-1-
TOÙM TAÉT ÑEÀ TAØI
Tên đề tài: “Phát triển kĩ năng giao tiếp qua tiết Giới thiệu ngữ liệu mới ”
Họ và tên giáo viên: Nguyễn Thị Thạch Thảo
Nơi công tác: Trường THCS Nguyễn Huệ
Chương 1
CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
1. SỰ CẦN THIẾT HÌNH THÀNH GIẢI PHÁP
Qua một thời gian dài nghiên cứu việc đổi mới PPDH, bản thân nhận thấy
rằng việc giới thiệu ngữ liệu mới đóng một vai trò rất quan trọng trong việc rèn
luyện, ứng dụng ngôn ngữ của học sinh sau này. Nếu không làm tốt bước giới
thiệu ngữ liệu học sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn với việc vận dụng những kiến
thức đã học vào các tình huống thực tế, nhưng để làm tốt được điều này đòi hỏi
người giáo viên sẽ gặp không ít khó khăn.
2. MỤC TIÊU CỦA GIẢI PHÁP
Nhằm đáp ứng nhu cầu học tiếng Anh giao tiếp; gắn liền với thực tế; làm cho
người học làm quen với kiến thức mới một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, không áp
đặt; phát huy được tính chủ động trong các tiết học và vận dụng vào cuộc sống
một cách tự nhiên.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG
a. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh trường THCS Nguyễn Huệ
b. Phạm vi áp dụng: Học sinh THCS
c. Phương pháp nghiên cứu:
Đọc, nghiên cứu tài liệu.
Dự giờ đồng nghiệp.
Kiểm tra, đối chiếu, so sánh kết quả của học sinh.
Châu Đức, ngày 20 tháng 11 năm 2016
Phát triển kĩ năng giao tiếp trong tiết Giới thiệu ngữ liệu mới”
Mục tiêu chung của giai đoạn giới thiệu ngữ liệu mới là làm cho học sinh
hiểu được nghĩa, cách phát âm và chính tả của từ và cấu trúc mới. Nói cách khác
việc giới thiệu phải đảm bảo làm rõ 3 yếu tố: hình thái, ngữ nghĩa và cách sử
dụng. Có thể tóm tắt việc giới tiệu ngữ liệu như sau:
chữ viết
Hình thái
(form)
Giới thiệu ngữ liệu
ngữ nghĩa
(presentation)
(meaning)
ngữ âm
ngữ pháp
Cách sử dụng
(use)
I.
Các biện pháp để giải quyết vấn đề.
1. Ngữ nghĩa và cách sử dụng:
Để làm tốt việc giới thiệu ngữ liệu theo yêu cầu đặt ra cần phân biệt 2 khái
niệm cơ bản: ngữ nghĩa và cách sử dụng.
Lớp học: bàn ghế, thầy, trò, dụng cụ học tập…
-
Trường học: các phòng học, cầu thang, các phòng ban, thư viện, giáo
viên, các nhân viên trong trường, cột cờ, sân trường, vườn trường…
Ví dụ, ngoài việc sử dụng những CSVC trên để giới thiệu ngữ nghĩa, có thể
dùng chúng để giới thiệu các ý nghĩa ngữ pháp của giới từ, tính từ, liên từ, miêu
tả vị trí trường học, các phòng trong trường như thư viện to hay nhỏ, phòng giáo
-5-
viên to hơn hay nhỏ hơn thư viện; có mấy cầu thang trong trường; thư viện có
luôn luôn đông đúc hay không, có nhiều sách hay ít sách; những ai hay làm việc
tại vườn trường v. v…
2. Sử dụng những tình huống thật trên lớp (live situations)
Những tình huống thật trên lớp như: phòng học có hai cửa sổ; Hai nghỉ học
ba ngày rồi; hôm cả lớp đi thăm viện bảo tàng; bạn Hùng hôm nay trông rất bảnh
bao; bạn Mai mới cắt tóc; cửa sổ cao quá bạn Liên không thể với tới được v.v…
đều có thể là những tình huống thật sinh động cho mục đích giới thiệu các cấu
trúc ngữ pháp tương tự như:
There is / are
Present perfect
There are two windows in our class.
