Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nhập môn chính sách công Bài giảng 1
2009-2010 và phân tích thể chế
Jonathan Pincus
1
Nhập môn chính sách công
Bài giảng 1
Chính sách công là gì?
Môn học này có tên gọi là Nhập môn chính sách công và phân tích thể chế. Chúng ta sẽ
cố gắng đạt nhiều mục tiêu trong môn học này. Thứ nhất, môn học sẽ giúp học viên làm
quen với chính sách công như một chuyên ngành đào tạo. Chúng ta học gì trong ngành
chính sách công? Vì nó nói về chính sách nên một phần chính sách công phải ít nhất đề
cập đến hành động của chính phủ. Nhưng có phải chính sách công chỉ giới hạn trong
nghiên cứu về chính phủ và chính trị? Liệu nó có bao hàm những hành động của các
nhóm và cá nhân khác trong điều kiện họ cũng có tác động lên “chính sách liên quan”?
Nghiên cứu chính sách công chắc chắn bao gồm việc phân tích cách thức chính phủ ra
quyết định và thực hiện các quyết định này. Theo nghĩa đó thì đây là một ngành khoa
học thực chứng, mô tả sự vật. Nhưng chúng ta không hài lòng với điều này. Chúng ta
cũng muốn nói về những gì là “nên”, hay xác định chính sách nào là tốt hay không tốt.
Do đó, chính sách công cũng là một môn học mang tính chuẩn tắc. Chúng ta không có sự
xa xỉ được đứng ngoài và nhìn cuộc chơi. Đôi khi phải nhảy vào. Chúng ta cũng muốn
đánh giá tác động của các chính sách lên công chúng và đối với một số nhóm dân nhất
định.
Chúng ta sẽ dành hai năm tới nghiên cứu một số khái niệm về chính sách công. Một số
sẽ được giới thiệu trong môn học dẫn nhập này. Chúng ta sẽ tìm hiểu thị trường hoạt
động ra sao và thất bại thế nào. Ví dụ, thị trường cung cấp cho chúng ta rất nhiều kẹo sô-
cô-la nhưng nếu để nó tự hoạt động thì nó sẽ không có đủ cầu được xây. Chính phủ phải
hành động để cung cấp hàng hóa công như những cây cầu. Hay, chính phủ phải điều
chỉnh thất bại thị trường. Nhưng đôi khi chính phủ cũng thất bại, chẳng hạn mất quá
40.000 đồng. Học viên ghi lại số lá bài đỏ giữ lại và giá trị tương ứng vào giấy tính điểm.
Chúng ta cũng sẽ đếm số lá đỏ nộp lại chung. Mỗi lá bài đỏ trong chồn bài gộp chung
này có giá trị 10.000 đồng.
Ở các vòng tiếp theo, mỗi lá bài đỏ nộp lại vẫn là 10.000 đồng nhưng chúng ta sẽ thay đổi
giá trị của lá bài đỏ giữ lại.
Anh chị có thể xem lá bài đỏ giữ lại là hàng hóa tư, và lá bài đỏ nộp lên trên là đóng góp
của mình để tài trợ cho hàng hóa công. Vậy thì việc thay đổi giá trị của lá bài đỏ giữ lại
riêng sẽ ảnh hưởng thế nào đến quyết định đóng góp của anh chị? Điều gì khác sẽ tác
động lên quyết định của anh chị? Chúng ta học được gì từ thí nghiệm này?
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nhập môn chính sách công Bài giảng 2
2009-2010 và phân tích thể chế
Jonathan Pincus
1
Nhập môn chính sách công
Bài giảng 2
Làm chính sách công trong nền kinh tế thị trường
Hôm nay chúng ta sẽ thảo luận về sự phát triển của chính sách công như một ngành học,
sách hợp lý, hiệu quả và công bằng hơn. Quan điểm này được thể hiện rõ nhất trong một
cuốn sách được xem là chuẩn mực thời đại của Harold Lasswell: The Policy Sciences
(1951). Sự lạc quan về vai trò của các nhà kỹ trị đạt cực thịnh dưới thời Tổng thống John
F. Kennedy. Ông đã bổ nhiệm một số nhân vật hàng đầu thuộc các lĩnh vực hàn lâm và
kinh doanh vào nội các của mình. Nổi tiếng nhất trong số này là Robert McNamara, ông
ta đã đưa các chiến lược quản lý thông tin từng sử dụng để điều hành Công ty Ford Motor
vào áp dụng cho Bộ Quốc phòng Mỹ. Đến thời Tổng thống Lyndon Johnson, McNamara
là người đi đầu ủng hộ chiến tranh ở Việt Nam. Sau này ông lại đổi thái độ chống cuộc
chiến này và từ chức thôi làm cho chính quyền (sau đó được chỉ định làm Chủ tịch Ngân
hàng Thế giới, và giữ vị trí này hơn 10 năm). Sự thất bại của McNamara trong việc nắm
bắt bối cảnh lịch sử và chính trị của cuộc xung đột tại Việt Nam đã chỉ ra yếu điểm to lớn
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nhập môn chính sách công Bài giảng 2
2009-2010 và phân tích thể chế
Jonathan Pincus
2
của cách tiếp cận kỹ trị hay “hiện đại cao” đối với chính sách: chính sách suy cho cùng là
chính trị, và do đó đòi hỏi nhiều hơn là sự quản lý thông tin phức tạp và các qui trình ra
quyết định hợp lý.
