Trang 1
HƯỚNG TÍCH HỢP VỀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ, ĐỊA LÝ, NÉT
ĐẸP VĂN HÓA QUA TÁC PHẨM “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA
NGUYỄN TUÂN
A/ PHẦN MỞ ĐẦU:
I. CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP:
1. Sự cần thiết của giải pháp:
Chúng ta biết rằng, bộ môn Ngữ Văn có vai trò rất quan trọng trong
chương trình THPT, bởi nó là yếu tố quyết định đối với việc hình thành phẩm
chất và nhân cách đạo đức cho học sinh. M.Gorki đã nói “Văn học là nhân
học”, và càng đi sâu vào phân tích và tìm hiểu chức năng của văn học thì ta
càng thấy được tính cần thiết của bộ môn này trong đời sống của mỗi con
người nói chung và học sinh nói riêng. Môn Ngữ Văn trước hết là một môn
học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong
việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Môn Ngữ Văn còn
là một môn học thuộc nhóm công cụ. Điều đó nói lên mối quan hệ giữa Ngữ
Văn và các môn khác. Học môn Ngữ Văn sẽ có tác động tích cực đến kết quả
học tập các môn khác và các môn khác cũng góp phần giúp học tốt môn Ngữ
Văn. Hơn nữa, Ngữ Văn cũng là môn học góp phần hình thành nên những
kiến thức cơ bản và quan trọng nhất là hình thành nhân cách con người, chuẩn
bị cho các em một hành trang để bước vào đời hoặc học lên những bậc học
cao hơn. Đó cũng chính là chiếc chìa khóa mở cửa cho tương lai.
Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Ngữ văn ở bậc
THPT, đồng thời tôi muốn phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảng dạy
theo tinh thần đổi mới sách giáo khoa và quan điểm tích hợp là vấn đề cần
được quan tâm nhất hiện nay. Bởi tích hợp là một xu thế phổ biến trong dạy
học hiện đại. Nó giúp học sinh tiết kiệm thời gian học tập mà vẫn mang lại
hiệu quả nhận thức, có thể tránh được những biểu hiện cô lập, tách rời từng
phương diện kiến thức, đồng thời phát triển tư duy biện chứng, khả năng
được nhà văn Nguyễn Tuân lấy nguyên mẫu ngoài đời của anh hùng Cao Bá
Quát. Hay nét đẹp văn hóa của các bậc tao nhân mặc khách của các nhà nho
xưa... Cho nên qua lối dạy văn cần tích hợp thêm lịch sử của nước nhà hay
những nét đẹp của truyền thống…, mà quan trọng trong tác phẩm Chữ người
tử tù cần làm rõ cho học sinh hiểu một cách sâu sắc, để khơi thêm sự hiểu biết
và niềm tự hào dân tộc và nguồn cảm hứng khi học văn trong các em.
4. Căn cứ đề xuất giải pháp:
Trang 2
Cần áp dụng rộng rãi cho tất cả khối 11, chứ không chỉ trong phạm vi
lớp dạy.
5. Phương pháp thực hiện:
- Phương pháp nghiên cứu để viết phần lý thuyết:
+ Đọc các tài liệu viết về tác giả Nguyễn Nguyễn Tuân
+ Đọc các tài liệu về tác phẩm của Nguyễn Tuân
+ Đọc các tài liệu về mảnh đất Tây Sơn.
+ Đọc lý luận văn học để tổng hợp.
- Phương pháp điều tra khảo sát thu thập thông tin thực tế:
+ Cho học sinh viết phiếu đề nghị.
+ Cho học sinh trả lời theo phiếu trắc nghiệm sau khi học tác phẩm.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu:
+ Cho học sinh trả lời theo phiếu trắc nghiệm sau khi học tác phẩm.
+ Cho học sinh viết bài thu hoạch về đề tài của sáng kiến.
6. Đối tượng nghiên cứu:
Trong quá trình giảng dạy tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn
Tuân, giáo viên đã tìm tòi, nghiên cứu nhiều giá trị nội dung và nghệ thuật.