Hai has been absent for three days.
-6-
Ho Chi Minh city is bigger than Hanoi.
The post office is higher than the bank.
Hoan Kiem lake is smaller than the West lake.
5. Sử dụng các bảng biểu, bản đồ, bản tin, báo chí
Các bảng biểu như thời khóa biểu, thời gian biểu của học sinh, tờ lịch, lịch
làm việc, lịch bay hàng không, bảng giờ tàu chạy, bảng giờ mở cửa của các cửa
hàng, sơ đồ, biểu đồ, chỉ giá, bảng tin thời tiết, tin quảng cáo, tin thời sự, tin vặt
v.v. đều có thể khai thác để giới thiệu những khái niệm như thời gian, các hoạt
động trong ngày, thứ tự diễn biến các sự kiện, cách sử dụng thời thể, cách phối
hợp thời gian và nhiều vấn đề khác.
6. Lập tình huống và ngữ cảnh với sự hỗ trợ của giáo cụ trực quan và ngôn ngữ
đã học.
Có những ngữ liệu (ngữ pháp và từ vựng) không thể minh họa bằng những
tình huống thật hay việc thật, phải cần đến những tình huống giáo viên tự tạo.
Lúc này, giáo viên có thể phối hợp dùng giáo cụ trực quan hoặc ngôn ngữ có sẵn
của học sinh (kể cả tiếng mẹ đẻ) để tạo tình huống. Ví dụ, giới thiệu cấu trúc:
It takes + some amount of time + to do sth.
Thầy giáo có thể tạo một tình huống sau:
My brother is a quick cyclist.
His school is 10 km away from home.
(Thầy giáo viết lên bảng sơ đồ)
HOME--------------------10KM---------------------SCHOOL
He usually leaves home at 7 a.m and arrives at school at 7.15 a.m.
(Thầy giáo ghi thêm vào sơ đồ thời gian đi và thời gian đến)
HOME---------------------10KM---------------------SCHOOL
7 a.m
Would you like + verb
to
và làm rõ khả năng thay thế ở phần (2) sau to như sau:
go to the cinema?
Would you like to
have dinner with me tonight?
play tennis?
* Điều cần lưu ý:
- Công thức hay mẫu câu khái quát hóa các cấu trúc ngữ pháp rất có tác dụng
làm rõ hình thái ngữ pháp (form) của lời nói, song không thể qua đó làm rõ ngữ
nghĩa (meaning) hay cách sử dụng (use) của cấu trúc ngữ pháp đó.
-8-
- Ngược lại, việc nhấn mạnh cách dùng ngữ cảnh và tình huống để giới thiệu
ngữ nghĩa và cách sử dụng một cấu trúc ngữ pháp không có nghĩa là sẽ loại bỏ
các biện pháp làm rõ cách cấu tạo, hình thái của cấu trúc ngữ pháp đó.
- Ba yếu tố ngôn ngữ: form, meaning and use luôn luôn phải được giới thiệu
đồng thời, phối hợp và có tầm quan trọng ngang bằng nhau.
4. Kiểm tra mức độ tiếp thu của học sinh:
(Checking comprehension)
Sau khi thầy giáo đã tạo tình huống và làm rõ các ý nghĩa và cách sử dụng
ngữ liệu cần giới thiệu, điều cần phải thực hiện tiếp theo ở giai đoạn này là kiểm
tra mức độ tiếp thu của học sinh để thầy có thể bổ sung bài giảng kịp thời nếu
cần. Chỉ trên cơ sở đó việc luyện tập thực hành tiếp theo mới có hiệu quả.
