ĐỀ CƯƠNG môn CHÍNH SÁCH CÔNG - Pdf 40

ĐỀ CƯƠNG MÔN CHÍNH SÁCH CÔNG
Câu 1: Các cách phân loại chính sách công chính?
Chính sách công là chính sách của nhà nước, tức chủ thể nắm quyền lực
công, được gọi là chính sách công. Chính sách công là một khái niệm chi
phối sự hiểu biết của chúng ta về việc thực thi quyền lực nhà nước. Đầy đủ
hơn chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể
nắm quyền lực công cộng.
Các cách phân loại chính sách công
Chính sách công là một công cụ quản lý quan trọng của nhà nước trên mọi
lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, do đó, chúng rất đa dạng. Có thể
phân loại các chính sách công theo những tiêu chí sau đây:
a. Theo chức năng
- Chính sách điều tiết: Là những chính sách được các nhà hoạch định thiết
kế nhằm hạn chế sự phát triển của bộ máy này, hoặc tạo điều kiện cho sự
phát triển của một bộ phận khác để kiềm chế sự phát triển thái quá hoặc để
duy trì sự công bằng cần thiết.
- Chính sách tự điều tiết: Là những chính sách có khả năng tạo ra một cơ
chế bảo vệ quyền lợi của nhóm người nhất định trong xã hội
- Chính sách phân phối: Là những chính sách bảo đảm cho tất cả các công
dân có cơ hội hưởng thụ công bằng đối với các nguồn lợi và tài sản chung
của quốc gia. Đó là các chính sách về phổ cập giáo dục phổ thông, trợ cấp,
tiền lương, phát triển các thành phần kinh tế, trợ giá nông phẩm, hỗ trợ
người hồi hương, đền ơn, đáp nghĩa,…
- Chính sách phân phối lại: Là các chính sách hướng tới giảm bớt sự
chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm thu hẹp
khoảng cách giàu nghèo, bất công trong xã hội nhằm tạo lập lại sự công
bằng tương đối trong cộng đồng về quyền và lợi ích. Các chính sách này
thường tập trung vào việc phân phối lại các dịch vụ nhà ở, thu nhập, tài
sản, nói chung là quyền lợi giữa các nhóm dân cư…
- Chính sách phát triển: Chính sách phát triển có tác dụng tạo điều kiện
thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia. Đây thường là các chính sách về

các chính sách liên quan tới tất cả các lĩnh vực của xã hội: kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội.
- Chính sách đối ngoại: Là những chính sách hướng dẫn và điều tiết các
quan hệ đối ngoại của nhà nước với các quốc gia, các tổ chức trên thế giới.
Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập, nếu một quốc gia không có
những quyết sách đối ngoại đúng đắn thì rất khó tránh khỏi nguy cơ bị tụt
hậu.
+ Chính sách cơ cấu: mang tính củng cố và xây dựng tổ chức, phương tiện
để thực hiện chính sách đối ngoại trong dài hạn (chẳng hạn như chính sách
cơ cấu quốc phòng). Với bên ngoài, chính sách này mang tính tự điều tiết,
tự phòng vệ, thụ động chứ không phải là chủ động.
+ Chính sách chiến lược: chính sách này chỉ rõ định hướng, quan điểm đối
ngoại của đất nước trong một thời gian dài, mang tính chủ động.
+ Chính sách giải quyết khủng hoảng: Loại chính sách mang tính tình
huống, không dự định trước, được đưa ra để giải quyết một khủng hoảng
trong quan hệ quốc tế ( từ kinh tế đến chính trị, quân sự).
d. Theo cấp độ ban hành
- Chính sách do Trung ương ban hành (chính sách quốc gia), gồm những
chính sách do Quốc hội, Chính phủ, các Bộ và cơ quan tương đương ban
hành. Những chính sách này có tác dụng điều chỉnh những mối quan hệ

