Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 phát triển kĩ năng giao tiếp thông qua phân môn Tập làm văn lớp 2 - Pdf 34

Sáng kiến kinh nghiệm

một số biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 2
phát triển khả năng giao tiếp thông qua phân
môn Tập làm văn

Năm học 2013 - 2014


I . Đặt vấn đề
Trong mọi lĩnh vực của cuộc sống , giao tiếp thờng là hoạt
động khởi đầu cho những hoạt động tiếp theo. Nó tồn tại song song và
có ảnh hởng to lớn đến kết quả của những hoạt động đó. Trong xã hội ,
con ngời luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau. Nhờ hoạt động giao tiếp ,
con ngời có thể trao đổi thông tin , tạo lập các mối quan hệ tốt đẹp. Từ
xa đến nay , con ngời đã sử dụng nhiều phơng tiện khác nhau để thực
hiện hoạt động giao tiếp . Mỗi loại phơng tiện đều có u và nhợc điểm
riêng , song phơng tiện giao tiếp đặc trng và hiệu quả nhất của loài ngời là ngôn ngữ . Ngôn ngữ và giao tiếp bằng ngôn ngữ có vai trò rất
quan trọng đối với sự trởng thành của mỗi con ngời nói riêng và sự
phát triển của xã hội loài ngời nói chung. Khi mới sinh ra , con ngời
cha có khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ . Trong quá trình trởng
thành , mỗi ngời tự tích luỹ dần vốn ngôn ngữ cho bản thân . Vốn ngôn
ngữ này phải đợc bồi dỡng , rèn luyện và phát triển ngay từ khi còn
nhỏ . Và trờng học là nơi cung cấp vốn ngôn ngữ cho học sinh một
cách có hệ thống. Mục đích nghiên cứu ngôn ngữ trong nhà trờng là
rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng ngôn ngữ làm phơng tiện giao
tiếp . Vì vậy phát triển lời nói là nhiệm vụ quan trong nhất của việc
dạy học tiếng trong nhà trờng.
Trong những năm gần đây, giáo dục phổ thông nói chung và giáo
dục ở bậc Tiểu học nói riêng có nhiều đổi mới , tiến bộ căn bản . Đó là
sự đổi mới về mục tiêu dạy học và đợc cụ thể hoá bằng nội dung , phơng pháp dạy học . Trong quá trình đổi mới này, định hớng giao tiếp đợc đặc biệt quan tâm , đợc coi là nguyên tắc trung tâm của dạy học

III. một số biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 2
phát triển khả năng giao tiếp thông qua phân
môn Tập làm văn
1 . Mục tiêu chung của phân môn Tập làm văn lớp 2 là:
- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng nói , viết , nghe , đọc phục vụ
cho việc học tập và giao tiếp:
+Nắm đợc các nghi thức lời nói tối thiểu : chào hỏi , tự giới
thiệu , cảm ơn , xin lỗi , nhờ cậy, yêu cầu , khẳng định , phủ định ,
tán thành , từ chối , chia vui , chia buồn , biết sử dụng chúng trong
một số tình huống giao tiếp ở gia đình , trong trờng học và nơi công
cộng.
+ Nắm đợc một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hàng
ngày: khai bản tự thuật ngắn, viết th ngắn để nhắn tin , chia vui hoặc
chia buồn , nhận và gọi điện thoại , đọc và lập danh sách học sinh ,
tra mục lục sách , đọc thời khoá biểu , đọc và lập thời gian biểu.
3


+ Kể một sự việc đơn giản, tả sơ lợc về ngời , vật xung quanh
theo gợi ý bằng tranh hoặc câu hỏi.
+ Nghe hiểu và dựa vào câu hỏi gợi ý để kể lại mẩu chuyện
ngắn đã nghe hoặc nêu đợc các ý chính.
2.Phân loại
Chơng trình Tập làm văn ở lớp 2 gồm các kiểu bài sau:
+ Quan sát tranh và trả lời câu hỏi
+ Trả lời câu hỏi
+ Đọc văn bản và trả lời câu hỏi
+ Kể lại câu chuyện ( theo câu hỏi, theo tranh đã học)
+ Tả sơ lợc về ngời, cảnh vật, sự vật
+Nói và viết ( theo mẫu, theo tình huống giao tiếp)

