Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK ở các trường tiểu học trên địa bàn quận liên chiểu thành phố đà nẵng - Pdf 35

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
------------------

BÙI THỊ NHƯ HUYỀN

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO
HỌC SINH MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ Ở CÁC TRƯỜNG
TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH SƯ PHẠM GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT

Đà Nẵng, tháng 6 năm 2011


2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
------------------

BÙI THỊ NHƯ HUYỀN

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO
HỌC SINH MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ Ở CÁC TRƯỜNG

Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề phát triển giao tiếp cho học sinh mắc hội
chứng tự kỷ
4
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu......................................................................4
1.2. Một số khái niệm cơ bản..............................................................................5
1.3. Đặc điểm chung của trẻ tự kỷ.....................................................................6
1.4. Những khó khăn trong giao tiếp của học sinh mắc hội chứng tự kỷ.........13
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp của HS mắc HCTK .....17
1.6. Vai trò của MT đối với sự phát triển giao tiếp của HS mắc HCTK..........20
1.7. Tiểu kết chương 1.......................................................................................23
Chương 2: Thực trạng phát triển kỹ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK tại các
trường tiểu học trên địa bàn Quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng các trường tiểu học
trên địa bàn quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng
25
2.1. Khái quát quá trình khảo sát.......................................................................25
2.2. Phân tích kết quả khảo sát...........................................................................27
2.3. Tiểu kết chương 2.......................................................................................47
Chương 3:Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK tại các
trường tiểu học trên địa bàn Quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng
48
3.1. Biện pháp phát triển KN giao tiếp cho HS mắc HCTK học hòa nhập…48
3.2. Khảo nghiệm tính khả thi và phù hợp của các biện pháp.........................62
3.3.Tiểu kết chương 3.......................................................................................62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

:
:
:
:

Giáo dục hoà nhập
Hội chứng Tự kỷ
Học sinh
Kế hoạch giáo dục cá nhân
Giáo viên
Dạy học hòa nhập
Phụ huynh HS
Trẻ khuyết tật
Trẻ tự kỷ
Giáo viên chủ nhiệm


6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng

Tên bảng

Trang

2.1

Danh sách GVCN và HS mắc HCTK


38
39
42

2.9

So sánh kĩ năng giao tiếp của Đoàn Anh Huy

43

3.1

Bảng xin ý kiến chuyên gia

62


7

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, HCTK đang là một vấn đề nóng bỏng trong xã hội và được xem là
một trong các dạng rối loạn tâm thần ở trẻ em. Tự kỷ là một dạng bệnh trong nhóm
rối loạn phát triển xâm nhập ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển của trẻ, nó
thể hiện bằng sự sút kém nghiêm trọng và lan tỏa các chức năng tâm thần trên các
phương diện: tương tác xã hội kém phát triển nghiêm trọng, ngôn ngữ phát triển
chậm và lệch lạc bất thường, hành vi và ứng xử nghèo nàn, định hình, lặp đi lặp
lại… Những hội chứng này làm cho trẻ không có khả năng hoà nhập cộng đồng.
Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của hội chứng này tới trẻ về mặt thể chất và
tinh thần là rất đáng ngại.

cận chưa phù hợp nên khả năng giao tiếp của trẻ còn thấp.
Chính vì những lí do nêu trên, chúng tôi nghiên cứu: “Biện pháp phát triển kĩ
năng giao tiếp cho HS mắc HCTK ở các trường tiểu học trên địa bàn Quận
Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm tìm hiểu thực trạng phát triển kĩ năng
giao tiếp cho HS mắc HCTK ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu
thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp phát triển kĩ năng giao
tiếp cho trẻ.
3. Khách thể và đối tuợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục hòa nhập cho HS mắc HCTK ở
tiểu học.
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc
HCTK ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng.
4. Giả thuyết khoa học
HS mắc HCTK gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp khi học hòa nhập.
Nếu GV biết sử dụng các chiến lược giao tiếp phù hợp với TTK; thường xuyên tổ
chức các trò chơi phát triển kĩ năng giao tiếp và động viên trẻ tham gia; xây dựng
vòng tay bạn bè; phối hợp với phụ huynh lập kế hoạch phát triển kĩ năng giao tiếp
cho trẻ tại gia đình,… thì sẽ phát triển được kỹ năng giao tiếp cho TTK, từ đó giúp
trẻ dễ dàng hòa nhập hơn.


