn Đăng Khoa
1000 lượt yêu cầu, tương đương khoảng 5000 tài liệu (Số liệu thu nhận
từ phòng Dịch vụ Thông tin).
3.4. Một số hạn chế
Khi trao đổi với ThS. Nguyễn Huỳnh Mai - Trưởng bộ môn
Thông tin học, Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐHCT,
cô cho biết một số tình hình chung hiện nay của Bộ môn: Giảng viên
của bộ môn chỉ tự thân vận động để học tập kinh nghiệm, tri thức của
các nước khác qua hình thức khai thác các nguồn học liệu mở, song
vẫn chưa thể phổ biến và áp dụng hình thức giáo dục này cho sinh viên
vì nhiều lý do chủ quan lẫn khách quan. Mặc dù bộ môn vẫn thường
xuyên có các buổi báo cáo khoa học để giới thiệu, chia sẻ thông tin khoa
học đến giáo viên và học sinh, nhưng vẫn chưa thể hướng dẫn, “cầm
tay chỉ việc” cho sinh viên của ngành tiếp cận và sử dụng nguồn một
cách thuần thục. Cô Mai cho biết thêm, hiện nay bộ môn vẫn duy trì
phương pháp đến lớp mỗi tiết để đảm bảo chất lượng dạy và học, bởi
vì sinh viên không chỉ có nhu cầu về kiến thức khoa học, mà còn có
nhu cầu giao tiếp xã hội. Thế nên việc gói gọn tiết dạy qua công nghệ số
vẫn chưa được xem là phương pháp tốt để hướng đến dù nó có nhiều
ưu điểm và tiện ích. E-learning vẫn chỉ được xem là kho tài liệu để giúp
sinh viên dễ dàng tải xuống, và giúp giảng viên thuận tiện hơn trong
việc thông báo đến lớp học.
Dù chưa có số liệu cụ thể và kết quả ghi nhận cho nhiều trường
hợp khác nhưng những vấn đề cô Mai trình bày được xem là phổ quát
Bên cạnh đó, lối tư duy thụ động khiến số đông sinh viên không
tự trau dồi kiến thức và kỹ năng. Mỗi khi gặp phải vấn đề cần nghiên
cứu, sinh viên chỉ nghĩ đến việc tra “Google”, không khai thác triệt để
tài nguyên sẵn có, giá trị cao mà Trung tâm vẫn thường xuyên giới thiệu
bằng nhiều hình thức. Trình độ ngoại ngữ và kỹ năng tin học dù được
cải thiện và có nhiều tín hiệu khả quan, song vẫn còn là rào cản trong
việc tiếp cận, khai thác và sử dụng nguồn tri thức.
4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI
Theo Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và
Đào tạo về việc Quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở
trong các cơ sở giáo dục đã nêu rõ danh mục 5 sản phẩm được yêu cầu
306
Nguyễn Đăng Khoa
sử dụng chính thức (gồm có: Phần mềm văn phòng OpenOffice.org,
bộ gõ tiếng Việt Unikey, trình duyệt web Mozila Firefox, phần mềm
thư điện tử máy trạm Mozila: Thunderbird và hệ điều hành trên nền
Linux). Quy định này là một xuất phát điểm mang tính đột phá để tạo
tiền đề cho sự phát triển và chuẩn hóa về mặt công nghệ cho hệ thống
giáo dục cả nước trước xu hướng giáo dục mới mà vẫn đảm bảo các vấn
đề về bản quyền. Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra liệu nên chăng sử
dụng các phần mềm mã nguồn mở miễn phí nhưng khá lạ lẫm trước
thị hiếu sử dụng các phần mềm có bản quyền nhưng quen thuộc, dễ sử
dụng của đại đa số sinh viên và giảng viên?