Sự lạc quan và nhiệt huyết trẻ trung của chính quyền Kennedy đã thúc giục nhiều người
trẻ gia nhập ngành công chức, và nhiều chương trình đào tạo hàn lâm đã mọc lên trên
khắp nước Mỹ để đáp ứng nhu cầu đang gia tăng này. Các tổ chức này muốn làm nhiều
hơn là đào tạo cán bộ hành chính. Họ đưa các nhà lãnh đạo chính trị tương lai vào đối
tượng sinh viên của mình và cũng tuyển dụng các chính trị gia và những người làm chính
sách thực tiễn vào giảng một số môn học. Sự chú ý lúc này chuyển từ những kỹ thuật
hành chính sang các mục tiêu hoạt động của chính phủ, kỹ năng lãnh đạo và thuyết phục.
Thay vì cố gắng loại bỏ các giá trị và yếu tố chính trị khỏi chính sách công, thế hệ đào tạo
hàn lâm mới này nhắm đến tìm hiểu sự tương tác của những quyền lợi, giá trị, và sự lãnh
đạo trong việc hình thành và triển khai chính sách.
phân tích chính sách không thúc đẩy quyền lợi của một nhóm đặc biệt nào đó có nghĩa là
họ có vai trò đặc biệt trong qui trình chính sách công. Chỉ vì chính trị là một phần không
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nhập môn chính sách công Bài giảng 2
2009-2010 và phân tích thể chế
Jonathan Pincus
3
thể tránh của chính sách không có nghĩa là các nhà chuyên môn về chính sách không có
vai trò gì.
Sẽ dễ hiểu hơn nếu xem một ví dụ cụ thể. Trong thập niên 1990, Mỹ thực hiện cải cách
lớn chương trình “phúc lợi” hay các chính sách hỗ trợ xã hội. Phúc lợi là vấn đề gây
nhiều tranh cãi ở Mỹ không chỉ vì nó có qui mô lớn trong ngân sách chính phủ (dù rằng
tất cả chương trình trợ cấp gộp lại chỉ bằng một phần nhỏ của những gói giải cứu dành
cho các tổ chức tài chính gần đây), mà cũng vì người Mỹ có ác cảm với sự hỗ trợ xã hội
hơn so với các nước châu Âu. Mặc dù khó đo lường các ý kiến một cách nhất quán giữa
các nền văn hóa, kết quả của cuộc Khảo sát Giá trị Thế giới cho thấy người Mỹ có
khuynh hướng đồng hóa nghèo khó với sự lười biếng hơn là kém may mắn hay những trở
ngại về kinh tế hay xã hội đối với sự cải thiện bản thân. Người châu Âu nhìn chung gắn
vai trò lớn vào các yếu tố cấu trúc trong sự tồn tại của nghèo khó. Những giá trị này
được phản ánh trong những chương trình thực tế: Mỹ chi tiêu cho các chương trình xã hội
ít hơn nhiều so với đa số các nước châu Âu, kể cả Anh (là nước châu Âu có thể chế và
văn hóa gần giống với Mỹ nhất).
Nhiệm kỳ Tổng thống của Ronald Reagan đánh dấu sự chuyển dịch trong tư tưởng người
Mỹ về vai trò đúng đắn của hành động nhà nước. Có vẻ như trong phản ứng với đợt lạm
phát của thập niên 1970 và mối đe dọa cạnh tranh đang tăng từ phía Nhật, Mỹ đã “định
khung lại” vấn đề vai trò đúng đắn của nhà nước trong nền kinh tế. Chủ trương nới lỏng
qui định với hệ thống tài chính được tích cực theo đuổi (dẫn đến kết quả khủng hoảng tiết
kiệm và vốn vay sau này trong thập niên đó) và chính quyền đã giảm thuế để kiềm hãm
trong chi tiêu cho Mediaid (bảo hiểm y tế cho người nghèo). Chương trình Hoàn thuế thu
nhập tiền lương (EITC) – là khoản trợ cấp cho người có thu nhập thấp thông qua hệ thống
thuế - và hỗ trợ nhà ở cũng tăng lên trong cùng kỳ.