9
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục hòa nhập cho HS mắc HCTK.
- Nghiên cứu thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK ở các
trường tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các biện pháp để phát triển kĩ năng giáo tiếp cho HS mắc HCTK ở


11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO
HỌC SINH MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp :
Giữ thế kỉ XIX, trong bản thảo Kinh tế - Triết học 1884, Các Mác (1818-1883)
đã bàn về nhu cầu xã hội giữa con người với con người trong hoạt động xã hội và
tiêu dùng, xã hội loại người phải giao tiếp thực sự với nhau. Mác chỉ ra rằng trong
sản xuất vật chất và tái tạo con người, buộc con người phải giao tiếp với nhau. Con
người chỉ trở thành con người khi có những quan hệ thực hiện với những người
khác, có giao tiếp trực tiếp với người khác.
Đến thế kỉ XX, vấn đề giao tiếp càng được các nhà triết học, tâm lý học, xã hội
học quan tâm nhiều hơn, Gmit (1863 -1931) đã đưa ra thuyết qua lại tượng trưng
ông khẳng định vai trò của giao tiếp đối với sự tồn tại của con người. Mác
Tinbubow (1876- 1965) trong một tác phẩm nổi tiếng của mình dưới nhan đề: “Tôi
và bạn” đã cho rằng tồn tại là đối thoại, sau trở thành nguyên tắc đối thoại, góp
phần phát triển lý luận về giao tiếp.
Nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của trẻ em ( A.V. Đapôrôdet, M.I.Lixina,
G.A.Uruntaeva,A.G.Ruxcaia,…) Theo đó, trong suốt lứa tuổi tiểu học hình thành
hai hình thức giao tiếp cơ bản: giao tiếp giữa trẻ em và người lớn và giao tiếp giữa
trẻ em với bạn cùng tuổi và khác tuổi. Dựa vào động cơ giao tiếp của trẻ M.I.Lixina
và một số tác giả đã hệ thống các dạng thức giao tiếp của trẻ em với người lớn và
giao tiếp của trẻ em với trẻ em [7].
Các tác giả Tara Winterton, David warden, Rae Pica quan tâm đến vấn đề hình
thành kĩ năng giao tiếp cho trẻ nhỏ. Họ đã chỉ ra những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng
đến sự phát triển giao tiếp của trẻ nhỏ như: hoàn cảnh, môi trường, gia đình, các

- Thiếu quan tâm và đáp ứng trong quan hệ xã hội.
- Rối loạn ngôn ngữ: Từ mức độ không có lời đến lời nói lập dị
- Hành vi, hành động dị thường: Từ mức độ chơi hạn chế, cứng nhắc cho đến
khuân mẫu hành vi phức tạp mang tính nghi thức và thúc ép
- Khởi phát sớm trước 30 tháng


13
Định nghĩa theo DSM-IV-TR: Tự kỷ nằm trong nhóm các rối loạn phát triển
lan toả (PDD: Pervasive Developmental Disorders): Là một nhóm Hội chứng được
đặc trưng bởi suy kém nặng nề và lan toả trong những lãnh vực phát triển: tương tác
xã hội, giao tiếp và sự hiện diện của những hành vi và các ham thích rập khuôn
[13].
Như vậy có nhiều khái niệm về TTK. Tuy nhiên các khái niệm này không đối
lập nhau mà bổ sung cho nhau để đưa đến khái niệm hoàn chỉnh về TTK.
Theo chúng tôi, HS mắc HCTK là những HS có những rối loạn phát triển lan
tỏa phức tạp ở những lĩnh vực sau: Tương tác xã hội, ngôn ngữ, hành vi định hình
lặp đi lặp lại, rối loạn cảm giác. Có 5 phân nhóm chuẩn đoán trong phổ Tự kỷ: Tự
kỷ điển hình, Hội chứng Aperger, Rối loạn Rett, rối loạn phân rã ở trẻ thơ, rối loạn
phát triển lan tỏa – không điển hình.
1.2.2. Kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên
ngoài và những biểu hiện tâm lí bên trong của đối tượng và bản thân của chủ thể
giao tiếp, là khả năng sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ,
biết cách tổ chức, điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giao tiếp.
1.2.3. Giáo dục hòa nhập
Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học
với trẻ bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống [1].
Trường Tiểu học hòa nhập là tổ chức giải quyết vấn đề đa dạng nhằm chú
trọng đến việc học của mọi trẻ. Mọi giáo viên, cán bộ, nhân viên trong nhà trường