2


phát sinh trên phạm vi quốc gia (toàn lãnh thổ), ảnh hưởng đến lợi ích của
nhiều địa phương, nhiều nhóm cư dân trong xã hội. Các chính sách do Bộ
ban hành, tuy chỉ có tác dụng trong hoạt động quản lý ngành hoặc lĩnh vực
thuộc bộ đó, nhưng lại xuyên suốt từ Trung ương đến các địa phương, cơ
sở, do đó, nó cũng có ảnh hưởng trên phạm vi quốc gia.
- Chính sách do địa phương ban hành (cấp tỉnh, huyện và xã): là những

chính sách so với ý kiến hay nhận thức chung của thời đại. Những chính
sách có nhiều giá trị mới, đi trước thời đại khi mọi người chưa kịp nghĩ ra,

3


gọi là chính sách cấp tiến. Những chính sách theo xu hướng ngược lại là
chính sách bảo thủ.
h. Theo hiệu quả hay mức độ tác động của chính sách
- Chính sách thực chất: Là những chính sách kèm theo những hoạt động
cụ thể của chính quyền trong đời sống xã hội, tạo ra thay đổi nhất định về
vật chất, thu nhập, công việc, sinh hoạt thường ngày… của nhân dân. Bất
cứ hoạt động nào của chính quyền tạo ra những thay đổi nhất định trong
đời sống xã hội một cách trực tiếp và theo nghĩa vật chất thì đều được liệt
vào nhóm chính sách thực chất. Chính sách thực chất dễ thấy, dễ nhìn, dễ
gặp phản ứng vì nó cọ sát trực tiếp với lợi ích của cộng đồng.
- Chính sách thủ tục: Những chính sách không tác động trực tiếp đến nhân
dân, đi kèm và hướng dẫn việc thực hiện chính sách thực chất. Tuy mang
tính thủ tục, nhưng cách thức triển khai, con người cụ thể thực hiện việc
triển khai thủ tục, hoàn toàn có thể chi phối mạnh mẽ các chính sách khác
cần tiến hành sau đó. Do vậy, nó gián tiếp tác động lên cộng đồng chứ
không hoàn toàn mang nghĩa thủ tục. Trong quá trình thực hiện, chính
sách thủ tục thường gắn hoặc đi song song với một hay nhiều chính sách
thực chất khác.
i. Theo cấp độ chính sách
- Chính sách cho bộ phận (hay cá nhân) những chính sách mà dịch vụ của
nó có thể phân chia, giới hạn được, tức là chỉ áp dụng cho những đối tượng
hoặc bộ phận đáp ứng được điều kiện của sự ưu tiên. Như vậy, chính sách
bộ phận hay đi kèm với những giới hạn nhất định đối tượng áp dụng và
không mang tính phổ quát như các chính sách toàn thể (những người nằm

nhân chính khác nhau của mỗi hiện tượng, tức vấn đề mà chính sách muốn
giải quyết. Việc nhìn nhận nguyên nhân chính sẽ ảnh hưởng quan trọng
đến nội dung và cách thức triển khai của chính sách.
Việc phát hiện vấn đề, đưa vào chương trình để thảo luận - tức là xác lập
nghị trình - là điểm khởi đầu của mọi chính sách. Giai đoạn này rất quan
trọng, vì một trong những cách lẩn trốn trách nhiệm tốt nhất chính là giấu
vấn đề cần giải quyết trong phạm vi trách nhiệm.
Trong thực tiễn, mọi vấn đề chính sách đều nảy sinh từ dữ kiện thực tế,
thông qua 3 nguồn quan trọng nhất: số liệu thống kê, các sự kiện, và các
nhận định. Từ ba điều kiện căn bản trên có thể thấy 3 nguyên nhân nguyên
nhân chính khiến một vấn đề không được đưa ra bàn luận và do vậy cũng
sẽ không được giải quyết.
Trước hết, vấn đề đó có thể chưa mang tính khái quát cao, và không căn
bản, tức không có tầm quan trọng đối với cấp chính quyền cụ thể. Điều
này phụ thuộc một phần quan trọng vào tầm nhìn, động cơ của người đề
xướng vấn đề chính sách, cũng như quan điểm của người lãnh đạo vì họ là
người kiểm soát chương trình nghị sự.
Thứ hai, vấn đề chưa thích hợp với hoàn cảnh chính trị. Một số vấn đề
chính sách có thể chưa được đem ra xem xét (công khai) không phải vì
chúng không quan trọng, mà do tính nhậy cảm văn hóa, lịch sử dân tộc,
hoặc quan hệ quốc tế, bản thân việc đưa ra xem xét đã có thể có những tác
động chính trị không lường trước. Điều này đặc biệt đúng khi vấn đề
chính sách liên quan đến quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc hay nhóm dân
tộc, hay liên quan đến các giá trị, niềm tin truyền thống...
Cuối cùng, nếu vấn đề không được các nhân vật chính trị quan trọng hoặc
các tổ chức liên quan ủng hộ, thì cũng dễ bị gạt ra ngoài chương trình nghị