Kết quả cuối cùng là nhiều hỗ trợ xã hội được đưa ra nhưng nhắm đến người nghèo đi
làm và dành cho y tế và chi phí khuyết tật. Nhiều người nghèo tìm cách thức để khai
nhận trợ cấp theo hệ thống an sinh xã hội thông qua chương trình Mediaid hoặc chương
trình hỗ trợ khuyết tật. Nhưng nó nhất quán với hệ thống giá trị phổ biến ở Mỹ. Mục tiêu
là không bao giờ đánh đồng sự giúp đỡ, ý muốn nói các bà mẹ ăn phúc lợi có thể được trả
tiền để KHÔNG đi làm.
Tỉ lệ nghèo vẫn hầu như không đổi trong suốt thời kỳ này. Nghèo giảm đi trong giai
đoạn bùng nổ kinh tế kéo dài suốt thập niên 90 và tăng trở lại trong cuộc suy thoái 2001.
Câu hỏi hiện nay là liệu hệ thống mới có thể đáp ứng đầy đủ với cuộc khủng hoảng kinh
tế hay không. Thất nghiệp đã vượt quá 9% và có khả năng tăng cao hơn trong nửa cuối
năm nay.
Cải cách phúc lợi minh họa tầm quan trọng của chính trị đối với sự hình thành chính sách
công. Các bà mẹ ăn phúc lợi không phải là nhóm quyền lợi hiệu quả: nhiều người không
có trình độ và họ không được trang bị tài chính hay tổ chức tốt về mặt chính trị. Vì lý do
đó nên chính phủ cắt giảm một số hình thức chi trả trực tiếp cho họ là điều khá đơn giản.
Điều thú vị là chương trình tem phiếu thực phẩm không bị cắt và chương trình Mediaid
thì mở rộng nhanh chóng. Nông dân và bác sĩ là các nhóm mạnh về mặt chính trị. Các
nhóm vận động xã hội làm hết sức mình để tối thiểu hóa tác động tiêu cực lên người
nghèo. Tuy nhiên, động cơ đằng sau sự cải cách chính là sự chuyển dịch trong giá trị
công. Khó biết được cái gì sẽ tạo ra sự chuyển dịch này, nhưng việc duy trì các chương
trình dạng AFDC ngày càng khó khăn trong môi trường chính trị mới.
Một khi quyết định chính sách đã được đưa ra, nội dung thật sự của chính sách có thể
thay đổi đáng kể trong quá trình thực hiện. Điều này quay trở lại luận điểm của Herring
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2009-2010
Nhập môn chính sách công
và phân tích thể chế
Bài 5
Jonathan Pincus
1
Nhập môn chính sách công
Bài 5
Phân công lao động, chuyên môn hóa và thương mại
Tuần này sẽ xem xét nguồn gốc của một số tư tưởng quan trọng trong kinh tế học. Bạn
có thể tự hỏi tại sao chúng ta phải quan tâm đến lịch sử tư duy kinh tế. Điều này liên
quan gì đến chủ đề chính sách công hiện nay? Câu trả lời tốt nhất là của John Maynard
Keynes, nhà kinh tế học lỗi lạc nhất của thế kỷ 20. Ông viết:
Ý tưởng của các nhà kinh tế và triết gia chính trị, cả khi họ đúng và sai, đều mạnh
mẽ hơn những gì người ta hiểu. Thật vậy, thế giới này được cai trị hơi khác đi.
Những người thực tế, tin rằng bản thân họ khá miễn nhiễm với bất kỳ ảnh hưởng
tri thức nào, lại thường là nô lệ của một số nhà kinh tế thiên cổ.
