ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỰ ĐÁNH GIÁ
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Hà Nội, ngày 07 tháng 11 năm 2005
KT. Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ
Phó Hiệu trưởng, Chủ tịch Hội đồng tự đánh giá
HÀ NỘI, 11.2005
CHÚ THÍCH MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT
ACM
: Association for Computing Machinery (Mỹ)
Bộ GD&ĐT
: Bộ Giáo dục và Đào tạo
CN
: Cử nhân
CNTT
HĐKH&ĐT
: Hội đồng Khoa học và Đào tạo
IEEE
: Institute of Electrical and Electronics Engineers, Inc.
IS
: Information Science
IT
: Information Technology
Phòng ĐTĐH
: Phòng Đào tạo đại học
Phòng TCCB&CTSV
: Phòng Tổ chức cán bộ và Công tác sinh viên
PGS
: Phó Giáo sư
SE
TTĐBCL
: Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu
phát triển giáo dục, ĐHQGHN
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (2/125)
A. GIỚI THIỆU CHUNG
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ TRƯỜNG
1. Tên trường: Trường Đại học Công nghệ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
(Tên tiếng Anh: College of Technology, Vietnam National University, Hanoi)
2. Tên viết tắt: Trường ĐHCN
(Tên viết tắt tiếng Anh: COLTECH)
3. Tên trước đây: Không
(đơn vị tiền thân: Khoa Công nghệ trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội)
4. Cơ quan chủ quản: Đại học Quốc gia Hà Nội
5. Địa chỉ trường: 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội
6. Số điện thoại liên hệ: 84.4.7547461
e-mail:
Số fax: 84.4.7547460
Website: />
7. Năm thành lập trường: Trường Đại học Công nghệ được thành lập theo Quyết định
số 92/2004/TTg ngày 25 tháng 5 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
II. THÔNG TIN CHUNG VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
8. Tên chương trình: Cử nhân công nghệ ngành Công nghệ thông tin
9. Tên viết tắt: Không có
10. Tên trước đây: Cử nhân ngành Tin học (mã số 01-02.10)
11. Khoa thực hiện chương trình: Khoa Công nghệ thông tin
thực hiện tại Khoa Toán - Cơ - Tin học, Trường ĐHTHHN. Chương trình này là
phiên bản hoàn chỉnh đầu tiên, khởi thủy Chương trình đào tạo CNTT hiện nay.
Thực hiện kế hoạch của Nhà nước về việc thành lập 7 khoa CNTT trọng điểm
[C1.1.8.17], Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đã ra quyết định thành lập Khoa
CNTT của Trường ĐHTHHN thuộc ĐHQGHN vào ngày 22-2-1995. Đây là mốc
lịch sử đánh dấu sự phát triển vượt bậc việc đào tạo CNTT trong ĐHQGHN. Tại
thời điểm đó, chương trình đào tạo ngành CNTT của Khoa CNTT gồm hai giai
đoạn, giai đoạn 1 (3 học kỳ đầu) là phần chung cho nhóm ngành 1, giai đoạn 2 (5
học kỳ) là giai đoạn đào tạo kiến thức ngành và chuyên ngành. Tháng 1-1998, Khoa
CNTT bắt đầu thực hiện chương trình đào tạo ngành CNTT (giai đoạn 2) đối với
sinh viên lớp K41C khóa 41 (1996-2000) [CN1.1.8.18, CN3.1.2.3]. Tại Khoa
CNTT (sau đó là tại khoa Công nghệ), tiến hành song song hai ngành đào tạo về
lĩnh vực CNTT là ngành Tin học (mã số 01-02-10) và ngành CNTT (chưa có mã số)
trong 6 khóa đào tạo (K41 - K46).
Từ năm 2002, ĐHQGHN không tuyển sinh đại học ngành Tin học nữa và do đó, từ
năm 2005 Trường ĐHCN chỉ còn đào tạo đại học ngành CNTT với bốn chuyên
ngành là Khoa học máy tính, Các hệ thống thông tin, Mạng và Truyền thông máy
tính, Công nghệ phần mềm.
Cũng từ năm 2002, thông qua việc tìm hiểu và phân tích các chương trình đào tạo
CNTT tiên tiến trên thế giới [CN1.1.8.11 – CN1.1.8.16], nhà trường từng bước đưa
các nội dung hiện đại nhất vào chương trình đào tạo CNTT của trường theo phương
châm đảm bảo tính hiện đại và tính thực tiễn [CN1.1.6.1, CN1.1.6.2].
Từ 2002 đến nay, thực hiện Kế hoạch triển khai soạn thảo chương trình khung cho
các ngành đào tạo ở trình độ đại học và cao đẳng, Hội đồng nhóm ngành CNTT của
Bộ GD&ĐT đã tiến hành xây dựng và đang hoàn thiện chương trình đào tạo 5
ngành thuộc nhóm ngành CNTT là Khoa học máy tính, Hệ thống thông tin, Mạng
máy tính và Truyền thông, Công nghệ phần mềm và Kỹ thuật máy tính [CN0.11].
