Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK ở các trường tiểu học trên địa bàn quận liên chiểu thành phố đà nẵng (TT) - Pdf 35

1

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO
HỌC SINH MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
SVTH: BÙI THỊ NHƯ HUYỀN
Lớp 07SDB, Khoa Tâm lí - giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
GVHD: TS. HUỲNH THỊ THU HẰNG
Khoa Tâm lí - giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng

MỞ ĐẦU
*Lý do chọn đề tài
Tự kỷ là một dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển xâm nhập ảnh hưởng
đến nhiều mặt của sự phát triển của trẻ.
HS mắc HCTK ở tiểu học là những HS có những “nét tự kỷ” học trong lớp hòa
nhập. Những HS này không được hưởng một phương pháp giáo dục phù hợp do các
giáo viên tiểu học chưa thực sự nắm rõ về dạng tật này và chưa có các kiến thức về
dạy học hòa nhập cho TTK.
Bên cạnh đó, những HS mắc HCTK này còn gặp rất nhiều khó khăn do HCTK
mang lại, đặc biệt là vấn đề khó khăn trong giao tiếp. Điều này gây trở ngại rất lớn
trong việc kết bạn, quan hệ xã hội, tham gia các hoạt động vui chơi, học tập của trẻ
dẫn đến trẻ trở nên lạc lõng, chán học và bỏ học…
Tại Quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng , một số TTK đã được học hoà nhập. Tuy
nhiên, giáo viên và gia đình chưa biết quan tâm, khai thác những nhu cầu giao tiếp
ở trẻ, nếu có thì cũng không thường xuyên, phương pháp tiếp cận chưa phù hợp nên
khả năng giao tiếp của trẻ còn thấp.
Chính vì những lí do nêu trên, chúng tôi nghiên cứu: “Biện pháp phát triển kĩ
năng giao tiếp cho HS mắc HCTK ở các trường tiểu học trên địa bàn Quận
Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng”.
*Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK ở các

phẩm, lấy ý kiến chuyên gia.
* Cấu trúc của đề tài
Đề tài dài 75 trang, bao gồm mở đầu, nội dung và kết luận, với 10 bảng. Ngoài
ra, đề tài còn có 2 phụ lục, 14 sách và tài liệu tham khảo.
NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận về vấn đề phát triển giao tiếp cho HS mắc Hội chứng Tự kỷ
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Hội chứng Tự kỷ
HS mắc HCTK là những HS có những rối loạn phát triển lan tỏa phức tạp ở
những lĩnh vực sau: Tương tác xã hội, ngôn ngữ, hành vi định hình lặp đi lặp lại, rối
loạn cảm giác. Có 5 phân nhóm chuẩn đoán trong phổ Tự kỷ: Tự kỷ điển hình, Hội
chứng Aperger, Rối loạn Rett, rối loạn phân rã ở trẻ thơ, rối loạn phát triển lan tỏa –
không điển hình.
1.2.2. Kĩ năng giao tiếp


3
Kĩ năng giao tiếp là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên
ngoài và những biểu hiện tâm lí bên trong của đối tượng và bản thân của chủ thể
giao tiếp, là khả năng sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ,
biết cách tổ chức, điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giao tiếp.
1.2.3. Giáo dục hòa nhập
Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học
với trẻ bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống [1].
1.3. Đặc điểm chung của trẻ tự kỷ
1.3.1. Nhận thức
TTK có những mức độ nhận thức hết sức khác nhau từ chậm phát triển nặng,
trung bình đến nhẹ, thậm chí có cả những tài năng, thần đồng về học tập cũng bị tự
kỷ. Tuy nhiên, phần lớn TTK bị chậm phát triển trí tuệ.