Keynes không có ý nói rằng các chính trị gia chỉ ngồi lê đọc cuốn The Wealth of Nations
của Adam Smith hay General Theory của Keynes. Ý ông muốn nói là các ý tưởng hàm
chứa trong những cuốn sách này định hình cách thức chúng ta suy nghĩ về nền kinh tế và
xã hội ngay cả khi chúng ta chưa bao giờ nghe nói về những nhà tư duy vĩ đại này. Các ý
tưởng đó đã có tác động sâu sắc lên cách thức chúng ta nhìn thế giới đến mức chúng trở
thành một phần trong mô thức suy nghĩ của chúng ta. Vì lý do đó, chúng ta cần hiểu các
Bài 5
Jonathan Pincus
2
Điều này hiển nhiên là sự đơn giản hóa quá mức tình hình trước khi đời sống kinh tế
được tổ chức trên cơ sở thị trường. Nhưng không phải là không chính xác. Trước khi thị
trường nổi lên vào thế kỷ 15 ở châu Âu, thương mại giữa làng mạc, vùng miền và quốc
gia chủ yếu gồm hàng xa xỉ: hương liệu từ châu Á, vàng và kim loại quí, cà phê, trà và
thuốc lá. Các nhu yếu phẩm thì được sản xuất tại chỗ, và chủ yếu giao dịch theo kiểu
truyền thống. Ở châu Âu, hàng sản xuất công nghiệp vốn có thì do các nghệ nhân sản
xuất theo phường hội. Giá cả do hội điều tiết và sự cạnh tranh giữa các nghệ nhân là
không được phép.
Thật vậy, chính thuật từ “nền kinh tế” là xuất phát từ Hy Lạp cổ, từ oikos, hay nhà, và
nomos, là qui phạm hay luật, từ đó đề ra lĩnh vực quản lý hộ gia đình. Với người Hy Lạp
và La Mã thì kinh tế học là một vấn đề tư nhân, không liên quan đến lĩnh vực công.
Nhưng từng bước qua nhiều thể kỷ, truyền thống và quyền hành đã nhường chỗ cho thị
trường làm cơ chế hàng đầu để lập trật tự sản xuất và phân phối. Tại sao nó diễn ra lúc
đó và ở Tây Âu thay vì nơi khác, thì vẫn còn là vấn đề nóng hổi gây tranh cãi trong lịch
sử kinh tế. Chúng ta không cần quan tâm nhiều đến điều này. Nhưng với mục đích ban
đầu, chúng ta cần phải nhớ rằng sự chuyển dịch từ truyền thống và quyền lực sang thị
trường đã tạo ra một cuộc cách mạng trong năng suất với qui mô mà thế giới chưa bao
giờ trải qua trước đó. Như Heilbroner đã viết:
"Đó là cuộc cách mạng quan trọng nhất từng xảy ra, xét theo quan điểm định hình
xã hội hiện đại, và về cơ bản nó gây xáo trộn ở qui mô còn hơn cả cuộc cách
mạng Pháp, Mỹ và cả Cách mạng Nga."
Có thể thấy điều này trong ước tính của Angus Maddison về GDP bình quân đầu người
xuất và năng suất trong khi đả kích sự kỳ thị của họ đối với sản xuất công nghiệp. Nhưng
ông đi xa hơn phe trọng nông khi tuyên bố rằng của cải của các quốc gia phụ thuộc vào
quyền lợi của chính nhà sản xuất và người tiêu dùng. Đó là dòng văn nổi tiếng nhất cuốn
the Wealth of Nations, và có lẽ là dòng văn được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử kinh tế
học:
Không phải lòng tốt của anh hàng thịt, chị nấu bia, hay ông hàng bánh mà chúng
ta kỳ vọng có bữa ăn tối, mà chính nhờ sự quan tâm của họ về quyền lợi bản thân.
Chúng ta đáp ứng được nhu cầu cá nhân không phải nhờ tính nhân văn của họ mà
là sự vị kỷ của chính họ, và không bao giờ nói với họ về nhu cầu của chúng ta mà
phải nói về cái lợi của họ.
Với chúng ta ý tưởng này nghe có vẻ hiển nhiên, nhưng Smith đã viết nó ra ở thời điểm
mà sự chuyển tiếp từ truyền thống và quyền lực sang các thị trường cùng với nguyên tắc
tổ chức chủ chốt của đời sống kinh tế vẫn đang diễn ra. Quan điểm này, cho rằng chính
lợi ích cá nhân thúc đẩy con người cạnh tranh và cung cấp hàng hóa và dịch vụ ở mức giá
thấp nhất có thể, đã là một sự nắm bắt thông thái. Còn cấp tiến hơn nữa là đề xuất của
Smith rằng “bàn tay vô hình” của sự cạnh tranh sẽ dẫn dắt con người hướng vào những
việc mang lại lợi ích chung, và xã hội không phải dựa vào quyền hành hay truyền thống
để thực hiện tốt chức năng. Tầm nhìn của Smith là một quan điểm dân chủ cấp tiến: hãy
để người dân tự định đoạt, không cần các lãnh chúa hay nhà thờ nói họ phải sản xuất cái
gì, khi nào và như thế nào.