Về cơ bản, nội dung trong chương trình đào tạo CNTT của Trường ĐHCN đã được
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (4/125)
Trung tâm
nghiên cứu và
phát triển Công
nghệ phần mềm
Trung tâm
Nghiên cứu
ĐT-VT
Trung tâm Sinh
học phân tử
Trung tâm
Máy tính
Phòng TCCB,
CTCT - CTSV
Hình 1. Sơ đồ tổ chức hành chính của Trường Đại học Công nghệ
Tổ chức hành chính của Trường ĐHCN theo mô hình chung của một trường thành
viên trong ĐHQGHN [C1.1.1.2] gồm 4 khoa đào tạo, 3 trung tâm nghiên cứu, trung
tâm máy tính và 5 phòng chức năng (Hình 1). Lãnh đạo Nhà trường là Hiệu trưởng
và các Phó Hiệu trưởng. HĐKH&ĐT trường tư vấn cho Hiệu trưởng về công tác
đào tạo và nghiên cứu khoa học [CN1.1.1.2, CN1.1.8.19]. Theo kế hoạch, đến năm
2006, Khoa Công nghệ Sinh học phân tử thuộc Trường ĐHCN sẽ được thành lập
trên cơ sở phát triển Trung tâm Công nghệ sinh học phân tử hiện nay.
b) Cơ cấu tổ chức hành chính của Khoa Công nghệ thông tin
Hiện tại, Khoa CNTT gồm 5 Bộ môn và Phòng thực hành CNTT (Hình 2). Ngoại
trừ Bộ môn Các phương pháp toán trong công nghệ, mỗi bộ môn trong Khoa chịu
trách nhiệm một chuyên ngành đào tạo thuộc ngành CNTT. Phòng thực hành CNTT
chịu trách nhiệm giảng dạy thực hành môn Tin học cơ sở cho sinh viên toàn trường
thông tin
Bộ môn
Mạng
máy tính
và
Truyền
thông
Bộ môn
Công
nghệ
phần
mềm
Phòng
thực
hành
CNTT
Hình 2. Sơ đồ tổ chức hành chính của Khoa Công nghệ thông tin
19. Cán bộ quản lý chủ chốt của trường quản lý chương trình
Danh sách cán bộ quản lý chủ chốt của trường thực hiện chức năng quản lý chương
trình đào tạo này có 13 người, gồm Hiệu trưởng, một Phó Hiệu trưởng, Lãnh đạo
Phòng ĐTĐH, Lãnh đạo Phòng TCCB&CTSV, Ban chủ nhiệm Khoa CNTT và các
Chủ nhiệm bộ môn của Khoa CNTT (Phụ lục 3, Bảng 1). Tất cả cán bộ quản lý chủ
chốt đều có trình độ trên đại học (10 TS và 3 ThS) trong đó có 1 GS và 5 PGS.
20. Danh sách giảng viên tham gia thực hiện chương trình
Tại thời điểm tự đánh giá, Khoa CNTT có 57 giảng viên (41 cơ hữu, 1 kiêm nhiệm
và 15 thực tập sinh) tham gia thực hiện chương trình đào tạo ngành CNTT gồm 2
chương trình đào tạo CNTT tiên tiến. Mặt khác, đa số giảng viên trình độ cao là lớn
tuổi (tuổi trung bình các GS., PGS. là 62) và ngành gốc là Toán học.
22. Tổng số thí sinh thi tuyển và được trúng tuyển vào chương trình đào tạo
Số lượng thí sinh thi tuyển (từ 1500 đến 2350) và trúng tuyển (từ 270 đến 320)
ngành CNTT Trường ĐHCN năm năm gần đây được trình bày tại Bảng 2 Tiêu chí
3.1. Do danh tiếng của Khoa CNTT mà thí sinh đăng ký dự thi dù số lượng không
nhiều song chất lượng cao nên điểm chuẩn tuyển sinh vào ngành CNTT Trường
ĐHCN luôn vào loại cao nhất nước.
23. Số lượng sinh viên quốc tế theo học chương trình đào tạo CNTT
Có 4 sinh viên nước ngoài đã theo học đại học chính quy ngành CNTT gồm 3 sinh
viên Cămpuchia (lớp K41C), 1 sinh viên Mông Cổ (lớp K43C) đã học và tốt nghiệp
[CN3.1.2.3]. Sinh viên Chy Ty (lớp K41C) sau khi tốt nghiệp đại học được chuyển
tiếp Cao học và đã bảo vệ luận văn Thạc sỹ vào năm 2003.
24. Thành tích nghiên cứu khoa học của sinh viên
Thống kê thành tích sinh viên nghiên cứu khoa học trong giai đoạn 2001-2005 có
trong Phụ lục 4. Đáng kể nhất là các nghiên cứu khoa học của nhóm Vương Vũ
Thắng (K42T) đạt giải nhất cuộc thi Trí tuệ Việt Nam năm 2001, nhóm Bùi Quang
Minh (K42T), Trần Quốc Long (K43C) đạt giải nhì VIFOTEC sinh viên toàn quốc
năm 2001, nhóm Nguyễn Hòa Bình (K44C) đạt giải ba cuộc thi Trí tuệ Việt Nam
năm 2000 và Quả cầu vàng CNTT năm 2003...
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (7/125)
25. Tổng số đầu sách trong thư viện của trường/khoa phục vụ chương trình đào tạo
Nguồn tài liệu giảng dạy phục vụ chương trình đào tạo có tại Trung tâm TT-TV
ĐHQGHN và tại Trường ĐHCN.