Trong những năm gần đây việc ra đề kiểm tra cho môn ngữ văn có sự nâng
cao và mở rộng, đặc biệt là phần liên hệ với bản thân, với cuộc đời, với xã
hội, hay những bài học rút ra cho bản thân, cho xã hội được thể hiện qua tác
hóa của dân tộc. Do đó, qua tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân”,
tôi muốn khai thác thêm về truyền thống lịch sử, địa lý, nét đẹp văn hóa của
dân tộc để giúp các em hiểu rõ hơn về tác phẩm mà nhà văn Nguyễn Tuân đã
gửi gắm đến bạn đọc, đồng thời giúp các em thông hiểu và vận dụng một cách
tinh tế vào bài làm của mình. Đặc biệt sau khi các em học xong tác phẩm Chữ
người tử tù, trong các em luôn có niềm tự hào về truyền thống lịch sử và niềm
tự hào của dân tộc ta.
Về tác phẩm “Chữ người từ tù” của Nguyễn Tuân trong sách giáo khoa
Ngữ văn lớp 11 tập I là một tác phẩm hay, nhưng không dễ cảm nhận đối với
Trang 4
học sinh. Do vậy để đạt được mục tiêu, tăng hiệu quả cho việc dạy và học cần
đa hóa các hình thức đọc – hiểu, kết hợp đọc truyện, với hoạt động nhóm,
lồng ghép tích hợp, liên môn, tạo các slide, tranh ảnh về tác giả, tác phẩm,
xem phim. Đặc biệt tập trung làm rõ hướng tích hợp về truyền thống lịch sử,
địa lý, nét đẹp văn hóa cho học sinh dễ dàng thông hiểu, tự hào và khơi niềm
cảm hứng học văn trong các em.
2.1/ Ở phần tìm hiểu chung: (Tiểu dẫn ở sách giáo khoa)
* Cuộc đời tác giả: Ở phần này giáo viên dạy với việc liên hệ mở rộng về
tác giả Nguyễn Tuân bằng hệ thống những câu hỏi gợi mở:
- Nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân
- Tích hợp giáo dục về lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và tình yêu cái Đẹp
của Nguyễn Tuân
- Những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
- GV tích hợp về chữ Tâm và chữ Tài trong con người và sáng tác của
Nguyễn Tuân.
- GV tích hợp giáo dục về sự trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống.
- Trình chiếu tranh, ảnh về Nguyễn Tuân.
+ Nguyễn Tuân (10 - 7 – 1910) quê xã Nhân Mục, thôn Thượng Đình, nay
* Phong cách nghệ thuật: độc đáo, sáng tạo, tài hoa, uyên bác
+ Nguyễn Tuân luôn tiếp cận và phản ánh đối tượng ở phương diện văn hóa
thẩm mĩ, miêu tả con người ở góc độ tài hoa, nghệ sĩ. Cái nhìn nghệ thuật của
ông luôn có ý thức khám phá nhiều vẻ đẹp tài hoa, sang trọng của cuộc sống.
Trước cách mạng tháng 8.1945, ông đi tìm vẻ đẹp trong quá khứ, vẻ đẹp của
một thời vang bóng để đối lập với hiện tại ngột ngạt của xã hội thuộc địa; sau
cách mạng tháng 8.1945, ông đi tìm vẻ đẹp ở hiện tại, trong cuộc sống thường
ngày, ở những người lao động bình thường. Ông là nhà văn suốt đời đi tìm
kiếm và khẳng định những giá trị nhân văn cao quý
+ Nguyễn Tuân không thích những gì nhợt nhạt, yên ổn; bằng phẳng mà
thích những cái khác thường, biệt lệ. Nguyễn Tuân là nhà văn của cảm giác
mạnh, cá tính mạnh.
+ Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa, uyên bác.
+ Nhà văn có một vốn tri thức rất rộng, rất sâu của nhiều ngành nghề khác
nhau như điện ảnh, âm nhạc, điêu khắc, quân sự, võ thuật… và khai thác, vận
dụng chúng có hiệu quả. Nhờ đó, người đọc tiếp xúc với những trang văn của
Trang 6
Nguyễn Tuân không chỉ được thưởng thức cái đẹp của văn chương mà còn
nâng cao kiến thức.
+ Một Nguyễn Tuân tài hoa thể hiện ở khả năng dựng cảnh, dựng người và
tạo nên những liên tưởng, so sánh vừa bất ngờ, vừa thú vị.