Lợi ích riêng tạo động cơ, và sự cạnh tranh tạo ra nguyên tắc. Những hạn chế đối với
thương mại như phường hội hay độc quyền dưới bất kỳ hình thức nào đều làm các nước
nghèo hơn thay vì giàu lên. Bản thân điều này cũng đủ để đảm bảo vị trí của Smith là
nhà kinh tế học hiện đại đầu tiên. Nhưng ông còn có một ý tưởng cấp tiến khác quan
trọng tương tự, nếu không nói là lớn hơn đối với sự hiểu biết của chúng ta về cách thức
hoạt động của nền các kinh tế và thị trường. Đó là ý tưởng về “phân công lao động”.
pháp loại bỏ các khó khăn chưa bao giờ xảy ra. Vì thế lẽ tự nhiên anh ta sẽ mất đi
thói quen áp dụng thực hiện, và nhìn chung sẽ trở nên ngu ngốc và trì trệ đến mức
mà một sinh vật loài người có thể rơi vào. Trạng thái u mê đầu óc sẽ khiến anh ta,
không những không có khả năng thích thú hay tiếp nhận một phần của bất kỳ
cuộc đối thoại nào, mà còn không thể tiếp nhận bất kỳ cảm xúc chung, tao nhã
hay nhẹ nhàng nào, và kết quả là không có khả năng hình thành bất kỳ nhận định
thuần túy nào về nhiều việc thậm chí là những nhiệm vụ thông thường của đời
sống cá nhân. Xét theo lợi ích to lớn và rộng hơn của đất nước thì anh ta nói
chung không có khả năng nhận định.
Smith đề xuất đầu tư công vào giáo dục tiểu học để lấy lại cân bằng trước tác động mất
dần kỹ năng và thui chột tư duy của việc phân công lao động. Tuy nhiên, ông vẫn lo lắng
về tác động xã hội gây thiệt hại tiềm năng khi biến lao động thành những cái máy. Nhìn
chung ông vẫn tin rằng tác động năng suất của việc phân công lao động vẫn đáng giá.
David Ricardo, có lẽ là nhà kinh tế theo trường phái cổ điển nổi tiếng nhất sau Smith, đã
nắm bắt vấn đề phát triển nền kinh tế thị trường. Ông chấp nhận quan điểm của Smith về
nền kinh tế dựa vào sự phân công lao động, ông cũng áp dụng sự phân công xã hội của
Smith thành ba giai cấp xã hội: người lao động, nhà tư bản và chủ đất. Ứng với mỗi giai
cấp là một nguồn thu nhập: lương cho người lao động, lợi nhuận cho nhà tư bản, và tô lợi
cho chủ đất. Đây là sự đặc trưng hóa chính xác bối cảnh kinh tế nước Anh lúc bấy giờ,
chủ yếu là nông nghiệp và đại đa số bất động sản là do triều đình và giới quí tộc nắm giữ.
Lực đẩy tăng trưởng kinh tế được xem như sự cạnh tranh, thúc đẩy các nhà tư bản tái đầu
tư lợi nhuận của mình. Nhưng toàn bộ cấu trúc này có thể bị chặn đứng nếu các chủ đất
có thể tăng giá thuê và làm giảm lợi nhuận.
Theo Ricardo, tiền lương ứng với sự tiêu dùng đủ sống của người lao động làm việc trong
qui trình sản xuất, còn tiền thuê đất và lợi nhuận ứng với thặng dư, được xem như sản
phẩm còn lại sau khi trừ lương và bổ sung lại bắp giống. Giới chủ đất tiêu tiền vào
những thứ xa xỉ, còn giới tư bản do sự cạnh tranh kích thích sẽ tiếp tục đầu tư lợi nhuận
có lợi thế thương mại tuyệt đối.
Ví dụ cho thấy điều này xảy ra như thế nào. Mặc dù người Anh kém hiệu quả hơn người
Bồ Đào Nha trong sản xuất vải và rượu, việc giao thương một đơn vị vải cũng đủ để trả
cho phần rượu tăng thêm và làm cho thương mại có lợi cho cả hai nước.