Khi quan sát các em phải có cái nhìn chung để xác định mình
đang quan sát cảnh gì , quan sát cái gì. Tiếp đó, các em phải biết
chia đối tợng thành nhiều phần rồi lần lợt quan sát theo nhiều góc độ
Ví dụ: Khi thực hiện quan sát bức tranh và trả lời câu hỏi Bài 1tuần 14 - Tiếng Việt 2- Tập 1, trớc tiên phải thực hiện quan sát toàn
cảnh bức tranh, xác định nội dung chính của bức tranh để trả lời câu
hỏi.
+ Bạn nhỏ đang làm gì?
Tiếp đó là quan sát hình dáng , các đặc điểm chi tiết để trả lời
các câu hỏi sau:
+ Mắt bạn nhìn búp bê nh thế nào?
+Tóc bạn nh thế nào?
+Bạn mặc áo màu gì?
Và cuối cùng là quan sát cảnh phụ để trả lời câu hỏi gợi ý, mở
rộng thêm:
+ Bên cạnh bạn nhỏ , con mèo đang làm gì?
Sau khi các em đã trả lời từng câu hỏi , giáo viên cho một số
em trả lời tất cả các câu hỏi thành đoạn văn và nêu nội dung khái
quát của đoạn văn.
Ví dụ: Bài tập 3 - Tuần 25-Tiếng Việt 2- Tập 2: Quan sát tranh
và trả lời câu hỏi
a) Tranh vẽ cảnh gì?
b) Sóng biển nh thế nào?
c) Trên mặt biển có những gì?
d) Trên bầu trời có những gì?
Bài tập này ngoài mục đích yêu cầu học sinh quan sát thật kĩ để
trả lời câu hỏi mà còn bớc đầu tập cho học sinh cách miêu tả cảnh
5


biển , Tuy nhiên , khi hớng dẫn học sinh làm bài thì có thể thay đổi

+ Phải quan sát kĩ bức tranh. Đầu tiên quan sát tổng thể sau đó
quan sát các đặc điểm chi tiết. Quan sát các hình ảnh từ gần đến xa,
6


từ nhân vật chính đến nhân vật phụ. Từ đó giúp các em hiểu rõ bức
tranh vẽ cảnh vật gì?
+ Học sinh đọc lần lợt từng câu hỏi , suy nghĩ dựa trên hình ảnh
đã quan sát để diễn đạt thành lời theo gợi ý các câu hỏi .
+ Sau khi trả lời xong các câu hỏi, học sinh có thể đọc tên bài
nhằm giúp các em nắm chắc trọng tâm bài.
+ Đọc liên kết các câu trả lời, có thể thêm bớt các từ ngữ vào
các ý để ý sau nối tiếp ý trớc tạo ra đoạn văn hoàn chỉnh. Đây là
công tạo đoạn tiền đề để các em làm bài văn miêu tả , văn kể chuyện
sau này.
Kiểu bài Quan sát tranh và trả lời câu hỏi lớp 2 là một trong
những kiểu bài rất quan trọng. Thông qua việc quan sát , giúp các em
không những biết huy động các giác quan mà còn khơi dậy ở các em
tình cảm, thái độ, tình yêu đối với cảnh vật và con ngời.
Thông qua tranh , các em đợc hình thành lợng ngôn ngữ cần
thiết . Có nghĩa là từ kênh hình mà các em có thể chuyển thành lợng
ngôn ngữ diễn đạt của chính bản thân mình . Đây chính là mục tiêu
quan trọng hàng đầu trong nhiệm vụ , mục tiêu của dạy học môn
Tiếng Việt .
3.2. Kiểu bài " Trả lời câu hỏi"
Kiểu bài Trả lời câu hỏi chơng trình mới có đặc điểm nh thế
nào? Để làm rõ vấn đề nêu trên, trớc hết ta hãy làm quen với một đề
bài cụ thể về kiểu bài Trả lời câu hỏi:
Ví dụ : Bài 1- Tuần 1- Tiếng Việt 2- tập 1.
Bài tập 1:Trả lời câu hỏi:

ở đây nhằm giúp học sinh mở rộng vốn sống , vốn hiểu biết thực tế
xung quanh mình , gần gũi phù hợp với lứa tuổi các em. Qua việc trả
lời các câu hỏi , hình thành ở các em kĩ năng ứng xử , giao tiếp , nói
thành câu gọn , có thể là câu nói tán thành, không tán thành, phủ
định hay khẳng định. Điều đặc biệt là qua hệ thống câu hỏi gợi ý ,
giúp các em biết lựa chọn , sắp xếp câu trả lời theo hệ thống lôgíc ,
biết trả lời câu hỏi nào trớc , câu hỏi nào sau , tập cho các em thói
quen ứng xử nhanh nhạy trớc thực tế cuộc sống.
Kiểu bài văn Trả lời câu hỏi này so với kiểu bài Quan sát
tranh và trả lời câu hỏi thì giống nhau ở điểm trả lời câu hỏi thành
câu rõ và gọn. Điểm khác ở chỗ khi tìm ý trả lời thì một đằng là dựa
vào mắt, nhìn những nét cụ thể trong tranh, một đằng là dựa vào

8


những điều suy nghĩ trong óc, vốn hiểu biết, vốn sống thực tế xung
quanh các em.
Nh vậy, đối với loại văn Trả lời câu hỏi này có thể coi là bớc tập
duyệt cho việc học văn trần thuật ở lớp trên.
Kiểu văn Trả lời câu hỏi có điểm mới trong hình thức nội dung
câu hỏi. Chính điểm mới này giúp cho học sinh rèn luyện đợc
những kĩ năng cơ bản trong ứng xử , giao tiếp ngay từ những năm
đầu các em bớc vào mái trờng Tiểu học , đáp ứng đợc mục tiêu chính
của chơng trìnhTiếng Việt đề ra.
Từ những đặc điểm của kiểu văn Trả lời câu hỏi vừa nêu trên , ta
hình dung đợc rất cụ thể về ý đồ cần đa ra của chơng trình Tập làm
văn lớp 2. Mấu chốt chính không có gì to lớn nặng nề mà nó mang
giá trị chân thực , gần gũi , phục vụ đúng nhu cầu lợi ích của các
em . Rèn cho các em thói quen ứng xử trong giao tiếp khi gặp các

Theo Tô Hoài
a)Những dấu hiệu nào báo mùa xuân đến?
b)Tác giả đã quan sát mùa xuân bằng những cách nào ( nhìn ,
nghe hay ngửi)?
Rõ ràng với dạng bài tập trên, ta thấy rõ mẫu văn bản đa ra ở
đây là những đoạn văn miêu tả với những từ ngữ , những hình ảnh
gợi cảm , sinh động song cũng rất gần gũi , dễ hiểu với các em. Mục
đích của chơng trình đa ra ở đây là nhằm phát triển năng lực lời nói
cho các em. Ngữ liệu đa ra ở đây chính là một văn bản, yêu cầu học
sinh đọc văn bản , thông qua văn bản để tìm ý, trả lời câu hỏi.
Các câu hỏi đa ra với hình thức nội dung phong phú, tạo điều
kiện để học sinh chiếm lĩnh nội dung, nghệ thuật của văn bản , giúp
học sinh phát huy khả năng sáng tạo hiểu đúng ý và nội dung của
bài . Câu trả lời không bị dập khuôn theo mẫu gò bó, nhàm chán mà
tạo điều kiện cho các em có một số phơng án trả lời, tạo câu diễn đạt
khác nhau làm bộc lộ các trình độ khác nhau của việc nắm nội dung
và nghệ thuật của văn bản của từng cá nhân học sinh , kích thích sự
hứng thú học tập.
Qua đó ta thấy rằng: Kiểu bài văn Đọc văn bản trả lời câu
hỏi chính là cơ sở để giúp các em sản sinh lợng ngôn ngữ cần thiết.
Khi đọc văn bản , hiểu văn bản, các em sẽ cảm thụ văn bản thành lời
thông qua các câu hỏi gợi ý. Chính việc hoàn thành các câu trả lời
này là cơ sở giúp các em rèn luyện kĩ năng phát triển lời nói . Đây
chính là mục tiêu chủ yếu mà chơng trình Tiếng Việt đa ra nhằm
10


hình thành ở học sinh năng lực phát triển lời nói, kĩ năng giao tiếp
thông qua học Tiếng Việt.
3.4. Kiểu bài Kể lại câu chuyện ( theo câu hỏi, theo tranh đã