quan: thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác, khứu giác, tiền đình và các giác quan
nhận cảm. TTK có những khó khăn trong việc cảm nhận giác quan, trẻ có thể thiếu
nhạy cảm hay quá nhạy cảm đối với một giác quan hay nhiều giác quan. So với trẻ
bình thường, ngưỡng cảm giác của trẻ có thể là quá cao hay quá thấp khiến cho trẻ
không thể tri giác chính xác sự vật, hiện tượng xung quanh hoặc tri giác quá khác
thường so với người bình thường. Điều này gây ra cho người tự kỷ khó khăn trong
việc xử lý thông tin từ môi trường. Khi sự cảm nhận bằng giác quan của trẻ chính
xác, trẻ có thể nhận thức tốt những gì mà chúng nhìn thấy, cảm thấy, hoặc nghe
thấy. Ngược lại, nếu như thông tin cảm giác được lĩnh hội sai lầm sẽ dẫn đến khó
hiểu hoặc hiểu biết sai của trẻ về thế giới.


15
Nhiều TTK có nhạy cảm cao đối với những âm thanh nhất định, cảm giác da,
vị giác, và mùi vị. Ví dụ, trẻ thấy cảm giác qua quần áo khi chạm vào da của chúng
gần như không thể chịu được. Một số âm thanh của máy hút bụi, tiếng chuông điện
thoại, thậm chí cả những âm thanh bình thường cũng có thể gây ra cho trẻ sự khó
chịu. Một số khác mất cảm giác đối với lạnh hay đau tột bậc như có thể trẻ bị gãy
một cánh tay mà không bao giờ khóc, có thể đầu đập mạnh vào tường mà trẻ không
phản ứng gì, nhưng chỉ một sự đụng chạm nhẹ của người khác vào một chỗ nào đó
trên cơ thể cũng có thể làm trẻ hét lớn,…
Những nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết là não của trẻ dường như không thể
tạo được sự cân bằng cho những cảm giác phù hợp. Từ những mô tả trên chúng ta
thấy, đây là một vấn đề có ảnh hưởng lớn đến quá trình học tập của trẻ. Theo khoa
học tâm lý, giác quan là đầu vào của mọi kiến thức và là nhân tố quan trọng của mọi
hoạt động trí tuệ, nếu con người có vấn đề về giác quan thì hoạt động trí tuệ khó có
thể diễn ra hoặc diễn ra theo chiều hướng không chính xác, như người bị khiếm
thính không thể nghe và suy nghĩ khi có một câu hỏi, người bị khiếm thị không thể
nhìn và đưa ra nhận xét một bức tranh. TTK không bị khiếm thính hay khiếm thị,
nhưng trẻ lại gặp một vấn đề rắc rối khác là giác quan của trẻ nhiều khi không phản