Trung tâm TT–TV ĐHQGHN có đầy đủ các đầu tài liệu giảng dạy đối với khối kiến
thức chung, khối kiến thức cơ bản của nhóm ngành cho sinh viên Trường ĐHCN
(nói chung) và Khoa CNTT (nói riêng). Do kinh phí mua tài liệu giảng dạy khối
Đề án thành lập Trường ĐHCN đặt ra mục tiêu "Phấn đấu xây dựng Trường
Đại học Công nghệ nhanh chóng trở thành trường đại học đạt trình độ tiên tiến trong
khu vực". Quản lý chất lượng bên trong (bao gồm Tự đánh giá) và đánh giá ngoài là
hai nội dung cơ bản của kiểm định chất lượng đối với mỗi cơ sở. Đại học Quốc gia Hà
Nội đã tiến hành một số bước đi nhằm thúc đẩy công tác kiểm định chất lượng trong
quá trình tiến tới mục tiêu đạt chất lượng khu vực và thế giới [CN0.12-13]. Nhận thức
vai trò của Trường ĐHCN trong công tác kiểm định chất lượng của ĐHQGHN, Nhà
trường đã đề ra phương hướng và tổ chức thực hiện một số công tác cụ thể đối với
công tác quan trọng này [CN0.14-17]. Đại hội Đảng bộ Trường ĐHCN nhiệm kỳ
2005-2008 đã xác định chỉ tiêu "Phấn đấu tới năm học 2007-2008 nhà trường được
công nhận là cơ sở giáo dục đạt chất lượng kiểm định cấp độ 3, mỗi khoa có ít nhất
một bộ môn được công nhận đạt trình độ khu vực" [C0.15].
Lĩnh vực hoạt động của Trường ĐHCN bao gồm ngành Công nghệ Thông tin,
những ngành công nghệ tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự phát triển Công nghệ
Thông tin đồng thời sử dụng những thành tựu của Công nghệ Thông tin, và những
chuyên ngành khoa học công nghệ là thành quả của sự kết hợp Công nghệ Thông tin
với các ngành khoa học tự nhiên khác [CN0.7]. Đưa chất lượng đào tạo CNTT của
Trường ĐHCN đạt trình độ khu vực và thế giới là bước đi nền tảng và thiết yếu của
quá trình tiến tới mục tiêu xây dựng Trường ĐHCN đạt trình độ tiên tiến trong khu
vực.
Thực hiện chỉ đạo và hướng dẫn của ĐHQGHN [CN0.13], Hội đồng tự đánh giá
chương trình đào tạo ngành CNTT Trường ĐHCN và nhóm chuyên trách đã được
thành lập [CN0.16]. Công việc tự đánh giá là rất mới đối với mọi thành viên trong Hội
đồng tự đánh giá và Nhóm chuyên trách, các cán bộ tham gia chưa có kinh nghiệm và
kỹ năng tổ chức thực hiện, vì vậy đã gặp không ít khó khăn trong quá trình xây dựng
báo cáo tự đánh giá. Mặt khác, trong thời gian triển khai công việc, Chủ tịch và Thư
ký Hội đồng đi công tác nước ngoài (theo kế hoạch đã có) và điều đó cũng có ảnh
hưởng tới chất lượng tổ chức công tác tự đánh giá. Chúng tôi khẳng định rằng nếu có
đủ thời gian để thu thập thêm minh chứng, đặc biệt là các minh chứng kiểu đánh giá
ngoài từ các bài viết trên các báo, trên các trang web hoặc tại các hội thảo có đề cập tới
nước và trình độ nghiên cứu khoa học - triển khai công nghệ ngang tầm với các Viện
nghiên cứu, tiến tới được công nhận kiểm định chất lượng khu vực và châu lục, khẳng
định vai trò cung cấp nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại
hóa đất nước.
Khoa CNTT, Trường ĐHCN là một khoa CNTT trọng điểm, có mục tiêu đào
tạo là cung cấp nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao cho đất nước. Chương trình đào
tạo CNTT thường xuyên được cập nhật và đổi mới nhằm đảm bảo tính tiên tiến và
thực tiễn. Nhiều sáng kiến được đề xuất, nhiều giải pháp được thi hành nhằm nâng cao
tính tiên tiến của chương trình đào tạo. Việc thực thi các sáng kiến để nhiều giảng viên
được đi học tập, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo tiên tiến, để thu hút được các nhà
khoa học có trình độ về công tác hoặc tham gia giảng dạy, để huy động lực lượng
Thực tập sinh thực sự đã góp phần tăng cường năng lực đội ngũ giảng viên cho Khoa.
Nhà trường, Khoa CNTT đã quan tâm thực hiện nhiều giải pháp để giữ vững và nâng
cao chất lượng đầu vào tuyển sinh và chất lượng đầu ra của chương trình đào tạo thông
qua hệ thống đảm bảo chất lượng và giám sát trong, phát huy tiềm năng của giảng viên
trong giảng dạy – nghiên cứu khoa học và sinh viên trong học tập – rèn luyện – tham
gia nghiên cứu khoa học. Mối liên hệ giữa Nhà trường, Khoa CNTT với các cơ sở sản
xuất, kinh doanh về CNTT được duy trì, đã tạo thêm môi trường học tập toàn diện cho
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (10/125)
sinh viên. Chất lượng tuyển sinh đầu vào, chất lượng tốt nghiệp đầu ra luôn thuộc diện
cao nhất nước, nhiều cựu sinh viên đã và đang thành đạt, vị thế và danh tiếng của
Trường ĐHCN và Khoa CNTT trong xã hội ngày càng được khẳng định, trình độ quan
hệ với các cơ sở đào tạo – nghiên cứu tiên tiến ở nước ngoài ngày càng tiến bộ đã là
niềm tự hào của Khoa CNTT, Trường ĐHCN, ĐHQGHN.