Kiểu bài kể lại câu chuyện ( theo câu hỏi, theo tranh đã học)
yêu cầu các em biết kể lại trung thực câu chuyện mà các em đã đợc
chứng kiến qua tranh hoặc dựa theo hệ thống câu hỏi gợi ý về đối tợng , về nhân vật nào đó mà đề yêu cằu nhng lời kể ở đây không
hoàn toàn phụ thuộc vào khuôn mẫu mà lời kể chính là lời lẽ của các
em.
Để làm đợc những bài văn kiểu này, các em phải tập trung các
giác quan để quan sát, phải vận dụng những hiểu biết thực tế trong
cuộc sống học tập hàng ngàyvà đặc biệt phải biến những hình ảnh
quan sát đợc bằng việc diễn đạt thành lời, sao cho lời kể diễn biến
của câu chuyện vừa đúng mục đích của đề ra , vừa khái quát đợc nội
dung thông báo của bức tranh .
Khi học sinh đã hiểu đợc nội dung cốt chuyện , các em có thể
hình dung đợc diễn biến xảy ra trong câu chuyện này từ đó các em
có thể đặt tên cho nhân vật , tự diễn đạt thành lời diễn biến xảy ra
theo cách kể sáng tạo của mình . Trong khi kể, học sinh có thể nhập
tâm vào nhân vật, tỏ thái độ , tình cảm của mình vào nhân vật để ngời nghe khi đợc nghe kể lại câu chuyện tởng mình đang đợc chứng
kiến trong cuộc.
Tuy yêu cầu đặt ra cho học sinh lớp 2 ( khi làm bài văn kể lại
câu chuyện theo tranh) cha phải hoàn chỉnh nh một bài văn kể
chuyện với đối tợng học sinh lớp 4 tức là phải đủ 3 phần: mở bài,
thân bài và kết luận nhng ý đồ mà chơng trình đề cập đến ở đây cho
chúng ta thấy việc đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề
thông qua nội dung các bức tranh chính là cơ sở ban đầu hình thành
cho học sinh khái niệm về một bài văn kể chuyện .
Cái hay trong kiểu bài này là nội dung kể chuyện đợc diễn tả
thông qua các bức tranh. Những hình ảnh diễn ra trong tranh có sự
liên kết lôgíc về cả nội dung và hình thức. Những diễn biến xảy ra
mang lại nội dung ý nghĩa rất thực tế rất gần gũi đối với cuộc sống

đáp ứng kịp thời mục tiêu , nhiệm vụ của chơng trình Tiểu học đã đề
ra. Qua các bài văn kể chuyện ( theo câu hỏi , theo tranh đã học)
trong phân phối chơng trình lớp 2 , học sinh có nếp sống và suy nghĩ
theo những tính cách tốt của nhân vật trong chuyện , biết phê phán
những thói h , tật xấu. Từ đó hình thành đợc phẩm chất và nhân cách
tốt đẹp ở trẻ.
3.5. Kiểu bài làm văn " Tả sơ lợc về ngời , cảnh vật, sự vật "
13


Kiểu bài làm văn " Tả sơ lợc về ngời , cảnh vật, sự vật " là một
trong những tiểu loại nhỏ của thể loại văn miêu tả. Trớc khi tìm hiểu
tiểu loại nhỏ này, ta tìm hiểu thế nào là văn miêu tả.
Miêu tả là " lấy nét vẽ hoặc câu văn để thể hiện chân tớng của
sự vật ra"
Văn miêu tả giúp ngời đọc hình dung một cách cụ thể hình ảnh
của sự vật thông qua những nhận xét tinh tế , những rung động sâu
sắc thể hiện cảm xúc, thẩm mĩ của ngời viết . Trong văn miêu tả, ngời ta không đa ra những lời nhận xét chung chung trừu tợng về sự
vật miêu tả nh : Con mèo này đẹp. Cái bút này tốt Văn miêu tả
giúp ngời đọc tởng nh mình đang đợc xem tận mắt sự vật đợc miêu
tả.
Với mục tiêu là rèn luyện ở học sinh các kĩ năng nói và viết,
hình thành cảm xúc trớc cái đẹp của thiên nhiên , con ngời. Văn
miêu tả đợc đa vào dạy ở Tiểu học không phải để đào tạo những nhà
văn mà nhằm hình thành ở học sinh cảm xúc thẩm mĩ trớc vẻ đẹp
thiên nhiên , góp phần phát triển ngôn ngữ ở trẻ.
Trong chơng trình Tiếng Việt , văn miêu tả đợc đa vào dạy ở
phân môn Tập làm văn lớp 2 với các tiểu loại nhỏ có cả ở hai dạng
bài trên và phân phối thêm ở dạng bài " Đọc văn bản trả lời câu
hỏi". Song nội dung và kiến thức cần cung cấp của thể loại văn miêu