5



của cơ quan triển khai. Sự ràng buộc như vậy không chỉ hạn chế việc sử
dụng quyền lực được ủy nhiệm một cách tùy tiện, mà còn ràng buộc cả về
ngân sách, nhân lực và đôi khi cả cung cách triển khai.
Các chủ thể triển khai quan trọng nhất là các cơ quan hành chính cùng với
các viên chức của mình. Các viên chức ở ngành lập pháp và tư pháp cũng
có những vai trò quan trọng, đặc biệt trong việc triển khai các chính sách
có liên quan đến các hoạt động tranh tụng, như các chính sách về phá sản,
chống độc quyền, v.v

6


Các cơ quan triển khai chính sách thông thường cũng có tính độc lập nhất
định trong việc cụ thể hóa nội dung chính sách . Sự tham gia "vượt quyền"
này đôi lúc là rất cần thiết, bởi vì xuất hiện nhiều vấn đề thực tế không thể
lường được trong giai đoạn hoạch định, cần giải quyết sáng tạo kịp thời.
4. Đánh giá chính sách
Đánh giá chính sách ngày càng được coi trọng trong chu trình chính sách,
bởi vì đây là khâu thường bị quên lãng, hoặc không được tiến hành một
cách nghiêm túc.Giai đoạn đánh giá bao gồm đánh giá kết quả thực tế của
việc triển khai chính sách cũng như việc đánh giá bản thân quá trình xây
dựng và triển khai để tổng kết các kinh nghiệm.
Việc đánh giá chính sách được tiến hành ngay cả trước khi triển khai,
trong quá trình xây dựng chính sách, và có ảnh hưởng sống còn với chính
sách. Đánh giá chính sách không đơn thuần là các đòi hỏi kỹ thuật khách
quan để hiểu thấu đáo tác động của chính sách đó, mà còn mang tính chính
trị ngay từ khởi đầu và trong suốt mọi khâu từ thông qua kế hoạch, xác
định hệ tiêu chí, kết luận đánh giá về một chính sách giữa các chủ thể
chính trị có liên quan.
Liên hệ với việc hoạch định chính sách ở Việt Nam:

Qua nghiên cứu và vận dụng chính sách công ở Việt Nam, có thể thấy: (1)
Đây là vấn đề là khá mới ở nước ta, vì trước đây vẫn có quan niệm về tài
sản công, sử dụng nguồn lực công, nhưng theo quan niệm, theo nhận thức
công hữu, sở hữu công cộng, của chung đất nước, của toàn dân. Do nhận
thức chưa đúng đắn, chưa đầy đủ về chính sách công theo quan niệm mới,
hiện đại nên trên thực tế việc tổ chức thực thi chính sách quản lý còn nhiều
yếu kém, lãng phí. Vì vậy, cần phải làm rõ nội hàm chính sách công, cả từ
khái niệm, các phạm trù, nội dung, các đặc điểm, các yếu tố tác động, chi
phối chính sách công. (2)Nghiên cứu về chính sách công ở Việt Nam cần
đặt trong bối cảnh đang trong quá trình chuyển đổi, vừa xóa cũ, vừa tiếp
thu cái mới, tính đan xen giữa cơ hội và thách thức như một tất yếu, có
thành, có bại, do đó phải có niềm tin, có định hướng cơ bản về vấn đề
nghiên cứu. Đồng thời, cần phải có cách tiếp cận hệ thống, cơ bản, tổ chức
nghiên cứu, đào tạo, thu hút chuyên gia về chính sách công, hợp tác quốc
tế với các trung tâm, các viện nghiên cứu ở các nước về lĩnh vực chính
sách công, nhất là với các nước phát triển./.
Câu 3: Phân tích khái niệm chính sách công và những đặc trưng cơ
bản của nó?
Chính sách của nhà nước, tức chủ thể nắm quyền lực công, được gọi là
chính sách công. Khoa học chính trị, hiểu một cách ngắn gọn nhất, là môn
học nghiên cứu về giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị. Quyền lực
chính trị của giai cấp cầm quyền được tổ chức thành nhà nước. Thông qua
việc thực hiện các chính sách của nhà nước, giai cấp cầm quyền tiến hành
các biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu của mình trong các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, xã hội.
Như vậy, chính sách công là một khái niệm chi phối sự hiểu biết của
chúng ta về việc thực thi quyền lực nhà nước. Việc hoạch định và thực thi
có hiệu quả các chính sách, xét cho cùng, là tiêu chí căn bản để đánh giá cả
hệ thống chính trị, chứ không phải là tiêu chí về đa nguyên đa đảng như
một số lý thuyết thường nhấn mạnh. Đầy đủ hơn chính sách công là

đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội. Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc
vạch ra Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách, đó chính là
những căn cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách công. Như
vậy, về thực chất, các chính sách công là do Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam (chủ yếu là Chính phủ đề ra). Các chính sách này là
sự cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của
Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân ta.
Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là
chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn. Chính sách công không chỉ thể
hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó, bao
gồm những hành vi thực hiện các dự định nói trên.
Chính sách công trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định chính
sách nhằm làm thay đổi hoặc duy tŕ một hiện trạng nào đó. Song, nếu
chính sách chỉ là những dự định, dù được ghi thành văn bản thh nó vẫn chưa
phải là một chính sách. Chính sách công c cn phải bao gồm các hành vi thực
hiện những dự định nói trên và đưa lại những kết quả thực tế. Nhiều người

9


thường hiểu chính sách công một cách đơn giản là những chủ trương của
Nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ, nếu không có việc thực
thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương
đó chỉ là những khẩu hiệu trên giấy tờ.
Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong
đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định. Chính sách công
là một quá tŕnh hành động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định. Khác với
các loại công cụ quản lư khác như chiến lược, kế hoạch của Nhà nước là
những chương trình hành động tổng quát bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực
kinh tế - xã hội, đặc điểm của chính sách công là chúng được đề ra và

10


Câu 4: Phân tích chi phí – lợi ích và xác định những khoản chi phí
và lợi ích của chính sách cấm hút thuốc lá nơi công cộng.
Phân tích chi phí - lợi ích là một quá trình có hệ thống để tính toán và
so sánh lợi ích và chi phí của một dự án chính sách, hoặc quyết định chính
phủ. Phân tích chi phí - lợi ích có hai mục đích: Để xác định có nên ra
quyết định đầu tư hay không (tính đúng đắn/ khả thi); Cung cấp một cơ sở
để so sánh dự án. Nó liên quan đến việc so sánh tổng chi phí dự kiến của
từng lựa chọn so với tổng lợi ích dự kiến, để xem liệu những lợi ích có lớn
hơn chi phí, và lớn hơn bao nhiêu.
* xác định chi phí và lợi ích của dự án cấm hút thuốc lá nơi công
cộng
Thuốc lá là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới và tại
Việt Nam. Bệnh tật và tử vong do hút thuốc lá gây tổn thất nặng nề về sức
khỏe và kinh tế đối với các cá nhân và toàn xã hội. Chính phủ Việt Nam đã
ban hành "Chính sách quốc gia phòng chống tác hại của thuốc lá" trong
giai đoạn 2000 – 2010 và soạn thảo Dự luật Phòng chống tác hại thuốc lá
với mục tiêu giảm tỷ lệ hút thuốc lá và giảm tổn thất do thuốc lá gây ra cho
mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội. Chọn lựa biện pháp nào, mức độ
can thiệp sâu ra sao, và hiệu quả của chúng như thế nào là những câu hỏi
quan trọng cần có câu trả lời với độ tin cậy cao để giúp chính phủ hoạch
định chính sách về phòng chống tác hại thuốc lá.
II. Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam bằng chứng khoa
học về chi phí và hiệu quả các chính sách can thiệp phòng chống tác hại
thuốc lá và đề xuất lựa chọn các chính sách can thiệp nhằm làm giảm tác
hại thuốc lá.
III. Phương pháp nghiên cứu