Sự thiếu hụt về đội ngũ giảng viên cả về số lượng và chất lượng là nguyên nhân
cơ bản làm cho chương trình đào tạo CNTT có khoảng cách xa để tiếp cận tới chương
trình đào tạo tiên tiến. Tính tiên tiến chưa thực sự rõ nét trong cấu trúc và nội dung
chương trình đào tạo, trong nội dung từng khối kiến thức và từng môn học và trong
vấn đề của CNTT, cung cấp nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao phát triển nghiên
cứu và ứng dụng CNTT của đất nước.
Cử nhân CNTT tốt nghiệp Trường ĐHCN có khả năng đảm nhận các chức trách
sau:
-
Chuyên viên thiết kế và phát triển phần mềm, chuyên viên quản trị hệ thống tại
các trung tâm tin học của các cơ quan nhà nước, các công ty CNTT thuộc mọi
loại hình kinh tế. Họ đủ năng lực làm việc trong khâu lập trình, phân tích thiết
kế, quản trị hệ thống, tham gia xây dựng, quản lý và triển khai các dự án CNTT.
-
Giảng viên CNTT tại các trường đại học và các trung tâm đào tạo CNTT.
-
Nghiên cứu viên tại các viện nghiên cứu triển khai chuyên ngành về CNTT.
hoặc tiếp tục học nâng cao trình độ (Học viên Cao học, Nghiên cứu sinh) về CNTT
tại các cơ sở đào tạo sau đại học của Việt Nam và nước ngoài.
Trên cơ sở quy định về khung chương trình đào tạo của Bộ GD&ĐT, chương trình
đào tạo CNTT có tổng cộng 216 đơn vị học trình [Phụ lục 1, CN1.1.2.1–10], được
phân bố theo các khối kiến thức như sau:
Khối kiến thức chung
: 62 đvht
thích ứng với hoạt động CNTT của xã hội. Nhằm đảm bảo tính tiên tiến, chương
trình đào tạo đã được cập nhật hai lần vào các năm 2003, 2005 (Phụ lục 2). Quy
trình cập nhật hoặc tạo phiên bản mới của chương trình đào tạo được mô tả chi tiết
tại Tiêu chí 2.4.
Sinh viên tốt nghiệp Khoa CNTT cần có tư duy hệ thống tốt, năng lực tự học, tự
tiếp thu các kiến thức, công cụ mới và áp dụng các kiến thức, công cụ đó vào thực
tiễn giải quyết các bài toán trong CNTT. Theo [CN5.3.1.4], năm năm gần đây, hầu
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (12/125)
hết sinh viên tốt nghiệp đều tìm được việc làm phù hợp chuyên môn tại các cơ sở
nghiên cứu, đào tạo, sản xuất và kinh doanh về CNTT, đáp ứng được yêu cầu của
thị trường lao động. Khi sinh viên nhập trường, Nhà trường đã giới thiệu về chương
trình đào tạo. Mặt khác, mục tiêu cũng như nội dung của chương trình đào tạo được
công bố trong các tài liệu và website giới thiệu về Nhà trường và Khoa CNTT
[CN1.1.2.1-2, CN1.1.2.4, CN0.24].
Điểm mạnh
•
Mục đích và mục tiêu của chương trình đào tạo là phù hợp với nhiệm vụ đào
tạo của Trường ĐHCN. Do mặt bằng ứng dụng và phát triển CNTT của Việt Nam
hiện thời còn thấp nên sinh viên tốt nghiệp Khoa CNTT thực sự là chuyên viên
CNTT có chất lượng, đáp ứng yêu cầu đầu ra của chương trình đào tạo.
•
Khối kiến thức Toán học và Vật lý trong chương trình đào tạo do Trường
ĐHKHTN đảm nhận nên đảm bảo được tính tiên tiến.
•
Kế hoạch
•
Năm 2005-2006: Triển khai giải pháp nâng cao chất lượng phòng thực hành
CNTT (thiết bị, phần mềm) của trường, phối hợp với các công ty CNTT triển
khai các học phần thực hành, thực tập nhằm tăng cường khối lượng và chất lượng
kỹ năng CNTT trong chương trình đào tạo. Tổ chức các hoạt động nghiên cứu và
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (13/125)
đánh giá để làm tường minh đặc trưng đào tạo CNTT tại Trường ĐHCN. Tiếp tục
phối hợp, khai thác sự hỗ trợ của UNU (United Nations University) và các cơ sở
đào tạo tiên tiến nước ngoài đưa giảng viên đi thực tập giảng dạy. Huy động lực
lượng giảng viên, thực tập sinh đang là PostDoc, Nghiên cứu sinh ở nước ngoài
tham gia trực tiếp vào việc cập nhật, đổi mới chương trình đào tạo (Phụ lục 6);
Thực hiện giải pháp "cầu hiền" nhằm thu hút các Tiến sỹ về Khoa CNTT.
•
Năm 2007-2008: Xây dựng phiên bản mới chương trình đào tạo có chất
lượng tương đương với các chương trình đào tạo CNTT tiên tiến ở khu vực.