khác nhau, những rối loạn tinh thần xuất hiện bao gồm rối loạn tăng động kém chú
ý (ADHD), (chứng) loạn tâm thần, sự buồn chán, rối loạn ám ảnh cưỡng bức và
những rối loạn lo âu khác.
1.3.3. Kĩ năng tương tác xã hội
Kĩ năng tương tác xã hội của TTK là rất kém. Điều này làm giảm khả năng
giao tiếp của trẻ rất nhiều vì môi trường xã hội là môi trường quan trọng để phát
triển các kĩ năng giao tiếp. Chúng ta có thể xếp các chứng tật về tương tác xã hội
vào 4 loại hình chính, tuy rằng không có một phạm vi rõ rệt:
- Nhóm đối tượng xa lánh mọi người
- Nhóm đối tượng bị động
- Nhóm đối tượng hoạt động kỳ hoặc
- Nhóm đối tượng quá hình thức, khoa trương
1.3.4. Thể chất: TTK có sự phát triển thể chất giống như những trẻ bình thường
khác.
1.4. Những khó khăn trong giao tiếp của học sinh mắc HCTK
1.4.1. Khó khăn khi sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ của trẻ tự
kỷ
1.4.1.1.

Thiếu sự tương tác mắt:

Giao tiếp bằng mắt kém làm ảnh hưởng tới giao tiếp xã hội và khả năng bắt
chước lời nói. Vì vậy, mà TTK thường gặp khó khăn trong giao tiếp đặc biệt trong
việc phát âm cũng như trong việc sử dụng lời nói. Điều này làm cho TTK khó khăn
khi tham gia xã hội, trẻ trở nên lạc lõng và xã hội cũng trở nên khó hiểu đối với
chúng.
1.4.1.2. Cử chỉ điệu bộ
Đa số TTK không hiểu và cũng không biết thể hiện ra ngoài những tín hiệu
ngôn ngữ phụ như sự diễn tả bằng nét mặt và cử chỉ. Đó giống như là một khiếm
khuyết “thực sự” và gây ra rất nhiều khó khăn trong việc học ngôn ngữ của TTK.

nhắc lại, nói theo cách khác, thúc giục trẻ...Và khi làm như vậy vô hình chung
chúng ta càng làm cho trẻ rối trí hoặc ức chế hơn.
1.5.2. Những trở ngại về mặt tâm lí
Những trở ngại về mặt sinh lí khiến trẻ cảm thấy không tự tin trong quá trình
giao tiếp dẫn đến trẻ thường thụ động trong quá trình giao tiếp. Thêm vào đó, những
người xung quanh không hiểu những khó khăn đó, không cảm thông, kì thị, xa lánh,
… khiến cho trẻ ngày càng mặc cảm, tự ti, thiếu niềm tin vào người khác,…. Từ đó,
trẻ dần rút vào “vỏ tự kỷ”, thích sự cô lập, tránh giao tiếp với các bạn.Điều này
khiến cho quá trình giao tiếp của trẻ vốn khó khăn lại càng khó khăn hơn.
1.6. Vai trò của môi trường đối với sự phát triển giao tiếp của học sinh mắc Hội
chứng Tự kỷ
* Môi trường gia đình
Gia đình là nơi hình thành và phát triển những kĩ năng giao tiếp đầu tiên cho
trẻ. Gia đình đóng một vai trò thiết yếu và không thể thiếu trong việc thực hiện việc
hỗ trợ cho trẻ hòa nhập cộng đồng. Và hơn ai hết, các bậc phụ huynh là những
người mong đợi sự phát triển của con mình nhất. Chính họ sẽ là người kiên trì theo
đuổi, phấn đấu đến cùng cho sự phát triển và tương lai của con mình.


6
* Môi trường lớp học
- Tình bạn là yếu tố vô cùng quan trọng đối với lòng tự trọng và là thước đo để trẻ
có thể tự đánh giá bản thân mình. Trong mối quan hệ bạn bè, trẻ khao khát muốn trở thành
đối tượng chú ý và đánh giá của bạn cùng tuổi. Vì vậy, trẻ sẽ luôn cố gắng hết mình để
khẳng định bản thân. Tuy nhiên, nếu trẻ thường xuyên bị thua kém bạn và bạn không tôn
trọng trẻ thì trẻ sẽ có cảm giác bị bỏ rơi, nảy sinh tính không cởi mở, tính thụ động, tính
thù hằn… Vì vậy khi xây dựng vòng bạn bè cho trẻ thì phải chọn lựa những trẻ có thái độ
tốt , thông cảm, mong muốn giúp đỡ bạn yếu hơn,… để làm những người hỗ trợ đồng
đẳng.
- GV có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nhân cách nói chung và kĩ