Việc kiểm tra này thường được thực hiện thông qua một số bài tập thực hành
như:
giới thiệu chúng trong các tình huống / ngữ cảnh khác nhau
5. Học sinh lặp lại bước (2)
-9-
6. Kiểm tra mức độ tiếp thu của học sinh (qua luyện tập nhanh)
Khi người thầy nhận thấy học sinh đã làm tốtt được bước (6) thì có thể
chuyển tiếp sang giai đoạn luyện tập sáng tạo các câu mới phi máy móc và
mang tình giao tiếp hơn.
Tiến trình trên tuy là tiêu biểu, nhung không phải lúc nào cũng là nhất
thiết với mọi trường hợp. Ví dụ, nếu ngay sau bước (2), thầy giáo cảm thấy
học sinh đã hiểu và có thể làm tốt các bài tập tái tạo thì có thể chuyển ngay
sang bước (6). Có thể hình dung các bước tiến hành giới thiệu ngữ liệu mới
qua sơ đồ sau:
Học sinh
làm tốt
G.T.N.L
trong tình
huống
(1)
HS tái
tạo theo
gợi ý
(2)
từ vựng. Tuy nhiên, cách giới thiệu từ vựng cũng có những vấn đề cần quan tâm
cụ thể. Phần này sẽ trình bày rõ hơn những vấn đề cụ thể đó.
1. Chọn từ để dạy
Thông thường, trong một bài học luôn luôn xuất hiện những từ mới. Song
không phải từ mới nào cũng đưa vào để dạy và dạy như nhau. Để lựa chọn từ cần
phải dạy, cần xem xét những vấn đề sau:
- 10 -
a) Từ chủ động – từ bị động (active and passive vocabulary)
• Từ chủ động là những từ học sinh hiểu, nhận biết và sử dụng được
trong giao tiếp nói và viết.
• Từ bị động là những từ học sinh chỉ hiểu và nhận biết được khi
nghe và đọc.
Cách dạy và giới thiệu hai loại từ này có khác nhau. Từ chủ động có liên
quan đến cả 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết, cần đầu tư thời gian để giới thiệu
và luyện tập nhiều hơn, đặc biệt là cách sử dụng. Với từ bị động có thể chỉ cần
dừng lại ở mức nhận biết, không cần đầu tư thời gian vào các hoạt động ứng
dụng. Giáo viên cần biết lựa chọn và quyết định xem sẽ dạy một từ nào như
một từ chủ động và từ nào như một từ bị động.
b) Học sinh đã biết từ này chưa?
Để không bị phí thời gian, người thầy phải luôn luôn đảm bảo những từ mình
dạy là những từ cần dạy – từ mới học sinh chưa biết. Để tránh tình trạng giới
thiệu những từ không cần thiết, giáo viên có thể dùng những thủ thuật tìm hiểu
xem các em đã biết những từ đó chưa và biết đến đâu, cụ thể là thủ thuật hỏi gợi
ý (eliciting), các hoạt động và thủ thuật tương tự như những hoạt động sử dụng
ở bước (5) và (6) trong sơ đồ tiến trình dạy ngữ liệu, hoặc hỏi trực tiếp các em
xem những từ nào là từ mới và từ khó trong bài.
2. Những yếu tố cần làm rõ khi giới thiệu ngữ liệu mới
nam ngồi giữa 2 học sinh nữ để giới thiệu ý nghĩa của từ between bằng
cách nói Tuan is between Lan and Hương.
- Đoán nghĩa của từ trong ngữ cảnh;
- Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ.
+ Dịch sang tiếng mẹ đẻ.
Ngoài ra, các bước tiến hành giới thiệu từ mới cũng cũng tương tự như các
bước trong tiến` trình GTNL chung, song có thể được phối hợp nhanh hơn. Cụ
thể là, sau khi đã làm rõ nghĩa và cách sử dụng từ, giáo viên sẽ tạo điều kiện cho
học sinh thử dùng ngay từ mới học qua các bài tập ứng dụng nhanh. Bằng cách
này giáo viên đã đồng thời kiểm tra được mức độ tiếp thu bài của học sinh.