+ Ông có một vốn ngôn ngữ phong phú và cách sử dụng ngôn ngữ linh hoạt
đầy biến hóa. Nguyễn Tuân có khả năng tổ chức những câu văn đầy chất thơ,
có giá trị tạo hình, có chất nhạc gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Hơn nữa,
khi cần Nguyễn Tuân phá vỡ những quy tắc ngữ pháp để miêu tả đối tượng
(câu văn giàu hình ảnh, nhịp điệu).
→ Văn Nguyễn Tuân vừa đĩnh đạc cổ kính; vừa trẻ trung, hiện đại.
+ Thể loại sở trường của Nguyễn Tuân là tùy bút - một thể văn rất tự do
+ Tác phẩm được sáng tác vào năm 1940.
+ Nhan đề ban đầu: “Dòng chữ cuối cùng”.
- Cảm hứng sáng tác.
Được nhà văn lấy từ nguyên mẫu về cuộc đời và sự nghiệp của Cao Bá
Quát.
Phần này giáo viên Tích hợp kiến thức lịch sử về danh nhân và tác giả
Cao Bá Quát qua tác phẩm Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản ca)
đã học ở phần Văn học trung đại ( SGK Ngữ Văn 11, tập 1).
- Tích hợp giáo dục về sự trân trọng đối với các danh nhân lịch sử.
- Trình chiếu tranh, ảnh về Cao Bá Quát.
+ Một người nổi tiếng “văn hay chữ tốt”
→ Suy tôn: “Thần Siêu, Thánh Quát”
Và “ Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán”.
+ Một người anh hùng có bản lĩnh, có khí phách, đã từng đứng về phía nhân
dân, khởi nghĩa chống lại triều đình nhưng thất bại.
→ Tên tuổi ông đã được lưu danh vào sử sách.
Cao Bá Quát, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh nay là xã
Phú Thị, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội). Ông là con Cao Tửu Chiếu,
tuy không đỗ đạt nhưng là một nhà nho khá nổi danh; và là em (song sinh) với
Cao Bá Đạt (cha Cao Bá Nhạ, tác giả Tự tình khúc).
Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong cảnh nghèo khó, nhưng nổi tiếng là trẻ
thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt. Năm 14 tuổi, ông trúng tuyển kỳ thi
khảo hạch ở Bắc Ninh. Năm Tân Mão (1831) đời vua Minh Mạng, ông thi
hương đỗ Á Nguyên tại trường thi Hà Nội, nhưng đến khi duyệt quyển, thì bị
bộ Lễ kiếm cớ xếp ông xuống hạng cuối cùng trong số 20 người đỗ Cử nhân.
Sau đó trong chín năm, cứ ba năm một lần, Cao Bá Quát vào kinh đô Huế dự
thi Hội, nhưng lần nào cũng bị đánh hỏng.
Trang 8
khắc của triều đình, để thêm quyết tâm đánh đổ nó.
Giữa năm 1853, lấy cớ về nuôi mẹ già, ông xin thôi dạy học. Gặp lúc vùng
Sơn Tây bị hạn nặng, lại có nạn châu chấu làm cho mùa màng mất sạch, đời
sống người dân hết sức đói khổ. Phần thì phẫn chí, phần thì thương dân,
khoảng cuối năm 1854, Cao Bá Quát tham gia lãnh đạo (tự lãnh chức Quốc
sư) cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương (Sơn Tây), do Lê Duy Cự làm “Minh chủ”.
Đang trong quá trình chuẩn bị, thì việc bị bại lộ. Trước cục diện này, Cao Bá
Quát đành phải phát lệnh tấn công vào cuối năm 1854. Buổi đầu cuộc khởi
nghĩa giành được một số thắng lợi ở Ứng Hòa, Thanh Oai...Nhưng sau khi
quan quân triều đình tập trung đông đảo và tổ chức phản công thì nghĩa quân
liên tiếp bị nhiều thiệt hại.
Tháng Chạp năm Giáp Dần (tháng Chạp năm này rơi vào năm dương lịch
Trang 9
1855), sau khi bổ sung lực lượng (chủ yếu là người Mường và người Thái ở
vùng rừng núi Mỹ Lương), Cao Bá Quát đem quân tấn công huyện lỵ Yên
Sơn lần thứ hai. Phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận đem quân nghênh chiến.