- Tìm hiểu những cách thức mà GV đã sử dụng để phát triển kĩ năng giao tiếp
cho những HS mắc HCTK
2.1.3. Nội dung khảo sát
- Thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK (nhận thức của
GV về những khó khăn trong giao tiếp của HS mắc HCTK; về vai trò của việc phát
triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK; về môi trường giáo dục tốt nhất cho trẻ;
mục tiêu, nội dung, cách thức GV tiến hành các biện pháp để phát triển kĩ năng giao
tiếp cho TTK; kì vọng của GV vào sự tiến bộ của trẻ; khó khăn trong giao tiếp của
TTK)
2.1.4. Phương pháp khảo sát: quan sát, nghiên cứu sản phẩm, phỏng vấn
2.1.5. Khách thể khảo sát: 7 GV CN và 8 HS mắc HCTK
2.2. Phân tích kết quả khảo sát
2.2.1. Thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh mắc Hội chứng Tự kỷ
thông qua phân tích các trường hợp
a) Trường hợp 1: Cô Hoàng Thị Lan, GVCN của HS mắc HCTK Nguyễn Thành
Anh Đức
Việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ đã được GV quan tâm. Tuy GV chưa
có kế hoạch rõ ràng, cụ thể để giúp đỡ trẻ nhưng các biện pháp được tiến hành phù
hợp và đã mang lại những hiệu quả nhất định cho trẻ. Nếu GV đề ra được những
mục tiêu cụ thể để phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ trong từng tháng và tiến hành
những biện pháp trên một cách có đường hướng, chi tiết hơn thì trẻ sẽ tiến bộ hơn
rất nhiều.
b) Trường hợp 2: Cô Hà Thị Thủy, GVCN của HS mắc HCTK Phan Duy Hoàng
GV chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển kĩ năng giao tiếp
cho trẻ, các biện pháp can thiệp chung chung, không cụ thể rõ ràng.
c) Trường hợp 3: Cô Dương Thị Tuyết, GVCN của HS mắc HCTK Nguyễn Hữu
Dũng
GV đã nhận thức được những khó khăn của trẻ trong giao tiếp. Tuy nhiên,GV
khá thờ ơ và không quan tâm đến sự phát triển về mọi mặt của trẻ. Như vậy, trẻ
không có được một môi trường giao tiếp thuận lợi từ GV, gia đình, bạn bè. Mọi

Chính vì vậy mà giao tiếp của trẻ bị chững lại và không phát triển được.
Nguyên nhân là do GV chưa hiểu trẻ, chưa nắm được nhu cầu, mong muốn
của trẻ nên phương pháp tiếp cận chưa phù hợp, chưa bám được vào sở thích của trẻ
nên không thể kích thích nhu cầu giao tiếp của trẻ. Nếu GV làm được diều đó thì
chắc chắn trẻ sẽ dễ dàng hòa nhập với các bạn hơn
2.2.3. Nhận định chung về thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh
mắc Hội chứng Tự kỷ
- Tất cả các GV đã nhận thức được những khó khăn trong giao tiếp của những
HS mắc HCTK. Một số GV đã nhận thức đúng về vai trò của việc phát triển kĩ năng
giao tiếp cho trẻ. Và thực tế cho thấy HS mắc HCTK trong lớp của những GV đó đã
có những tiến bộ về mặt giao tiếp làm tiền đề cho những tiến bộ trong học tập như
em Thuận, Phương, Đức, Nguyên.
- Một số GV đã có những biện pháp phù hợp để phát triển kĩ năng giao tiếp
cho trẻ. Tuy nhiên, mức độ thực hiện của các GV là khác nhau. Mặc dù nhận thức
đúng về cách thức tiến hành nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả cao vì các GV chưa thật
sự hiểu trẻ, các biện pháp còn chung chung, chưa rõ ràng về mục tiêu. Việc triển
khai các biện pháp chưa được thực hiện một cách có khoa học.
- Đa số GV đều đồng ý rằng môi trường giáo dục hòa nhập là môi trường phát
triển giao tiếp tốt nhất cho trẻ.