Theo Lorna Wing (1998), người bị bệnh tự kỷ rất khó nhìn nhận được ý nghĩa
của các sự việc đã trải nghiệm hoặc ít có khả năng “rút kinh nghiệm”, do đó mà
năng lực học tập và sử dụng thông tin trở nên yếu kém; phần lớn trẻ có trí nhớ “vẹt”
khá tốt và khả năng tri giác không gian vượt trội mà không cần nhờ vào khả năng
suy luận và biện giải. Có thể TTK không có khả năng kết hợp các loại thông tin từ
những sự kiện nhớ lại và từ những sự kiện hiện tại, không có khả năng hiểu được ý
nghĩa của những điều đã trải nghiệm để dự đoán những điều sẽ xảy ra và dự đoán kế
hoạch thực hiện. Theo sự đánh giá của hầu hết những nhà nghiên cứu về tự kỷ, trí
nhớ của TTK rất tốt và sâu sắc, nhưng độ liên kết giữa các ký ức trong trí nhớ lại rất
rời rạc, không có độ liên kết cao. Do đó trẻ khó có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa những
gì trong trí nhớ, khó khăn trong việc tổng kết, khái quát để đưa ra kết luận, rút kinh
nghiệm.
1.3.2. Hành vi
a) Hành vi gây phiền toái nơi công cộng
TTK thường ít quan tâm đến các chuẩn mực xã hội, muốn làm theo sở thích cá
nhân nên rất dễ có những hành vi trái ngược với sự mong đợi của người khác như:


17
la khóc khi người lớn không đáp ứng sở thích của trẻ, làm đổ một đống đồ khi vào
siêu thị, chụp nhanh những đồng tiền từ tay nhân viên, tự lấy đồ ở giỏ sách của
người khác, giật nhanh một món đồ chơi từ tay đứa trẻ bên cạnh,… mà không mắc
cỡ, ngượng ngùng. Nhưng theo các chuyên gia về TTK, dù trẻ có làm vậy đi nữa,
phụ huynh vẫn nên cho trẻ đến nơi công cộng, điều này giúp trẻ sống hòa nhập với
mọi người và lâu dài sẽ có lợi cho sự phát triển của trẻ. Hành vi gây phiền toái nơi
công cộng của TTK cho thấy, tính kém hòa nhập của TTK đối với cộng đồng, điều
này có liên quan tới khả năng ứng xử về mặt xã hội của TTK.
b) La hét, giận dữ
TTK có những sở thích, thói quen kỳ lạ nên trẻ thường ứng xử không đúng với
những chuẩn mực xã hội thông thường. Khi người lớn thấy vậy và ngăn chặn hành

chén, bát, xoong, chảo, dĩa nhưng hoàn toàn không thích đồ chơi bình thường. Với
những loại đồ vật này, trẻ tìm trong đó có một ý nghĩa thích thú nào đó mà người
lớn không biết. Tuy nhiên trẻ có thể chơi với những vật này trong nhiều ngày, nhiều
tháng mà không chán. Với sở thích này của TTK sẽ ảnh hướng tới sự tò mò, khám
phá, tìm hiểu thế giới xung quanh của trẻ.
f) Những hành vi liên quan khác
Những cá nhân bị tự kỷ cũng có thể phát triển những triệu chứng đa dạng khác
nhau, những rối loạn tinh thần xuất hiện bao gồm rối loạn tăng động kém chú ý
(ADHD), (chứng) loạn tâm thần, sự buồn chán, rối loạn ám ảnh cưỡng bức và
những rối loạn lo âu khác. Khoảng 25 phần trăm trẻ em và những thanh niên bị tự
kỷ phát triển những cơn co giật bất thường. Những cá nhân bị tự kỷ cũng có thể có
biểu hiện những hành vi phá phách. Trẻ có thể tấn công lại bản thân hay những
người khác.
1.3.3. Kĩ năng tương tác xã hội
Kĩ năng tương tác xã hội của TTK là rất kém. Điều này làm giảm khả năng
giao tiếp của trẻ rất nhiều vì môi trường xã hội là môi trường quan trọng để phát
triển các kĩ năng giao tiếp. Khó hoà nhập với các bạn khi đến trường. Trẻ ghét làm
theo ý người khác và thường chúng chống đối một cách quyết liệt. Chúng luôn
muốn mọi ý thích của mình được đáp ứng ngay lập tức. Vì vậy sự tương tác của trẻ
chỉ mang tính yêu cầu chứ không phải là nhằm để bày tỏ cảm xúc hay chia sẻ kinh
nghiệm.