Cuộc đối đầu đang hồi quyết liệt tại vùng núi Yên Sơn, theo sử nhà Nguyễn,
thì Cao Bá Quát bị Suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Tiếp theo, thủ
lĩnh Nguyễn Kim Thanh và Nguyễn Văn Thực cũng lần lượt sa vào tay đối
phương (sau, cả hai đều bị chém chết). Ngoài những thiệt hại này, hơn trăm
nghĩa quân bị chém chết và khoảng 80 nghĩa quân khác bị bắt.
Nghe tin đại thắng, vua Tự Đức lệnh cho ban thưởng và cho đem thủ cấp của
nghịch Quát bêu và rao khắp các tỉnh Bắc Kỳ rồi giã nhỏ quăng xuống sông.
- Tóm tắt tác phẩm : Phần này GV cho HS tóm tắt tác phẩm, sau đó GV
trình chiếu sơ đồ.
+ Huấn Cao văn võ toàn tài, nổi tiếng viết chữ đẹp, phạm tội chống triều đình,
bị xử án chém, bị giải về nhà giam tỉnh Sơn (Sơn Tây) của Quản ngục chờ
ngày xử chém.
Bắc Kỳ (năm 1831), dưới thời vua Minh Mạng) → vẫn giữ vai trò nội trấn
quan trọng đó:
+ Phía trong che chở Thăng Long.
+ Phía ngoài làm bàn đạp, hậu cứ để bảo vệ vùng thượng lưu sông Đà, sông
Hồng, sông Lô.
- Nhà Nguyễn đặt Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên đóng tại thành Sơn Tây để giữ
yên cả vùng rộng lớn Tây Bắc và Việt Bắc gồm 5 phủ, 24 huyện (ngày nay là
toàn bộ tỉnh Vĩnh Phúc, huyện Sơn Dương - Tuyên Quang, gần toàn bộ tỉnh
Phú Thọ trừ vài châu xa thuộc trấn Hưng Hóa và hơn một nửa tỉnh Hà Tây
cũ).
- Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sau khi đánh chiếm và đô hộ Bắc Kỳ, chính
quyền thực dân Pháp thực thi chính sách chia để trị, tỉnh Sơn Tây đã bị cắt
phần lớn đất đai để lập mới các tỉnh Hưng Hóa, Vĩnh Yên, Phù Lỗ, Hòa Bình.
- Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Sơn Tây vẫn là một tỉnh
gồm có 6 huyện: Bất Bạt, Quảng Oai, Tùng Thiện, Phúc Thọ, Thạch Thất,
Quốc Oai và trụ sở tỉnh lỵ là thị xã Sơn Tây.
- Ngày 1 tháng 7 năm 1965 tỉnh Sơn Tây nhập với tỉnh Hà Đông thành tỉnh
Hà Tây. Địa danh "tỉnh Sơn Tây" từ đó mất hẳn trên các văn bản chính thức.
- Ngày 27 tháng 12 năm 1975 tỉnh Hà Tây nhập với tỉnh Hòa Bình thành tỉnh
Hà Sơn Bình.
- Năm 1978, tỉnh Sơn Tây cũ (trừ huyện Quốc Oai) tách khỏi tỉnh Hà Sơn
Bình và nhập vào thành phố Hà Nội.
- Từ 1991 nhập trở lại tỉnh Hà Tây.
- Từ 1/8/2008 Quốc Hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quyết định nhập
Sơn Tây cùng toàn bộ tỉnh Hà Tây vào Hà Nội.
Trang 11
* Sơn Tây trong hiện tại
- Là một đô thị vệ tinh quan trọng của thủ đô Hà Nội trên con đường Hội
→ Thành cổ Sơn Tây rất khang trang, thể hiện uy thế của triều đình, uy thế
của dân tộc và tiêu biểu cho trình độ kỹ thuật, văn hóa của nước ta ở đầu thế
kỷ XIX.
+ Năm 1924, Toàn quyền Đông Dương xếp thành cổ Sơn Tây vào hàng cổ
tích của xứ Đoài cần được bảo vệ và tôn tạo.
+Tháng 12.1946, Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa đã họp bàn và quyết định những vấn đề quan trọng trong giai đoạn đầu
tiến hành cuộc kháng chiến.
+ Tháng 10/1954, thành cổ Sơn Tây đã được xếp hạng Di tích Lịch sử - Kiến
trúc cấp quốc gia.