9
- Kĩ năng giao tiếp của một số trẻ trong hơn một năm qua đã có những tiến bộ
nhưng vẫn còn ở mức thấp. Nguyên nhân chính là do GV và gia đình chưa biết quan
tâm, khai thác những nhu cầu giao tiếp ở các em. Đặc biệt việc giao tiếp với các em
không thường xuyên, các phương pháp tiếp cận còn chưa có mục tiêu rõ ràng, cụ
thể nên khả năng giao tiếp của các em còn thấp.
Nguyên nhân của thực trạng trên là do tất cả các GV đều chưa được tham gia
các lớp tập huấn về giáo dục hòa nhập cho HS mắc HCTK, chưa được cung cấp
những tài liệu về việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho TTK. Ngoài ra còn phải kể



10
bạn, không biểu lộ thái độ khi giao tiếp với bạn, không kiểm tra chia sẻ với bạn, bạn
nên sử dụng chiến lược giao tiếp không lời.
* Khoảng cách giao tiếp: Ở gần trẻ để trẻ cảm nhận và ý thức được sự hiện
diện của bạn rồi hãy truyền đạt với trẻ những gì bạn muốn, một cách chậm rãi.
3.1.2. Xác định nhiệm vụ chơi, nội dung chơi phù hợp với khả năng và nhu cầu
của HS mắc HCTK khi tổ chức hoạt động chơi cho tập thể.
Ý nghĩa giáo dục: Việc lôi kéo trẻ tham gia trò chơi bằng cách xác định nhiệm
vị chơi và nội dung chơi phù hợp sẽ giúp trẻ:
- Khắc phục tình trạng rụt rè, ngại giao tiếp; giúp trẻ trở thành thành viên tích
cực trong lớp.
- Giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, cư xử có văn hóa
- Giúp trẻ phát huy các mặt mạnh và loại bỏ dần những khiếm khuyết của bản
thân.
Nội dung: Khi tổ chức các trò chơi tập thể cần xác định vị trí, vai của HS mắc
HCTK trong trò chơi. Việc xác định vị trí của trẻ trong trò chơi cần dựa vào những
yếu tố sau: những đánh giá về khả năng, nhu cầu của trẻ; mức độ khuyết tật của trẻ;
tình trạng sức khỏe; điều kiện vật chất, thời gian và không gian; sở thích và năng
khiếu của trẻ
Cách tiến hành: Lên kế hoạch trò chơi cho cả lớp, trong đó cần xác định cụ thể
nhiệm vụ, nội dung chơi phù hợp dành riêng cho trẻ TK
3.1.3. Xây dựng vòng bạn bè
*Ý nghĩa giáo dục
- Đối với HS mắc HCTK: HS mắc HCTK học với trẻ bình thường nảy sinh
tâm lí, mặc cảm, tự ti, nhút nhát, rụt rè, những HS bình thường sẽ giúp các em xóa
đi mặc cảm đó giúp các em có một cuộc sống tốt đẹp hơn, dễ hòa nhập hơn .
- Đối với trẻ bình thường: khi giúp đỡ HS mắc HCTK sẽ giúp HS bình thường
có cơ hội khắc sâu kiến thức, giúp những HS này sống tình cảm và có trách nhiệm

*Ý nghĩa giáo dục:
Phụ hynh đóng một vai trò thiết yếu và không thể thiếu trong việc thực hiện
việc hỗ trợ cho trẻ hòa nhập. Đồng thời, phụ huynh là người hợp tác cần thiết nhất
trong mọi kế hoạch, hoạt động phát triển dành cho trẻ. Họ chính là người hiểu trẻ
nhất, vì là người luôn chăm sóc và gần gũi con mình. Và hơn ai hết, các bậc phụ
huynh là những người mong đợi sự phát triển của con mình nhất, đặc biệt là những
sự phát triển về mặt giao tiếp và ngôn ngữ, là những cột mốc phát triển có thể giúp
họ hiểu và tương tác với con mình. Chính họ sẽ là người kiên trì theo đuổi, phấn
đấu đến cùng cho sự phát triển và tương lai của con mình.
* Nội dung:
- Nâng cao nhận thức cho phụ huynh về vai trò của gia đình trong việc phát
triển giao tiếp cho trẻ
- Hướng dẫn gia đình cách hỗ trợ trẻ khi ở nhà.
* Cách tiến hành:
- GV cần giúp phụ huynh hiểu đúng và nhận thức đúng về vai trò của họ trong
trong quá trình phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ
- GV tìm hiểu một số vấn đề ban đầu về trẻ và gia đình, đồng thời giúp phụ
huynh có một phần nhận định được tính chất nghiêm túc của việc phát triển kĩ năng
giao tiếp và thấy được tình trạng của trẻ vào thời điểm đó.