Kết luận chính của các nhà kinh tế cổ điển vẫn có giá trị với chúng ta ngày nay. Sự phân
công lao động là nguồn tăng trưởng năng suất quan trọng. Thương mại giúp các nước
khá hơn. Những ràng buộc với thương mại, bất kể dưới hình thức độc quyền trong nước
hay những rào cản xuất nhập khẩu, thu nhập thấp hơn và những ưu đãi dành cho những
kẻ trục lợi như giới chủ đất so với nhà đầu tư. Đây là những ý tưởng mạnh mẽ có chất
lượng trong những nghiên cứu đương đại nhưng vẫn đưa ra được những hàm ý chính
sách quan trọng cho phân tích kinh tế hiện đại. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2009-2010
Nhập môn chính sách công
và phân tích thể chế
Bài 6
Jonathan Pincus
1
Nhập môn chính sách công
Bài giảng 6
Giá trị và sự phân phối trong tư duy kinh tế
mang cùng ý nghĩa ở mọi thời điểm hay trong mọi bối cảnh hệ thống kinh tế khác
nhau" (Economic Philosophy, 1962).
Giá trị là một quan hệ. Nó xuất hiện từ những tương tác giữa con người, không phải từ sự
vật. Vì lý do đó các nhà kinh tế cổ điển đã có một thời gian khó khăn tìm kiếm thước đo
giá trị khách quan, và tại sao các nhà kinh tế cuối cùng tập trung vào tính khách quan và
“sở thích được tiết lộ”.
Các nhà kinh tế cổ điển đã giải đáp hai câu hỏi quan trọng:
Một nền kinh tế phức tạp dựa trên sự phân công lao động sẽ hoạt động như thế
nào? (câu hỏi thực chứng)?
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2009-2010
Nhập môn chính sách công
và phân tích thể chế
Bài 6
Jonathan Pincus
2
Để đảm bảo kết quả kinh tế công bằng hay hợp lý thì luật ứng xử đối với vua
chúa, nhà đầu tư, người lao động và chủ đất phải như thế nào? (câu hỏi chuẩn
tắc)?
Khi tiến bộ trong các ngành khoa học tự nhiên tăng tốc trong thế kỷ 18 và 19, các học giả
ngày càng trở nên quen thuộc với ý tưởng tách rời thực tế khỏi giá trị. Ý tưởng cho rằng
các lý thuyết cần được kiểm chứng dựa trên quan sát thực tế trở nên phổ biến (thay vì dựa
vào những thánh văn hay sản phẩm của sự suy diễn nội tại thuần túy). Adam Smith đặc
biệt quan tâm đến những triển vọng đối với sự tiến bộ xã hội và phát triển kinh tế, nhưng
Ricardo sử dụng lý thuyết giá trị lao động để xem xét những động năng dài hạn của nền
kinh tế. Điều này lẽ ra không thể làm được với lý thuyết giá trị sử dụng giá cả thị trường,
là thứ rất khả biến và quá tạm thời để đóng vai trò dẫn dắt những qui luật chuyển động
dài hạn trong nền kinh tế. Ricardo biết rằng giá thực phẩm đang tăng lên, và ông nhận
thấy sự tăng giá gắn liền với sự phát triển dài hạn của hệ thống kinh tế hơn là những biến
động ngắn hạn. Hệ thống giá trị của ông do đó tạo ra lý thuyết phân phối. Giá trị sản xuất
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2009-2010
Nhập môn chính sách công
và phân tích thể chế
Bài 6
Jonathan Pincus
3
nông nghiệp phụ thuộc vào yếu tố lao động đầu vào. Tiền lương chỉ vừa đủ để đảm bảo
sự tồn tại của người lao động. Lợi nhuận bằng tiền lương trừ tô lợi trả cho chủ đất và trừ
chi phí sản xuất (giống). Khi đất kém màu mỡ được đưa vào sản xuất, thì lợi nhuận sẽ
biến mất do năng suất biên giảm.
Hệ thống của Ricardo rất sâu sắc và chẩn đoán một cách chính xác mối liên kết giữa
những hạn chế thương mại và lợi nhuận giảm đi. Nhưng lý thuyết giá trị lao động đã
khiến ông không thấy được những dạng thay đổi công nghệ làm ngắt quảng sự kết nối
giữa áp lực dân số và khả năng lợi nhuận. Kết luận của ông cho rằng nền kinh tế sẽ trì trệ
trong dài hạn đã được thực tế chứng minh là không đúng.