Tiêu chí 1.2. Chuyển tải các mục tiêu vào chương trình
Mục tiêu của chương trình đào tạo đã được chuyển tải trong hệ thống các môn học
như sau (Phụ lục 1):
-
Khối kiến thức cơ bản của nhóm ngành cung cấp cho sinh viên nền tảng toán học
của các mô hình hệ thống CNTT và khả năng tư duy hệ thống khi tiếp cận vấn
đề. Điều đó không chỉ giúp sinh viên học tập trong trường mà còn tạo ra khả
năng tự nghiên cứu khi học ở trường và sau khi tốt nghiệp. Nội dung về khối
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (14/125)
Điểm mạnh
•
Cấu trúc môn học của các khối kiến thức và nội dung môn học có định
hướng theo mục tiêu đào tạo, cho phép cung cấp kiến thức và trau dồi năng lực để
sinh viên tốt nghiệp trở thành chuyên viên CNTT có chất lượng.
•
Quy định về quy trình soạn thảo và thẩm định chương trình chi tiết các môn
học đã được tuân thủ. Có tiến hành ứng dụng phương pháp e-learning, khai thác
các phương tiện hiện đại trong quá trình dạy - học. Những việc làm này đã đóng
góp cho việc chuyển tải mục tiêu của chương trình đào tạo tới sinh viên.
Điểm yếu
•
Hạn chế về đội ngũ giảng viên làm cho chương trình đào tạo có khoảng cách
không nhỏ so với mục tiêu đào tạo. Nhiều môn học thiết yếu (Engineering
Economics for SW, Software Evolution (maintenance), Software Quality, Project
Management...) chưa được đưa vào chương trình do chưa có giảng viên thực sự
làm chủ nội dung kiến thức. Thời lượng dành cho các môn học công cụ là quá lớn
làm cho chương trình đào tạo chưa tương xứng với mục tiêu đào tạo. Tồn tại sự
thiếu hụt không nhỏ khi đối sánh với chương trình đào tạo CNTT tiên tiến [Các
bảng 1.3.1, 1.3.2 Phụ lục 1].
Kế hoạch
Tiêu chí 2.1. Nội dung chương trình đào tạo
Ngoài 5 học phần ngoại ngữ (28 đvht) là rất cần thiết đối với sinh viên ngành
CNTT, thì 13 học phần (39 đvht) kiến thức chung và kiến thức xã hội – nhân văn có
mục đích giáo dục sinh viên trở thành người lao động toàn diện. Các học phần này
là cần thiết và là quy định cứng của Bộ GD&ĐT.
Khối kiến thức cơ bản của nhóm ngành gồm 16 học phần (55 đvht) gồm các môn
Toán học, Vật lý, Toán cho CNTT là kiến thức nền tảng đảm bảo đặc trưng của
chương trình đào tạo CNTT tại Trường ĐHCN. Các học phần Toán học và Vật lý
do giảng viên thuộc Trường ĐHKHTN xây dựng nên tính khoa học cơ bản được
đảm bảo. Các môn Toán cho Công nghệ trong chương trình đào tạo thực sự cần
thiết, đặc biệt là kiến thức xác suất, thống kê và quá trình ngẫu nhiên vì chúng góp
phần làm sáng tỏ thêm đặc trưng đào tạo CNTT của Trường ĐHCN.
Khối kiến thức cơ sở của ngành (63 đvht) và khối kiến thức chuyên ngành (16 đvht)
được lựa chọn từ các chương trình đào tạo CNTT tiên tiến [Bảng 1.3.1, 1.3.2 Phụ
lục 1, CN1.1.8.11–16] và được làm phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam,
trong đó có tham chiếu tới chương trình đào tạo CNTT của các Khoa CNTT trọng
điểm. Đã chỉ rõ phân bố thời lượng lý thuyết, bài tập và thực hành đối với mỗi học
phần trong hai khối kiến thức này.
Hàng năm, Khoa CNTT và các Bộ môn đều tiến hành xem xét để cập nhật nội dung
mới cho môn học, lựa chọn môn chuyên ngành và kiến nghị điều chỉnh chương
trình. Chẳng hạn, môn Tin học cơ sở đã được xem xét chỉnh sửa nội dung hàng năm
và nội dung môn học này đã được cập nhật ba lần trong 5 năm [CN1.1.1.2,
CN1.1.2.5, CN0.19-23, CN0.9]. Trong các năm 2003 và 2005, Khoa CNTT đã thực
hiện quy trình đề xuất phiên bản chương trình đào tạo mới.
Khoa CNTT tổ chức buổi tọa đàm hàng năm giữa các Chủ nhiệm bộ môn với sinh
viên trong toàn khoa nhằm làm cho sinh viên có được hiểu biết toàn diện và chi tiết
về các chuyên ngành đào tạo [CN2.1.2.1-17, CN1.1.5.1, CN0.19-23].
Trường ĐHCN là trường đại học Việt Nam duy nhất hiện nay tổ chức cho sinh viên
tham dự kỳ thi chuẩn kỹ năng CNTT công nhận lẫn nhau với Nhật Bản vào hai đợt
tháng 4 và tháng 10 hàng năm. Kết quả đợt tháng 4 năm 2005 là khả quan có 43
khác nhau nhằm đảm bảo tính tiên tiến của chương trình đào tạo.