→ là một di sản quý báu cần được trân trọng giữ gìn.
- Trường THPT Sơn Tây bên Thành cổ với bề dày 55 năm (1959- 2014) xây
dựng và trưởng thành luôn là nơi “Chắp cánh ước mơ” cho bao thế hệ học trò.
Rất nhiều người con ưu tú của mảnh đất Sơn Tây trưởng thành từ mái trường
này và tiếp tục xây dựng, gìn giữ và phát huy truyền thống lịch sử của quê
hương.
2.3/ Tìm hiểu nghệ thuật thư pháp:
- Ở phần này GV tích hợp kiến thức với bài thơ Ông đồ của Vũ Đình
Liên đã học ở cấp THCS.
Ví dụ như: Hoa tay thảo những nét
Như rồng múa phượng bay
- Hệ thống câu hỏi gợi mở:
+ Những hiểu biết của em về Nghệ thuật thư pháp của cha ông?
- Tích hợp giáo dục về nét chữ nết người.
- Thư pháp là nghệ thuật viết chữ đẹp, có nguồn gốc từ Trung Hoa, sau được
phổ biến sang Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên…
- Ban đầu là thư pháp chữ Hán, thứ chữ khối vuông, được viết bằng bút lông
nên có nét đậm, nét nhạt, vừa mềm mại vừa sắc sảo, rắn rỏi, giàu chất tạo
+ Nơi đầy rẫy những “kẻ quay quắt, lừa lọc”…
→ Không có chỗ cho cái Đẹp tồn tại.
- Thời gian: Những ngày cuối đời của một tử tù
→ sức ép về thời gian tâm lý “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” → luôn
trong trạng thái lo lắng, căng thẳng.
- Mối quan hệ giữa các nhân vật:
+ Ở bình diện xã hội:
Trang 14
▪ Huấn Cao → chống lại triều đình → tử tù.
▪ Quản ngục → đại diện cho trật tự XHPK → cai quản, trấn áp kẻ phạm tội.
→ họ là những kẻ đối địch → khó tìm thấy điểm gặp gỡ.
- Ở bình diện nghệ thuật:
+ Huấn Cao là người có thư pháp tuyệt vời.
+ Quản ngục suốt đời ngưỡng mộ cái tài đó.
→ Cả hai đều trân trọng cái đẹp của những con chữ, cái đẹp trong nhân cách
của nhau.
→ Họ là tri âm tri kỉ dù gặp nhau muộn màng.
- Diễn biến mối quan hệ:
+ Quản ngục trọng vọng, kính nể, tận tụy chăm sóc tử tù.
+ Huấn Cao: Từ coi thường → coi trọng tấm lòng của quản ngục .
→ Một cuộc gặp gỡ đầy éo le, trớ trêu của những tri âm, tri kỉ trong hoàn
cảnh đối địch.
→ Cuộc gặp gỡ của “những tấm lòng trong thiên hạ”
- Ý nghĩa:
+ Tình huống độc đáo, giàu kịch tính → là cái nền để các nhân vật bộc lộ,
tính cách, phẩm chất.
+ Thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm: Ca ngợi cái Đẹp, cái Tài và “thiên
lương” con người.
phải ngưỡng mộ
→ thủ pháp “vẽ mây nảy trăng”.
→ Tô đậm tài năng của HC → tạo ra 2 cái khác thường: niềm đam mê khác
thường trước một tài năng phi thường.
* “Tài bẻ khóa vượt ngục” → tài quân cơ, võ nghệ của một kẻ “chọc trời,
khuấy nước”→ xứng đáng là thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa .
→ Huấn Cao là người văn võ song toàn.
b. Là người có khí phách hiên ngang, bất khuất
Trang 16
- Lý tưởng sống cao đẹp: Đứng về phía nhân dân chống lại triều đình phong
kiến thối nát → Khát vọng muốn san bằng mọi bất công trong xã hội.
- Khi vào nhà ngục:
+ Hành động: Thản nhiên, lạnh lùng dỗ gông bất chấp những lời dọa nạt của
lính ngục
▪ Là việc làm khó vì cái gông bằng gỗ lim rất nặng.
▪ Gông là biểu tượng của sự kìm kẹp, trói buộc. Dỗ gông là hành động biểu
thị sự tự do → sự ngang tàng, cứng cỏi của nhân vật trước cường quyền.