Những cố gắng của các nhà kinh tế cổ điển để đi đến một thước đo giá trị khách quan đã
mai một. Một lứa các nhà kinh tế mới, chịu ảnh hưởng mạnh của sự phát triển về kỷ thuật
và vật lý, đã chuyển sang tìm kiếm thước đo giá trị giúp họ ứng dụng những công cụ toán
thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc. Chủ nghĩa cận biên mang lại nền tảng cho lý thuyết
cân bằng riêng phần và tổng thể, nó tạo ra một tập hợp công cụ phức tạp để mô tả các
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2009-2010
Nhập môn chính sách công
và phân tích thể chế
Bài 6
Jonathan Pincus
4
hiện tượng kinh tế, ít nhất trong ngắn hạn. Nhưng câu hỏi mang tính chuẩn tắc thì hầu
như biến mất. Với khuôn khổ khách quan, sự bất khả khi so sánh giữa các cá nhân, thì
không có cách nào để đi đến những nhận định liên quan đến sự công bằng hay “đạo đức”
của các kết cục kinh tế. Kinh tế học mất đi sự quan tâm đến câu hỏi đúng và sai, và ngày
càng tập trung vào việc tối đa hóa thỏa dụng như được đo lường theo quan điểm sở thích
được tiết lộ của người tiêu dùng.
Hiệu quả, không phải công bằng là mục tiêu của phân tích kinh tế. Khác Ricardo, các nhà
kinh tế không còn quan tâm đến sự phân phối thặng dư kinh tế, thu nhập hay của cải.
Kinh tế học không trả lời cho câu hỏi làm thế nào tạo ra một xã hội tốt và công bằng. Đó
không còn là điều mà các nhà kinh tế cảm thấy thoải mái khi nói đến. Họ cũng không
thoải mái khi nói đến những kết quả không công bằng hay sự bóc lột. Cách tiếp cận giá
trị chủ quan của họ khiến họ không thể phán xét bất kỳ giao dịch nào diễn ra một cách tự
nguyện. Các nhà kinh tế nhường cho chính trị gia và công chúng việc đặt ra quan điểm về
xã hội tốt, và họ giới hạn hoạt động của mình vào việc mô tả các chính sách được thiết kế
để đạt được những mục tiêu này.
Sự chuyển dịch thứ hai từ dài sang ngắn hạn. Lý thuyết cận biên về giá trị, dựa vào thứ
hạng sở thích, chỉ mở rộng đến trạng thái cân bằng kế tiếp (phiên bản Áo gọi là tức thời).
Jonathan Pincus
1
Hiệu quả và mô hình thị trường cạnh tranh
Phương pháp phân loại cơ sở lý luận chính sách công bắt đầu từ khái niệm mô hình thị
trường hoàn hảo hay lý tưởng hóa. Đây là một trong những khái niệm căn bản trong kinh
tế học hiện đại liên quan đến số lượng lớn doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận và người
tiêu dùng tối đa hóa thỏa dụng. Theo thuật ngữ đơn giản này, mọi người đều chọn cái tốt
nhất cho mình. Theo một số giả định, các hành vi tự thúc đẩy của các tác nhân kinh tế
này sẽ dẫn đến các mô thức sản xuất và tiêu dùng hiệu quả. Hiệu quả, theo đó là không
có cách nào để tăng lợi ích cho người này mà không làm thiệt hại đến lợi ích của người
khác.
Khái niệm hiệu quả, hay hiệu quả Pareto, hoặc phân bổ tối ưu Pareto, nói đến việc phân
bổ mang tính chất không thể tăng phúc lợi của người tiêu dùng này mà không làm thiệt
hại đến phúc lợi của người tiêu dùng khác. Ví dụ bằng trò chơi cắt bánh.
Thị trường cạnh tranh được xem là chuẩn mực của hiệu quả, hay tối ưu Pareto. Khi người
tiêu dùng đến nhà thuốc mua thuốc trị cúm, họ có thể thất vọng vì giá thuốc Tamiflu quá
cao. Đồng thời, khi công ty dược sản xuất loại thuốc này, họ muốn giá thuốc phải cao
hơn. Đơn giản là người mua muốn trả ít, còn người bán muốn giá cao. Liệu có “giá thuốc
đúng” theo quan điểm xã hội không? Trong một thị trường cạnh tranh, áp lực cung và cầu
sẽ quyết định giá (và lượng) hàng hóa dịch vụ sao cho lợi ích của người tiêu dùng và nhà
sản xuất lớn nhất. Tại sao và như thế nào?
Hình dung ngày lễ Valentine. Có 28 cô gái xinh đẹp trong lớp và chỉ có một món quà mà
các cô mong đợi: một album nhạc luôn đứng đầu bảng xếp hạng của các giảng viên FETP
và chỉ có một đĩa CD duy nhất. Đĩa nhạc được bán ở phòng cô Kim Châu. Giả sử có bốn
anh nam xuất hiện, mỗi người được yêu cầu viết riêng ra một tờ giấy mức giá mà họ
con người cần được tôn trọng.