Chơng trình Tiếng Việt Tiểu học chú trọng dạy học Tiếng Việt
qua tình huống giao tiếp . Tiếng Việt ngoài việc sử dụng để sáng tạo
nên các tác phẩm văn chơng còn đợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực
khác nhau của đời sống . Kiểu bài này đợc đa vào chơng trình mới
nhằm giúp học sinh có đợc một số kĩ năng về nghi thức lời nói cần
thiết trong cuộc sống nh :
+ Biết nói lời tự giới thiệu , chào hỏi , cảm ơn , xin lỗi , đề
nghị , tán thành , từ chối , ngạc nhiên , thán phục.
+ Biết khai một lí lịch đơn giản , lập danh sách học sinh trong
tổ , viết lời nhắn tin , viết bu thiếp , nhận và gọi điện thoại .
Các kĩ năng này đợc dạy thông qua nhiều bài tập , dới dạng các
tình huống. Các bài tập của kiểu bài này đợc sắp xếp đan xen với các
bài tập đã nêu ở trên nhằm mục đích tránh sự đơn điệu, nhàm chán
trong tiết học . Bởi vì các tình huống đợc đa ra đã có sự nghiên cứu
lựa chọn phù hợp với thực tế đời sống học tập , vui chơi , các quan
hệ gần gũi thân thiện với các em hoặc có một số tình huống rất tự
15


nhiên để tạo lập cho các em năng lực phát triển lời nói một cách có
sáng tạo, có t duy , mang tính văn hoá cao.
Qua tìm hiểu nội dung , chơng trình phân môn Tập làm văn lớp
2 , tôi thấy hầu nh kiểu bài này đợc phân phối trong tất cả các tiết
Tập làm văn . Với mục tiêu của kiểu bài này là rèn cho học sinh một
số nghi thức lời nói thông thờng , góp phần quan trọng vào việc rèn
kĩ năng giao tiếp thông qua lời nói , hình thành cho các em vốn ngôn
ngữ cần thiết , bớc đầu giúp các em khả năng bạo dạn , tự tin trong
giao tiếp trớc mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống , thông qua
kiểu bài này hình thành ở các em phẩm chất cần thiết ở con ngời mới
: đó là những con ngời có khả năng giao tiếp trong mọi lĩnh vực,

động nhóm:
Hoạt động nhóm là một hình thức tổ chức đem lại hiệu quả cao
trong quá trình dạy học. Làm việc theo nhóm tạo điều kiện cho học
sinh có cơ hội đợc nói nhiều hơn , đợc thể hiện mình một cách tự
nhiên , cởi mở. Cách tổ chức này đa các em vào một môi trờng giao
tiếp cùng lứa tuổi , các em giải quyết bài tập một cách tự nhiên và
hào hứng , không coi đó là nhiệm vụ nặng nề mà giáo viên giao cho .
Đồng thời trong quá trình làm việc theo nhóm , học sinh phải biết
lắng nghe , biết phản hồi và biết kết hợp với các bạn để tìm ra cách
giải quyết . Nh vậy, hoạt động theo nhóm không chỉ là hình thức tổ
chức dạy học mang lại hiệu quả cao mà còn giáo dục cho học sinh
biết chia sẻ, đoàn kết, tình bạn càng thêm gắn bó.
4. Một số chú ý khi dạy Tập làm văn
-.Phân loại các bài tập để có cách hớng dẫn học sinh làm bài
tập một cách phù hợp
- Phát triển kĩ năng nghe cho học sinh thông qua các bài tập
làm văn
- Phát triển kĩ năng nói cho học sinh thông qua các bài tập
làm văn
- Tích hợp với các môn học khác.
Cụ thể nh sau:
4.1. Phân loại các bài tập để có cách hớng dẫn học sinh
làm bài một cách phù hợp
a) Các loại bài tập
- Xét theo kĩ năng rèn luyện , có các loại bài tập sau : bài tập về
nghi thức lời nói , bài tập về kĩ năng phục vụ học tập và đời sống
hàng ngày, bài tập về kể chuyện và miêu tả.
- Xét theo mục đích của bài tập có các loại sau : bài tập nhận
diện , bài tập phân tích , bài tập tạo lập lời nói.
18