+ Phong thái ung dung, đường hoàng, tự chủ → ăn uống như lúc “sinh bình”
→ luôn làm chủ bản thân và hoàn cảnh, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng
+ Lời nói: trả lời Quản ngục với thái độ khinh bạc“Ngươi hỏi ta muốn gì?
Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây” → bản lĩnh,
nghĩa khí của một người anh hùng dám công khai bày tỏ thái độ coi thường,
chống lại cường quyền.
- Khi nhận tin về kinh chịu án tử: lặng nghĩ, mỉm cười → nụ cười ngạo nghễ,
coi thường cái chết.
=> Khí phách của một bậc đại trượng phu “Uy vũ bất năng khuất”.
c. Là người có “thiên lương” trong sáng
* Nhân vật Quản ngục :
- GV đưa ra hệ thống câu hỏi gợi mở:
+ Nghề nghiệp, ngoại hình Quản ngục có điểm gì đặc biệt?
+ Nhân vật Quản ngục có những nét đẹp tâm hồn đáng quý nào?
+ Em có nhận xét gì về nghệ thuật khắc họa nhân vật Quản ngục?
- GV Tích hợp giáo dục về cách ứng xử trọng chữ Tâm, đề cao cái Đẹp trong
nhân cách con người, trọng tình, trọng nghĩa của Nguyễn Tuân cũng như của
cha ông.
- GV nói thêm về nhân vật thầy Thơ lại
+ Một con người cũng có thiên lương trong sáng, biết coi trọng cái đẹp của
những con chữ và cái Đẹp trong nhân cách con người.
+ Thầy Thơ lại là chiếc cầu nối để viên Quản ngục và Huấn Cao tìm đến với
nhau trong một mối tình tri kỉ.
a. Nghề nghiệp:
- Coi ngục → cai quản, giáo dục, trấn áp các loại tội phạm .
Trang 18
- Đối mặt hàng ngày với gông xiềng, tội ác; sống trong một môi trường “cặn
bã”, xô bồ, “giữa những kẻ quay quắt”…
→ hoàn cảnh sống đối lập với cái Đẹp, rất khó giữ được “ thiên lương”.
b. Ngoại hình
- Đầu điểm hoa râm, râu ngả màu, khuôn mặt nhăn nheo, tư lự → một con
người buồn bã, héo úa, trong tâm hồn có nhiều suy tư, day dứt.
- Ngoại hình của nhân vật được khắc họa trong khung cảnh tối tăm, ảm đạm
của nhà tù → trông lại càng già nua, khắc khổ như muốn tô đậm bi kịch của
một người tự ý thức mình đã “chọn nhầm nghề”.
c. Vẻ đẹp tâm hồn
* Là người có tâm hồn nghệ sỹ
- Đã từng học chữ thánh hiền → rất quý trọng những con chữ.
đẹp tâm hồn.
- Gọi tên nv bằng 4 kiểu → sự thay đổi thái độ của HC từ coi khinh (Ngục
quan, Quản ngục, viên quan coi ngục) → coi trọng (thầy Quản).
=> Là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật
đều hỗn loạn, xô bồ”. Hình ảnh so sánh đắt giá, súc tích làm nổi bật sự đối lập
sắc nét giữa trong và đục, đẹp và xấu, giữa bản chất tốt đẹp của nhân vật với
môi trường tăm tối . Quản ngục giống như một bông sen “ Gần bùn mà
chẳng hôi tanh mùi bùn”.
* Tiểu kết: Quản ngục là kiểu nhân vật đặc biệt để Nguyễn Tuân gửi gắm
quan niệm tiến bộ của mình về cái Đẹp:
- Cái Đẹp đôi khi phải tồn tại cùng cái Xấu, cái Ác.
- Muốn thưởng thức cái Đẹp phải sống Đẹp, tránh xa cái Xấu, cái Ác.
- Sức cảm hóa kì diệu của cái Đẹp.
- Cách ứng xử đẹp, trọng nghĩa, trọng tình, trọng Tài.
* Cảnh cho chữ :
- GV đưa ra hệ thống câu hỏi gợi mở:
Trang 20
+ Cảnh cho chữ diễn ra trong bối cảnh nào? Tại sao Nguyễn Tuân lại cho
rằng đây là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”?
+ Qua cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân muốn gửi đến người đọc thông điệp
nào?