Điểm yếu
•
Khối kiến thức chuyên ngành có thời lượng quá ít mà nội dung học phần
chuyên ngành lại chưa chuyên sâu nên chưa cung cấp đủ kiến thức và kỹ năng
chuyên ngành [CN1.1.2.1-2, CN1.1.6.1-2] vì vậy kết quả chuyển tải nội dung
chương trình đào tạo còn thấp [Bảng 1.3.3 Phụ lục 1, CN5.2.1.1, CN0.19-23].
•
Đặc trưng "CNTT phần mềm chất lượng cao trên nền kiến thức khoa học cơ
bản mạnh" đã được đề cập, song chương trình đào tạo chưa phân tích tường minh
mối liên kết khối kiến thức Toán, Lý với khối kiến thức ngành.
•
Việc tổ chức phối hợp xây dựng nội dung các học phần ngành và chuyên
ngành còn hạn chế nên nội dung các học phần có liên quan với nhau còn thiếu
tính lôgic. Ở mức khối kiến thức là có kết cấu logic nhưng việc liên kết chương
trình chi tiết các học phần còn lỏng lẻo [CN1.1.2.1-10, CN0.19-23].
•
Quan điểm phát triển tăng dần về độ khó và sự phức tạp của các vấn đề liên
quan trong chương trình đào tạo chưa được hiện thực hóa trong quá trình thiết kế
các môn học và chương trình chi tiết từng môn học [CN1.1.2.1-10, CN0.19-23].
Kế hoạch
phân bố thời lượng cho từng phần nội dung [CN1.1.2.1-10].
Việc cập nhật, cải tiến nội dung từng môn học được thực hiện thường xuyên. Trong
năm năm qua, hai phiên bản mới của chương trình đào tạo đã được đề xuất trong đó
chứa đựng sự thay đổi về cấu trúc [CN1.1.2.1, CN1.1.2.5, CN1.2.3.1, CN1.1.2.3,
CN1.1.2.8-9, CN1.1.6.1-2]. Việc đề xuất phiên bản mới của chương trình đào tạo
theo các lí do sau:
- Các chuyên ngành của CNTT phát triển nhanh đòi hỏi dung lượng kiến thức
chuyên ngành trong chương trình đào tạo cần được cân đối lại trong chương
trình đào tạo. Hơn nữa, cấu trúc kiến thức của khối kiến thức cơ sở của ngành
cũng phải được biến đổi theo cho phù hợp với sự phát triển của CNTT.
- Năng lực tiếp cận các chương trình đào tạo CNTT tiên tiến của đội ngũ giảng
viên có sự tiến bộ vượt bậc. Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu, qua phương
tiện Internet, kiến thức của đội ngũ giảng viên hiện có được cập nhật đáng kể.
Đáng chú ý là một số giảng viên trẻ có trình độ được đào tạo ở nước ngoài đã
được bổ sung vào đội ngũ giảng viên của Khoa CNTT.
- Điều kiện trang thiết bị về phòng máy, phương tiện dạy học ngày càng tốt hơn,
phục vụ trực tiếp cho việc dạy - học đã hiệu quả hơn.
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (18/125)
Quy trình cải tiến và nâng cấp chương trình đào tạo được trình bày chi tiết trong
Tiêu chí 2.4 [CN1.1.1.2, CN1.1.2.5, CN0.19-23].
Hiện tại, Trường ĐHCN tiến hành đào tạo theo phương thức niên chế với 2 học
kỳ/năm học theo quy định cứng các môn học trong từng học kỳ, và phương thức
này cũng được áp dụng đối với Chương trình đào tạo CNTT [CN1.1.2.1-2,
CN1.1.2.4, CN1.1.1.2, CN1.1.1.6.2]. Nhà trường đang nghiên cứu chuẩn bị các điều
kiện cần thiết để chuyển đổi từ phương thức đào tạo niên chế sang phương thức đào
tạo tín chỉ.
Điểm mạnh
tập kĩ năng ngoài giờ lên lớp.
•
Chưa tường minh định hướng sinh viên về kỹ năng làm việc theo nhóm, khả
năng tự phát triển nghề nghiệp và lãnh đạo tổ chức công việc [CN1.1.2.1-10,
CN1.1.2.1-2, CN1.1.2.4, CN1.1.6.1-2]
Kế hoạch
•
Năm 2005-2006: Tổ chức phân tích, đánh giá một cách khoa học về cấu trúc
của khối kiến thức ngành và chuyên ngành trong chương trình đào tạo và cải tiến
chương trình đào tạo theo kết quả đánh giá; Triển khai phương thức liên kết Bộ
môn - Công ty CNTT thực hiện giảng dạy các môn học về công cụ và thực hành
(liên hệ bài toán thực tại công ty); Thông qua Hội cựu sinh viên, thu thập ý kiến
đóng góp về cấu trúc chương trình, cấu trúc kiến thức môn học; Lên kế hoạch
thực hiện phương thức đào tạo theo tín chỉ cho chương trình đào tạo.
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (19/125)
•
Năm 2007-2008: Hoàn thiện chương trình đào tạo CNTT đáp ứng tính hệ thống
cao về cấu trúc, tương đương với các chương trình đào tao CNTT tiên tiến ở khu
vực. Triển khai phương thức đào tạo theo tín chỉ.