19
Thực ra, các chứng tật về tướng tác xã hội ở TTK rất đa dạng và phức tạp,
nhưng đại thể ta có thể xếp vào 4 loại hình chính, tuy rằng không có một phạm vi rõ
rệt.
a) Nhóm đối tượng xa lánh mọi người
Những trẻ này thường có biểu hiện coi như mọi người không tồn tại. Khi có ai
gọi, trẻ không phản ứng, có ai nói với mình trẻ cũng không trả lời, trên khuôn mặt

cách ứng xử lễ độ và mang tính hình thức. Họ tỏ ra cố gắng trong các cách ứng xử,
và thường bám một cách cứng nhắc vào các nguyên tắc giao tiếp. Thực ra thì họ
không hiểu rõ các nguyên tắc này, vì thế trong các tình huống cần sự linh hoạt, biến
đổi đi chút ít thì họ dễ dàng phạm phải những sai lầm, nhiều khi rất sơ đẳng.
Trong các nhóm nhỏ hơn thì thường cho thấy việc không nắm vững các ý
nghĩa và cảm xúc của người khác, ngay cả khi các trẻ này muốn tỏ ra mình là người
tử tế và muốn giúp người khác.
1.3.4. Thể chất
TTK có sự phát triển thể chất theo đường lối rõ ràng như những trẻ bình
thường khác và phù hợp với lứa tuổi. Thậm chí giữa trẻ bình thường và TTK ta
không thể phân biệt được sự khác nhau về thể chất giữa hai trẻ này.
Không giống như các trẻ mắc các tật khác như: khiếm thính, khiếm thị...có
những đặc điểm nổi bật về sự phát triển thể chất khác với trẻ bình thường. Nguyên
nhân gây ra các khuyết tật này là do bẩm sinh hay di truyền ảnh hưởng tới não bộ
gây nên sự phát triển không bình thường về thể chất của trẻ.
Với TTK ngoài sự phát triển không bình thường về ngôn ngữ, hành vi và trí
tuệ thì thể chất của các em phát triển hoàn toàn bình thường. Đó là những đứa trẻ
nhìn bề ngoài không ai nói các em mang trong mình loại tật nào cả, và khi tiếp xúc
với các em ta mới phát hiện được sự không bình thường ở các em.
Vì vậy mà khi trưởng thành vẫn có khả năng lập gia đình và tìm kiếm việc
làm. Nhưng vì nhìn bề ngoài của họ bình thường nên người ngoài khó có thể chấp
nhận và thông cảm với khuyết tật của họ.
1.4. Những khó khăn trong giao tiếp của học sinh mắc HCTK


21
1.4.1. Khó khăn khi sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ của trẻ tự
kỷ
1.4.1.1.



22
1.4.1.2. Cử chỉ điệu bộ
Hầu hết những TTK đều có khó khăn trong ngôn ngữ biểu cảm. Đa số trẻ
không hiểu cũng không biết thể hiện ra ngoài những hành vi phi ngôn ngữ. Điều
này thể hiện khá rõ trong việc không giao tiếp bằng mắt và không biết lắc đầu để tỏ
vẽ không đồng ý, hay cái nhíu mày để thể hiện sự khó chịu. Trẻ không hiểu những
tín hiệu ngôn ngữ phụ như sự diễn tả bằng nét mặt và cử chỉ.
Thường thì TTK dường như không hiểu hoặc thậm chí không chú ý chút nào
và không ý thức được những cử chỉ mà người khác dùng để chỉnh đốn hành vi của
chúng. Cử chỉ, điệu bộ có thể là hình thức giao tiếp vô thức nhất sử dụng với trẻ để
giao tiếp một số thứ với “tín hiệu” cảm xúc khẳng định hoặc phủ định ở mức độ
cao. Những khó khăn trong việc tiếp nhận của trẻ thường đi kèm với việc không có
khả năng sử dụng cử chỉ để diễn tả suy nghĩ một cách rõ ràng.
Một số cử chỉ mang tính phổ biến như nét mặt thể hiện sự chán ghét, sự xấu
hổ, sự đồng cảm, nỗi buồn, sự thân ái ... HS mắc HCTK có vẻ không nhận được giá
trị xã hội của điều này, và vì thế thường không dùng những thể hiện mang tính giao
tiếp này. Dường như việc thiếu hụt sự định hướng bẩm sinh làm cho cử chỉ không
được sử dụng khi giao tiếp – bởi vì phần lớn HS mắc HCTK có thể thể hiện cảm
xúc phản ứng trên mặt chúng.
Đó giống như là một khiếm khuyết “thực sự” và gây ra rất nhiều khó khăn trong
việc học ngôn ngữ của TTK.
1.4.2. Khó khăn khi sử dụng ngôn ngữ
1.4.2.1. Giọng nói không có ngữ điệu
Khi TTK biết nói thì người ta khám phá thêm một tính chất khác biệt nữa là
giọng nói của những trẻ này không được tự nhiên. Gần như tất cả các TTK mà nói
được thì nói với giọng khác thường không lên giọng, xuống giọng. Một số trẻ giọng
cao giọng một cách bình thường và cũng không biến đổi trầm bổng. Nếu có sự thay
đổi thì nó lại lên xuống như hát một cách nhịp nhàng chứ không nhấn mạnh vào chữ
cần nhấn mạnh. Điều này cho thấy có lẽ TTK không hiểu được giọng nói có ý nghĩa