Ví dụ, giới thiệu từ mới supermarket. Sau khi đã làm rõ nghĩa của từ (có thể
qua ngữ cảnh, giải thích đặc điểm của một siêu thị - supermarket khác với một
chợ thường market, phối hợp cùng với tranh minh họa và dịch sang tiếng Việt
nếu cần), thầy giáo có thể hỏi các câu hỏi như:
Is there a supermarket in your area?
Are there any supermarkets in Vung tau / in Ho Chi Minh city?
Does your mother go to the supermarket?
- 12 -
…
Bằng cách nghe và trả lời các câu hỏi như vậy, học sinh được luyện tập nghe
và sử dụng từ mới học trong ngữ cảnh và chuỗi lời nói, đồng thời thể hiện mức
độ hiểu nghĩa và cách sử dụng từ đó. Nhờ vậy giáo viên biết được mức độ tiếp
thu bài của các em.
Sau giai đoạn giới thiệu ngữ liệu, từ vựng cần phải thường xuyên được củng
cố, phối hợp với các bài thực hành cấu trúc ngữ pháp và bài tập giao tiếp sau
này.
*Tóm lại: Sau khi nêu ra ý nghĩa của từ mới, giáo viên có thể thực hiện một
Quan điểm lâu nay (do ảnh hưởng của PP cấu trúc, nghe nói – nghe nhìn)
thưởng cho rằng viết là một hoạt động chỉ nên xảy ra ở những giai đoạn sau của
quá trình dạy và học. Ít khi chúng ta nghĩ rằng hoạt động viết lại có thể sử dụng
được trong giai đoạn giới thiệu ngữ liệu. Với các quan điểm giao tiếp mới hiện
nay, ta có thể sử dụng các hoạt động viết ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình
dạy học. Ở giai đoạn giới thiệu ngữ liệu, thầy giáo có thể sử dụng viết vào các
hoạt động như tái tạo lại mẫu câu vừa được giới thiệu – bước (2); chép lại mẫu
câu vừa được thầy viết lên bảng để ghi nhớ - sau bước (3); làm các bài tập luyện
viết (như điền vào chỗ trống, hoàn thành câu, viết một đoạn văn tương tự như
như mâu – parallel writing) hoạc trả lời các câu hỏi kiểm tra mức độ tiếp thu bài
qua viết thay cho nói – bước (6); hoặc thực hiện một nhiệm vụ bằng viết để qua
đó tự khám phá, tìm ra mẫu câu hoặc nghĩa của cấu trúc / từ mới…. Những hoạt
động viết này sẽ là nguồn bổ sung hoặc thay thế các hoạt động ở dạng nói mang
mục đích tương tự, làm đa dạng các hoạt động của thầy khi tiến hành các bước
giới thiệu ngữ liệu đã đề cập ở trên.
Trong trường hợp thầy sử dụng các hoạt động viết, nên có bước sửa lỗi và ra
mẫu đúng (đáp án) viết lên bảng ngay sau đó để có ngay sự phản hồi, tránh việc
tiếp thu mẫu sai, đặc biệt là với các cấu trúc ngữ pháp.
Chương 3
HIỆU QUẢ GIẢI PHÁP
1. HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Học sinh rất hứng thú trong học tập, tự tin hơn trong giao tiếp.
Rất hiệu quả với học sinh khối 6,7.
Việc luyện kĩ năng viết cũng được lồng ghép hiệu quả.
• Hạn chế:
- 14 -
Xác nhận, đánh giá, xếp loại của đơn vị:
Cù Bị, ngày 20 tháng 04 năm 2016
……………………………………………….
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
………………………………………………..
bản thân tôi viết, không sao chép nội
………………………………………………..
dung của người khác.
- 15 …………………………………………………………
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, đóng dấu)
(Ký và ghi rõ họ tên)
- 16 -
PHÒNG GD&ĐT HUYỆN CHÂU ĐỨC