Tiêu chí 2.3. Phương pháp giảng dạy
Nhằm khẳng định mục tiêu đào tạo “CNTT phần mềm trên nền kiến thức khoa học
trọng việc liên kết với các cơ sở công nghiệp để hình thành môi trường học tập nghiên cứu toàn diện cho sinh viên nhưng chương trình đào tạo chưa thực sự tường
minh nội dung thực tập công nghệ phối hợp với các công ty CNTT [CN0.9].
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (20/125)
Trong chương trình đào tạo có bố trí môn xêmina có nội dung đề cập tới các
khuynh hướng hiện đại của chuyên ngành nhằm giúp sinh viên tự khảo cứu và trình
bày các kết quả khoa học mới và làm quen với cách làm việc theo nhóm nghiên
cứu.
Nhà trường, Khoa CNTT coi công tác tổ chức sinh viên nghiên cứu khoa học là một
hình thức cải tiến phương pháp dạy - học. Phần đông sinh viên bắt đầu tham gia
nghiên cứu khoa học từ năm thứ ba, có một số trường hợp từ năm thứ hai. Hội nghị
khoa học sinh viên được tổ chức hàng năm với số lượng và chất lượng ngày càng
tăng. Thành tích nghiên cứu khoa học của sinh viên được cộng điểm khi xét chuyển
tiếp sinh. Một số kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên đã được đăng trên tạp
chí khoa học chuyên ngành. Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đã được
kết hợp trong nhóm nghiên cứu khoa học thực sự [CN2.3.11.1-3, CN2.3.12.1].
Điểm mạnh
•
Nhà trường, Khoa CNTT coi trọng công tác đổi mới phương pháp dạy - học
và đã tiến hành nhiều giải pháp cụ thể tạo điều kiện để giảng viên và sinh viên
tham gia vào quá trình đổi mới phương pháp dạy - học.
•
Hầu hết các giảng viên đã tiến hành cải tiến phương pháp dạy - học với
nhiều hình thức phong phú theo hướng nâng cao năng lực tự học cho sinh viên.
•
Sự thiếu hụt về lực lượng giảng viên, tình trạng thiếu tài liệu, kinh phí và
phòng thí nghiệm để hỗ trợ sinh viên tự học có hướng dẫn đã hạn chế tác dụng
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (21/125)
của các hoạt động đổi mới phương pháp dạy - học. Nội dung thực tập chuyên
môn chưa được quan tâm [CN0.19-23, CN0.9].
•
Khoa CNTT chưa có các đề tài cấp nhà nước, hoạt động nghiên cứu của
giảng viên và sinh viên chưa tương xứng với mục tiêu đào tạo, vì vậy, mối quan
hệ nội tại bên trong giữa giảng dạy và nghiên cứu chưa được thể hiện tốt trong
chương trình đào tạo. Số lượng nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học hàng năm
còn thấp so với quy mô và mục tiêu đào tạo.
•
Do khó khăn về giảng viên và mặt bằng nên số sinh viên trong một lớp thực
hành, học ngoại ngữ, làm bài tập, xêmina còn quá lớn.
Kế hoạch
•
Năm 2005-2006: Xây dựng và thực hiện kế hoạch triển khai e-learning theo
dự án giáo dục đại học C1.II. Tổ chức các hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học. Xây dựng văn bản hướng dẫn triển khai đổi mới phương pháp dạy - học.
Thực hiện các giải pháp để hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học tăng trưởng
cả về số lượng và chất lượng. Xây dựng 2 giảng đường hiện đại đủ năng lực triển
khai phương pháp dạy - học tiên tiến nhất. Hình thành mối liên kết Bộ môn –
Công ty triển khai một số môn học thực hành tại các công ty [CN0.9].
Bước 1. HĐKH&ĐT Khoa CNTT tổ chức dự thảo chương trình đào tạo.
- TTHĐ thống nhất khung chương trình đào tạo CNTT, phân công nhóm giảng
viên thiết kế các thành phần trong chương trình đào tạo căn cứ theo sự liên
quan của khối kiến thức/bộ phận khối kiến thức với các bộ môn hoặc nhóm
giảng viên.
- Trên cơ sở các chương trình đào tạo tiên tiến về CNTT [CN1.1.8.11-16], dựa
vào tình hình thực tế ứng dụng CNTT trong và ngoài nước, nhóm được phân
công tiến hành dự thảo các thành phần chương trình đào tạo. Các ý kiến đóng
góp của các giảng viên, các cơ quan tuyển dụng và cựu sinh viên cũng được
xem xét đánh giá khi xây dựng chương trình đào tạo.
- HĐKH&ĐT Khoa CNTT xem xét tổng thể bản dự thảo cho chương trình đào
tạo. Nếu đánh giá chương trình đào tạo đã hoàn thành thì báo cáo nhà trường để
xem xét đề nghị công nhận, ngược lại, tiến hành chỉnh sửa các phần còn khiếm
khuyết.
Bước 2. HĐKH&ĐT Trường thẩm định chương trình
- Thường trực HĐKH&ĐT Trường chuyển dự thảo chương trình đào tạo tới các
chuyên gia CNTT trong và ngoài trường để lấy ý kiến đánh giá phản biện.
- HĐKH&ĐT Trường họp thẩm định chương trình đào tạo được đề xuất. Nếu
chương trình đáp ứng yêu cầu thì đề nghị ĐHQGHN công nhận, ngược lại đưa
ra yêu cầu Khoa CNTT chỉnh sửa theo kết luận của Hội đồng.