hoặc một đoạn bằng một từ đơn giản hơn. Thông thường, trong chứng nhại lời trì
hoãn, trẻ thường nghe được phần đầu của hội thoại có một chút gắn với điều được
nói. Trong một số tình huống, nhại lời trì hoãn thì quá khác biệt so với cái mà trẻ
bình thường làm.


24
Có khi trẻ chỉ lặp lại một số lời nói nó vừa nghe được mà không có một lý do
nào. Điều này cho thấy trẻ có khả năng nghe và giữ lời nói đó trong bộ nhớ ngắn
hạn đủ lâu để có thể nhắc lại. Vì thế, điều này có nghĩa là ở trẻ có tồn tại hai trong
số các cơ chế cần thiết để sử dụng ngôn ngữ. Thế nhưng trẻ có hiểu không? Có thể
không, hoặc có thể chỉ một phần.
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp của học sinh mắc Hội
chứng Tự kỷ
Học sinh mắc rối loạn tự kỷ gặp phải một số hạn chế trên thường do những trở
ngại về mặt sinh lí và tâm lí.
1.5.1. Những trở ngại về mặt sinh lí
TTK thường gặp phải vấn đề rối loạn khả năng xử lý thính giác(APD), còn
được gọi là rối loạn xử lý thính giác trung tâm (CAPD), khác với vấn đề bị điếc và
nghe kém do ở tai và thính giác.
Sự rối loạn xử lí thính giác làm cho trẻ có khó khăn trong việc truyền và nhận
thông tin, làm cho thông tin sai lệch, hoặc không đầy đủ, dẫn đến cản trở trong việc
giao tiếp của các em. Một rối loạn chức năng của hệ thống xử lý trung tâm chạy từ
tai lên não, khi hệ thần kinh trung ương có thể không giải mã được "nghĩa" chính
xác của âm thanh nghe được, sẽ cho kết quả nhầm lẫn, làm xa lánh xã hội, và thiếu
kỹ năng giao tiếp. Nhiều TTK được kiểm tra tai nghe vẫn bình thường, tai chuyển
tiếp âm thanh tới não, nhưng những thông tin ghi nhận không được tích hợp thành
công.
Sự thiếu hụt khả năng xử lý thính giác thường bị hiểu nhầm là trẻ thiếu trí
thông minh, lười biếng, sự thờ ơ, có vấn đề về đọc chữ và đánh vần. Kỹ năng giao

- Yêu cầu bạn phải lặp lại những gì bạn nói, đôi khi phải nhiều lần.
- Câu trả lời cho câu hỏi thường không phù hợp với nội dung câu hỏi.
- Thoát ra khỏi môi trường thực tế, mơ mộng hoặc đi vào một thế giới nội tâm.
- Nổi giận với môi trường đông đúc, nhộn nhịp, ồn ào; làm vô hiệu những
phòng học.
- Khó khăn trong việc xác định nơi xuất phát âm thanh.
- Khó khăn tham gia vào cuộc hội thoại dài hoặc đối thoại ngắn.
- Khó khăn trong việc học ngôn ngữ nước ngoài.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status