- GV tích hợp giáo dục về sức mạnh của cái Đẹp trong nhân cách con
người.
- Không gian khác thường:
Nhà ngục tối tăm, bẩn thỉu >< Bình thường phải là nơi trang trọng, sạch sẽ.
- Thời gian khác thường:
Ban đêm, những giây phút cuối của tử tù trước khi vào Kinh lĩnh án >
- Ý nghĩa:
+ Thể hiện sự thay bậc, đổi ngôi kì diệu → sự chiến thắng của tinh thần bất
khuất trước cường quyền, bạo lực.
Trang 21
+ Sự chiến thắng của Ánh sáng đối với Bóng tối, cái Đẹp, cái Thiện trước cái
Xấu, cái Ác → Ánh sáng của cái Đẹp, cái Thiện đã khai tâm, cảm hóa con
người lầm đường, lạc lối, đưa họ trở về với “thiên lương” .
=> Cái Đẹp cứu vớt con người, khuất phục bạo lực bằng sức mạnh tự thân của
chính nó.
* Ở phần tổng kết:
1. Nội dung
- Ca ngợi Huấn Cao, một con người tài hoa, có khí phách hiên ngang, có
thiên lương trong sáng. Ca ngợi những con người (Huấn Cao, Quản ngục,
Thơ lại) có nhân cách đẹp, lối sống Đẹp.
- Quan niệm nghệ thuật tiến bộ của Nguyễn Tuân về cái Đẹp: là sự hội tụ Tài,
Tâm, khí phách; luôn chiến thắng cái Xấu, cái Ác; có khả năng cứu vớt những
con người lầm đường để đưa họ về với “thiên lương”.
- Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc sâu sắc của tác giả thông qua việc ca ngợi:
+ Một danh nhân có thật trong lịch sử
(Huấn Cao có nguyên mẫu từ Cao Bá Quát).
+ Thú chơi chữ tao nhã và cách ứng xử đầy văn hóa của cha ông.
2. Nghệ thuật
- Tạo tình huống độc đáo.
- Khắc họa nhân vật sinh động, sắc nét.
- Dựng cảnh, tạo không khí tài tình.
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, câu văn nhịp nhàng, uyển chuyển, các biện pháp
nghệ thuật như tương phản, so sánh… được khai thác hiệu quả.
▪ Phân tích tình huống độc đáo của truyện? Ý nghĩa của tình huống
đó?
▪ Phân tích vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao, nghệ thuật khắc họa và ý
nghĩa hình tượng nhân vật?
+ Nhóm 3: Thuyết trình về nhân vật Quản ngục.
▪ Phân tích vẻ đẹp của nhân vật Quản ngục, nghệ thuật khắc họa và ý
nghĩa hình tượng nhân vật?
▪ Suy nghĩ thêm về nhân vật thầy Thơ lại và cách ửng xử của cha ông
ta?
+ Nhóm 4: Thuyết trình về cảnh cho chữ.
▪ Cảnh cho chữ diễn ra trong bối cảnh nào? Tại sao Nguyễn Tuân lại
cho rằng đây là “ một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”?
▪ Dụng ý của Nguyễn Tuân khi khắc họa Cảnh cho chữ?
Trang 23
- Sau đó giáo viên nhận xét, phân tích, đánh giá và chốt lại để học sinh
dễ dàng nắm vững.
2.6/ Những thuận lợi và hạn chế:
- Đa số học sinh ít thích học văn.
- Nhiều học sinh còn học lệch môn, đa phần các em chọn khối A, B nên ít
tập trung vào môn văn.
- Chương trình của bộ môn Văn được Bộ Giáo dục giảm tải. Đề thi môn
Văn lại tập trung mở rộng cho cả tác phẩm. Do đó, giáo viên phải làm thế nào
để học sinh chú ý học văn, chú ý tìm hiểu đi sâu vào tác phẩm văn học, đặc
biệt là những tác phẩm văn học của Nguyễn Tuân.
• Trước khi áp dụng:
Trong những năm qua, có một vài học sinh đều không ưa thích tác
phẩm “Chữ người tử tủ” của Nguyễn Tuân. Thậm chí, nhiều khi các em rất sợ
và chán nãn. Vì thực tế đây là tác phẩm hay, nhưng khó cảm thụ , khó tiếp