Bước 3. ĐHQG HN tổ chức thẩm định chương trình đào tạo. Nếu chương trình đáp
ứng yêu cầu thì đề nghị Giám đốc ĐHQGHN công nhận, ngược lại đưa ra yêu
cầu Trường ĐHCN chỉnh sửa theo kết luận của Hội đồng.
Bước 4. Giám đốc ĐHQG HN ra quyết định thực hiện chương trình đào tạo đã được
thẩm định thành công. Khi đó chương trình đào tạo mới được thi hành.
•
Hàng năm, HĐKHĐT Khoa CNTT tiến hành xem xét việc cập nhật chương
trình đào tạo. Nội dung được cập nhật dựa trên các nghiên cứu, đánh giá về tình
hình phát triển khoa học và công nghệ CNTT trên thế giới và trong nước, dựa trên
CN0.9, Phụ lục 5].
Điểm mạnh
•
Việc thiết kế chương trình đào tạo được tiến hành theo đúng quy trình của
Bộ GD&ĐT và ĐHQGHN. Đây là một quy trình công phu gồm nhiều bước tiến
hành chặt chẽ nhằm đảm bảo chương trình đào tạo được thiết kế chu đáo, thực sự
thể hiện mục tiêu đào tạo.
•
Nhà trường, Khoa CNTT thực sự coi trọng công tác thiết kế và cập nhật
chương trình đào tạo. Việc cập nhật chương trình đào tạo được tiến hành hàng
năm, đã huy động trí tuệ của các giảng viên và chú ý tới ý kiến đóng góp của cựu
sinh viên và công ty CNTT.
•
Trong mọi hoạt động thiết kế và cập nhật chương trình, Nhà trường và Khoa
CNTT tìm nhiều giải pháp hướng tới mục tiêu một chương trình đào tạo CNTT
tiên tiến. Nhờ nắm bắt kịp thời nội dung chương trình đào tạo CNTT tiên tiến
[C1.1.8.11-16], thông qua các hoạt động liên thông quốc tế, chương trình đào tạo
CNTT của Trường ĐHCN ngày càng tiệm cận tới chương trình chuẩn mực.
•
Việc đổi mới và cập nhật chương trình đào tạo thực sự đã tác động đến kết
quả đầu ra, trình độ sinh viên tốt nghiệp khóa sau tốt hơn khóa trước [C5.3.1.4].
Điểm yếu
ngành Khoa học máy tính, Hệ thống thông tin, Kỹ nghệ phần mềm, Mạng máy
tính và Truyền thông.
Tiêu chí 2.5. Kiểm tra - đánh giá
Đề cương chi tiết môn học trong chương trình đào tạo CNTT đã chỉ rõ mục tiêu,
yêu cầu về kiến thức và kỹ năng CNTT liên quan đến môn học đó. Bộ GD&ĐT,
ĐHQGHN đã ban hành các quy định nhằm đảm bảo công tác kiểm tra đánh giá
phản ánh chính xác kết quả dạy - học của Nhà trường. Nhà trường, Khoa CNTT coi
công tác kiểm tra đánh giá là một thành phần quan trọng thực hiện nâng cao chất
lượng đào tạo CNTT. Công tác này của Nhà trường được tiến hành thông qua các
nội dung như xác định yêu cầu và mục tiêu kiếm tra - đánh giá cho toàn bộ chương
trình đào tạo, cho từng môn học cụ thể và thực hiện kiểm tra đánh giá trong khóa
học. Nhà trường, Khoa CNTT đã ứng dụng một số phương pháp kiểm tra - đánh giá
tiên tiến song do khó khăn về lực lượng cán bộ và cơ sở hạ tầng mà phạm vị ứng
dụng các phương pháp tiên tiến còn rất hạn hẹp.
Mục tiêu đào tạo của chương trình đào tạo CNTT được thể hiện trong hệ thống cấu
trúc môn học, được cụ thể hóa trong chương trình chi tiết môn học thông qua việc
chỉ rõ yêu cầu cần đạt được của môn học. Trong Khoa CNTT, người được phân
công xây dựng đề cương chi tiết môn học là những giảng viên có trình độ và kinh
nghiệm giảng dạy môn học đó vì vậy yêu cầu môn học phản ánh đúng yêu cầu của
chương trình đào tạo. HĐKH&ĐT Khoa CNTT xác định các môn học trong chương
trình đào tạo có thể được phân ra ba loại. Khi đánh giá yêu cầu môn học cần sử
dụng phương thức thích hợp cho mỗi loại môn học. Loại thứ nhất, điển hình như
một số môn lý thuyết cơ sở ngành, thì yêu cầu đánh giá về kiến thức cơ bản và tư
duy hệ thống. Loại thứ hai, điển hình như các môn lập trình, lại đòi hỏi đánh giá về
kỹ năng thi hành giải quyết vấn đề. Loại thứ ba, điển hình như môn Tin học cơ sở,
thì yêu cầu kiểm tra đánh giá đòi hỏi cả về kiến thức lý thuyết lẫn kỹ năng thực
hành. Giảng viên bộ môn đã phổ biến cho tất cả sinh viên trong lớp về yêu cầu kiểm
tra - đánh giá (nội dung thi hết môn, thời gian thi, hình thức thi) cho môn học đó.
Báo cáo Tự đánh giá Trường ĐHCN 2/6/2017 (25/125)