động nối tiếp ( ở ngoài lớp , sau tiết học).
+ Nêu yêu cầu hớng dẫn học sinh thực hiện những hoạt động
tiếp nối nhằm củng cố kết quả thực hành luyện tập ở lớp ( viết bài ở
nhà , thực hành giao tiếp ngoài lớp học, sử dụng kĩ năng đã học vào
cuộc sống).
19


4.2. Phát triển kĩ năng nghe cho học sinh thông qua các bài
tập làm văn
Để hoàn thành năng lực sử dụng Tiếng Việt , kĩ năng giao tiếp
cho học sinh , giáo viên cần giúp cho học sinh kĩ năng nghe khi
giảng dạy bất kì phân môn nào của môn Tiếng Việt cũng nh các môn
học khác ( Toán , Thủ công, Tự nhiên và Xã hội,). Phân môn Tập
làm văn có điều kiện rèn kĩ năng nghe cho học sinh . Khi rèn kĩ năng
nghe cho học sinh cần chú ý một số giải pháp sau
a) Xác định những yếu tố ảnh hởng đến kĩ năng nghe của học
sinh
- Sự lành mạnh của cơ quan thính giác : Nếu phát hiện học sinh
có khuyết tật , giáo viên cần đề nghị gia đình đa các em đi chữa
hoặc sử dụng phơng tiện , kĩ thuật nghe ( nh máy nghe,). Đồng thời
giáo viên cần có thái độ ân cần với các em học sinh cá biệt này.
- Vốn hiểu biết xung quanh đề tài sẽ nghe.
- Khả năng ghi nhớ và tái hiện khi nghe nh nhắc lại yêu cầu hay
ghi chép nội dung.
b) Rèn kĩ năng nghe cho học sinh theo từng kiểu bài tập
ở phân môn Tập làm văn có một số kiểu bài tập rèn kĩ năng
nghe cho học sinh( trả lời câu hỏi, đọc và trả lời câu hỏi). Các bài
tập này có đặc điểm chung là học sinh nghe, hiểu yêu cầu của bài tập
để trả lời hoặc nghe văn bản tái hiện lại đợc nội dung , nói lại một

Với cách hớng dẫn nh trên , tôi thấy học sinh sẽ làm bài tốt vì
học sinh tái hiện tốt khi nghe câu hỏi hớng dẫn quan sát.
4.3. Phát triển kĩ năng nói cho học sinh thông qua các bài
tập làm văn
So với kĩ năng nghe , chơng trình Tập làm văn ở Tiểu học còn
chú ý rèn kĩ năng nói cho học sinh ở cả hai dạng độc thoại và đối
thoại. Rèn kĩ năng nói có thể tiến hành khi dạy các phân môn của
môn Tiếng Việt và khi dạy các môn học khác. Các giờ Tập làm văn
cũng có nhiệm vụ luyện cho học sinh kĩ năng độc thoại và đối thoại.
Để trình bày các bài nói thuộc nhiều thể loại khác nhau : miêu tả, kể
chuyện theo tranh, tập nói theo tình huống cho sẵn, trả lời câu hỏi.
Trong thực tế giảng dạy , ít giờ tập làm văn nói thành công vì
học sinh lớp 2 vốn sống, vốn hiểu biết ít, khả năng t duy trừu tợng
cha phát triển do đó học sinh lúng túng , không tạo đợc hứng thú,
nhu cầu nói.