Tôi hoàn toàn tán thành và ủng hộ việc sử dụng các phần mềm mã
nguồn mở để giảm tải chi phí giáo dục và đòi hỏi những người làm việc
@ctump.edu.vn, Đại học Trà Vinh với @tvu.edu.vn. Thêm vào đó, Gmail
đã trở thành một ứng dụng “mặc định phải có” nếu một người nào đó sử
dụng điện thoại thông minh (Gmail có thể chạy mượt mà trên bất cứ hệ
điều hành nào: Android, IOS, Windows phone). Trên trang báo điện
tử usatoday.com: />google-inbox-gmail-900-million-users/28016983/ đưa tin, Sundar Pichai –
Tổng Giám đốc điều hành Google đã thông báo số tài khoản Gmail đang
hoạt động trên toàn thế giới tính đến tháng 5/2015 là 900 triệu, số lượt
tải ứng dụng Gmail từ Google Play (chạy trên hệ điều hành Android) là
1 tỷ. Điều này minh chứng rằng Gmail đã chiếm lĩnh vị trí hàng đầu khi
nói về thư điện tử bởi tính năng và sự linh hoạt.
Cuối cùng là bộ phần mềm văn phòng OpenOffice.Org. OpenOffice
phát huy thế mạnh nguồn mở, miễn phí, nhỏ gọn, nhiều chức năng, đồ
họa đẹp, tuy nhiên để sử dụng hiệu quả hết các chức năng hiện có, đòi
hỏi người dùng phải biết sử dụng và quen với giao diện cũng như các
công cụ hỗ trợ. Thực tế cho thấy rằng, OpenOffice vẫn còn là bộ sản
phẩm cũ người mới ta. Các trung tâm tin học (như Trung tâm Thông
tin và Quản trị mạng và Trung tâm Điện tử - Tin học thuộc Trường
ĐHCT) vẫn chưa đưa vào chương trình giảng dạy hay giới thiệu như
một phần mở rộng, biến thể. Thêm vào đó, giáo viên giảng dạy và cố
vấn học tập không có đủ thời gian để hướng dẫn sử dụng hay giới thiệu
bộ sản phẩm này đến với sinh viên; sinh viên bên cạnh việc học tập,
thi cử còn phải dành thời gian cho công tác xã hội, có khi phải lo cả
vấn đề kinh tế sinh hoạt nên chưa nghĩa đến việc khám phá một phần
308
Nguyễn Đăng Khoa
mềm mới trong khi đã quen thuộc và dùng tốt phần mềm cũ, được đào
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN MỞ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
309
phức hợp cả công nghệ và phương thức giảng dạy. Việc nên làm bây
giờ của mỗi cá nhân hoạt động trong lĩnh vực giáo dục là “mở từ từ” và
giúp đỡ, giới thiệu người khác cùng “mở”.
Hiển nhiên, công nghệ và nguồn học liệu đóng vai trò then chốt
trong quá trình phát triển; nhưng rõ ràng nhận thấy được việc tiếp cận
công nghệ và nguồn học liệu là một vấn đề khác rất cần phải quan tâm
sâu sắc. Nhà trường cần phải đầu tư nhiều hơn cho ứng dụng công
nghệ, khai thác nguồn học liệu. Song song đó, phương pháp giảng dạy
và hình thức đánh giá cần phải được thay đổi nhiều hơn, đa dạng hơn,
mạnh mẽ hơn. Nhà trường phải có những khích lệ cụ thể cho sự đổi
mới phương thức giáo dục của cán bộ giảng dạy, thường xuyên mở các
lớp tập huấn sử dụng công nghệ, khai thác nguồn học liệu.
“Mở” không dừng lại ở cơ sở vật chất và phương thức giáo dục,
mà còn ở tư duy, tâm niệm của từng cá nhân một. Mỗi người phải nhìn
thấy được sự đóng góp của bản thân cho quá trình phát triển chung của
nền giáo dục nước nhà, xa hơn là khu vực, thế giới; phải đặt mục tiêu
phát triển xã hội trước những lợi ích cá nhân, phải nhận thức rõ ý nghĩa
sâu xa của giáo dục và các công trình nghiên cứu đến cuối cùng là phát
triển xã hội, cùng nhau đưa nhân loại phát triển lên một bước cao hơn,
ưu việt hơn. Có như thế, nhiều người, rồi nhiều cộng đồng sẽ bước vào
nền tri thức mới một cách tự nhiên nhất.
310
Nguyễn Đăng Khoa