12
- Đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với phụ huynh, đặc biệt là việc thực hiện
các hoạt động phát triển kĩ năng giao tiếp cho một cách kiên nhẫn, hợp tác và
thường xuyên.
- Giữ sự liên hệ, tương tác thường xuyên với phụ huynh
- Thường xuyên cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực phát
triển giao tiếp cho TTK. Người giáo viên cần biên tập lại các thông tin này sao cho
thật dễ hiểu và gần gũi với phụ huynh.
- Cùng phụ huynh lập kế hoạch cho các mục tiêu phát triển của trẻ.

13
chúng tạo nên những tác động tổng hợp và đồng bộ đến quá trình phát triển kĩ năng
giao tiếp cho TTK.
Kết quả khảo nghiệm cho thấy các biện pháp mà đề tài xây dựng đều phù hợp
và mang tính khả thi cao.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn, chúng tôi rút ra được một số kết
luận sau:
Khó khăn về giao tiếp là một tính chất căn bản của HCTK. Những HS mắc
HCTK khó khăn cả về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Nguyên nhân là do trẻ
bị rối loạn khả năng xử lí thính giác khiến cho trẻ khó kết nối thông tin và thiếu khả
năng khái quát dẫn đến ngôn ngữ bị hạn chế. Những trở ngại về mặt sinh lí đó khiến
trẻ cảm thấy không tự tin trong quá trình giao tiếp dẫn đến trẻ thường thụ động
trong quá trình giao tiếp. Thêm vào đó, những người xung quanh không hiểu những
khó khăn đó, không cảm thông, kì thị, xa lánh,… khiến cho trẻ ngày càng mặc cảm,
tự ti, thiếu niềm tin vào người khác,…. Từ đó, trẻ dần rút vào “vỏ tự kỷ”, thích sự
cô lập, tránh giao tiếp với các bạn. Điều này khiến cho quá trình giao tiếp của trẻ
vốn khó khăn lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu những khó khăn
đó và tạo ra được một môi trường giao tiếp thân thiện, tích cực để hỗ trợ trẻ khắc
phục những khó khăn trên thì trẻ sẽ dễ dang hòa nhập cộng đồng hơn.
- Kết quả khảo sát cho thấy việc rèn luyện và phát triển kĩ năng giao tiếp cho
HS mắc HCTK học hòa nhập đã được quan tâm nhưng vẫn chưa đúng mức, kĩ năng
giao tiếp của một số HS mắc HCTK đã có tiến bộ nhưng vẫn còn ở mức độ thấp.
Công tác tổ chức các hoạt động phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ chưa có đường
hướng rõ ràng nên chưa thực sự hiệu quả.
- Từ những nghiên cứu lí luận và thực tiễn, chúng tôi đề xuất một số biện pháp
phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK. Đó là: Sử dụng các chiến lược giao
tiếp phù hợp với HS mắc HCTK; Xác định nhiệm vụ chơi, nội dung chơi cho TTK

* Đối với giáo viên
- Thường xuyên nâng cao kiến thức, kỹ năng, phương pháp nhằm giúp đỡ
phần nào HS mắc HCTK, quan tâm nhiều hơn nữa đến HS này, xây dựng vòng tay
bạn bè, đôi bạn cùng tiến, luôn khuyến khích trẻ khi có những tiến bộ dù chỉ nhỏ
nhất.
- GV nên thiết lập và thực hiện tốt hơn KHGDCN cho HS mắc HCTK, đặc
biệt quan tâm đến việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho TTK
* Đối với phụ huynh HS
- Thường xuyên cập nhật thông tin về cách nuôi dạy chăm sóc TTK.
- Thành lập hội phụ huynh có con bị mắc HCTK để có thể trao đổi thông tin,
kinh nghiệm về cách nuôi dạy TTK.
- Phối hợp với GV trong việc GD trẻ. Cần hình thành những kĩ năng cần thiết
tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và phát triển nhân cách của trẻ.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status