Cảnh báo bằng hình ảnh là một can thiệp rất hiệu quả (phòng tránh được
2,996 triệu DALYs).
Can thiệp thực hiện các chiến dịch truyền thông phòng tránh được 1,873
triệu DALYs.
Tất cả các can thiệp đều “rất hiệu quả” so với chuẩn chi phí - hiệu quả của
WHO.
Cảnh báo bằng hình ảnh là can thiệp có chi phí - hiệu quả nhất (558
đồng/DALY phòng tránh).
Tăng thuế là can thiệp hiệu quả thứ hai, và mức thuế càng cao thì càng
hiệu quả: 8,600 đồng, 4,215 đồng và 2,902 đồng trên 1 đơn vị DALY
phòng tránh cho các mức tăng thuế từ 55% đến 65%, 55% đến 75% và
55% đến 85%.
Tỷ số ICER của can thiệp chiến dịch truyền thông là 67,900 đồng/DALY
phòng tránh, cấm hút thuốc nơi cộng cộng trong nhà là 78,260
đồng/DALY phòng tránh và cấm hút thuốc nơi công sở là 336,800
đồng/DALY phòng tránh.
V. Kết luận
- Cả bốn can thiệp đều “rất hiệu quả” so với chuẩn chi phí - hiệu quả của
WHO trong cả 2 trường hợp: không tính hoặc tính cả phần bù đắp chi phí.
- Can thiệp Cảnh báo bằng hình ảnh là can thiệp có chi phí - hiệu quả nhất,
tiếp theo là tăng thuế, thực hiện chiến dịch truyền thông, cấm hút thuốc lá
nơi công cộng và cuối cùng là cấm hút thuốc lá nơi công sở.
VI. Khuyến nghị

12


- Thực hiện các can thiệp Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng
thuốc lá; Cảnh báo tác hại của thuốc lá lên sức khỏe bằng hình ảnh; Các
chiến dịch truyền thông mạnh mẽ về tác hại của thuốc lá; Cấm hút thuốc

- Nhiều trường hợp còn cần đến phòng Tư pháp, Thanh tra.
3. UBND cấp xã:
- Chủ tịch UBND.
- Cán bộ Địa chính, Cán bộ Thuế, Cán bộ Tài chính.
- Trưởng thôn có các dự án chạy qua, Bí thư chi bộ.
II. CHỦ ĐẦU TƯ:

13


Chủ đầu tư của dự án có thể là cơ quan nhà nước, có thể là doanh nghiệp.
III. NGƯỜI DÂN:
Là những hộ dân có đất bị thu hồi để thực hiện dự án.
* Quyền lợi của người dân khi bị thu hồi đất để thực hiện dự án:
- Được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ đối với đất đai và tài sản trên đất bị
thu hồi theo quy định Nhà nước, cụ thể:
+ Được bồi thường về đất theo giá đất do UBND tỉnh quy định hàng năm.
+ Được bồi thường về tài sản, các công trình vật kiến trúc trên đất bị thu
hồi theo đơn giá của UBND tỉnh quy định.
+ Được hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất.
+ Được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm.
+ Nếu phải di chuyển nhà ở thì được hỗ trợ kinh phí di chuyển.
+ Đối với các gia đình chính sách như thương binh, bệnh binh, người được
hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh thì được hỗ trợ thêm một khoản
tiền khác.
+ Nếu bị thu hồi hết đất ở và không còn chỗ ở nào khác thì được bố trí
đất tái định cư để xây dựng nhà ở, ổn định đời sống.
(Các mức hỗ trợ nói trên do UBND từng tỉnh quy định).
Lợi ích của nhà nước khi thu hồi GPMB
- Nhà nước thu hồi được đất để phục vụ các mục đích quốc phòng an ninh,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status