21


Nh vậy , việc dạy cho các em loại bài tập theo hớng giao tiếp
với mục đích rèn kĩ năng nói cho học sinh cần phải chú ý những vấn
đề sau:
a) Chuẩn bị tốt nội dung nói cho học sinh
- Vấn đề đặt ra là học sinh phải biết mình đang nói về vấn đề
gì?
Nôi dung có thể là những điều cần nói tới trong bài học, nói
đến những hiểu biết về đời sống xã hội , tự nhiên. Đặc biệt là những
nghi thức lời nói , những hiểu biết sâu rộng về nhiều mặt sẽ giúp cho
học sinh vững vàng trong khi nói, tự tin vào điều mình nói ra và cũng
vì thế khi nói , các em sẽ chủ động bình tĩnh và nói liền mạch hơn .

chỉ của giáo viên và hoạt động nghe của học sinh. Học sinh sẽ không
thể nói , không muốn nói trong điều kiện lớp học ồn ào hoặc có thái
độ không tôn trọng thể diện của ngời nói. Các em sẽ khó nói theo ý
mình , khó nói năng một cách gãy gọn khi các em biết mình đang
phải nói trớc ánh mắt nghiêm khắc của giáo viên . Vì vậy , khi cho
học sinh luyện nói , giáo viên cần hết sức chú ý tới hoạt động chung
về mọi mặt của lớp . Một lời động viên của thầy cô và sự lắng nghe
nghiêm túc của bạn bè sẽ là niềm động viên khích lệ các em.
Giáo viên cũng cần chú ý là khi các em đang nói có nghĩa là
các em đang giao tiếp với thầy cô và bạn bè thì việc ngắt lời của học
sinh và cả việc tiếp lời các em không đúng lúc , đúng chỗ là không
nên . Sự đứt mạch trong suy nghĩ sẽ làm các em lúng túng và có khi
không thể tiếp tục nối lại việc giao tiếp đợc . Sở dĩ nh vậy là vì việc
dành thời gian cho suy nghĩ của học sinh không nhiều hơn nữa , sự
nối mạch nói khi bị dừng lại đòi hỏi các em phải có trí nhớ tốt và sự
linh hoạt cao . Do đó chỉ khi sự thật cần thiết giáo viên mới dừng lời
nói của các em , tránh tình trạng một bài nói của học sinh phải dừng
lời 2, 3 lần.
d) Phải xác định đợc ngữ điệu của lời nói
Ngữ điệu có ảnh hởng tới lời nói, cần hớng dẫn học sinh khi tập
giao tiếp cần thể hiện ngữ điệu , chọn giọng nói phù hợp với tình
huống giao tiếp.
e) Phải sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ.
Để giao tiếp tốt , giáo viên cần chú ý hớng dẫn học sinh sử dụng
các yếu tố phi ngôn ngữ nh cử chỉ , nét mặt , điệu bộ.
4.4.Tích hợp với các phân môn Tiếng Việt và các môn học
khác
- Tích hợp với các phân môn Tiếng Việt
23


cùng những thái độ thể hiện phù hợp khi giao tiếp . Nói cách khác ,
môn Đạo đức chính là mô hình về cuộc sống thực tiễn để học sinh
vận dụng kiến thức tập làm văn của mình vào ứng xử .
Chẳng hạn , Bài 10 môn Đạo đức lớp 2 (Biết nói lời yêu cầu, đề
nghị) có đa ra 2 bài tập mang tính tình huống nh sau :
24


Bài 1: Trong giờ học vẽ , Nam muốn mợn bút chì của bạn Tâm .
Em hãy đoán xem Nam sẽ nói gì với Tâm .
Bài 5: Đóng vai trong các tình huống sau :
a) Em muốn bố mẹ đa đi chơi vào ngày chủ nhật .
b)Em muốn hỏi thăm chú công an đờng đến nhà một ngời quen
.
c) Em muốn nhờ em bé lấy hộ chiếc bút .
Khi học bài Đạo đức này, các em đã đợc học tiết Tập làm văn
" Tập nói câu mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị". Vì vậy, khi gặp lại bài tập
này trong môn Đạo đức, học sinh có cơ hội đợc rèn luyện lại kĩ năng
nói những câu dạng này. Đây là sự tích hợp mang lại hiệu quả cao

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status