Chuyển sang khía cạnh khác của thị trường và xem bên bán được lợi gì từ thị trường.
Hình dung bạn sống trong KTX FETP và mọi người được giao thay phiên nấu một số bữa
ăn, nhưng đó là việc bạn chán nhất. Bốn cô gái, Mai, Lan, Quỳnh, Hồng sẵn sàng nhận
nấu giùm bạn cho cả năm nhưng và giá của mỗi người đưa ra là $900, $800, $600, $500.
Mới đầu, giá được đưa ra khá cao, sau đó giảm dần khi có người muốn làm giúp với giá
thấp hơn. Cuối cùng, Mai thắng với giá $580 vì mức sẵn lòng giúp của cô ấy chỉ là $500.
Như vậy, ta nói rằng Mai có được thặng dư sản xuất $80. Thặng dư sản xuất là chênh
lệch giữa số tiền mà người bán nhận được so với chi phí sản xuất. Vậy giá cao hơn tăng
thặng dư sản xuất.
Thặng dư xã hội là tổng thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất. Nếu sự phân phối
nguồn lực tối đa hóa tổng thặng dư, ta nói rằng phân bổ hiệu quả. Nếu phân bổ không
hiệu quả, nghĩa là có một số lợi ích giao dịch giữa bên mua và bán chưa được hiện thực
hóa. Nếu vẽ một điểm cân bằng thị trường, thì tổng diện tích giữa đường cung và cầu
giao tại điểm cân bằng sẽ là tổng thặng dư thị trường. Không có sự phân bổ nào khác
(nhiều hay ít hàng hóa hơn) có thể làm tăng phúc lợi của một nhóm mà không làm giảm
của nhóm khác. Tóm lại:
1. Thị trường cạnh tranh phân bổ cung hàng hóa cho những người mua nào cho giá
trị cao nhất, tính theo mức sẵn lòng chi trả của họ.
2. Thị trường cạnh tranh phân bổ cầu hàng hóa cho nhà sản xuất nào có thể sản xuất
chúng với chi phí thấp nhất.
3. Thị trường cạnh tranh tạo ra số lượng hàng hóa tối đa hóa tổng thặng dư tiêu dùng
và sản xuất.
Vậy chúng ta vừa chỉ ra rằng các áp lực cung và cầu trên thị trường cạnh tranh sẽ phân bổ
nguồn lực một cách hiệu quả. Nghĩa là, dù mỗi bên mua và bán hành động độc lập nhau
và chỉ quan tâm đến phúc lợi của mình, bàn tay vô hình vẫn đưa họ đạt đến sự cân bằng
Bài giảng này không nhằm gom toàn bộ môn học macro vào một buổi, mà mục tiêu là
minh họa tầm quan trọng của chính sách đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô. Bắt đầu bằng
vài câu hỏi đơn giản: các chu kỳ kinh tế là nội sinh hay ngoại sinh đối với nền kinh tế vĩ
mô? Tình trạng bong bóng tài sản có tồn tại không? Nếu có, các cơ quan tiền tệ phải phản
ứng như thế nào? Đây là những vấn đề rất quan trọng ở các nước đang phát triển và Việt
Nam đã gặp phải năm 2007-08. Chúng có thể xuất hiện trở lại trong năm nay.
Đã từ lâu kinh tế học có cách nhìn truyền thống về chu kỳ kinh tế (các giai đoạn bùng nổ
theo sau là suy thoái) như là được sinh ra từ bên ngoài những hoạt động chức năng thông
thường của thị trường. Nói cách khác, chu kỳ kinh tế đã được xem như “ngoại sinh” thay
vì “nội sinh”. Chúng ta có thể tìm nguồn gốc của quan điểm này từ nhà kinh tế người
Pháp, Jean-Baptiste Say, vào đầu thể kỷ 19. Say lập luận rằng qui trình sản xuất tạo ra thu
nhập cần thiết để mua hàng hóa được sản xuất. Qui luật của Say nhìn chung được đúc kết
thành câu phát biểu đơn giản nổi tiếng “cung sẽ tạo ra cầu của riêng nó”. Thật ra nói như
vậy hơi quá đơn giản, vì Say muốn nói rằng điều đó chỉ đúng trong nền kinh tế trao đổi, ở
đó hàng hóa này được mua bằng hàng hóa khác. Ý chính ở đây là không có tiêu dùng
dưới mức cân bằng trong một nền kinh tế làm tốt chức năng. Nó hàm ý rằng tiền tiết kiệm
như tài khoản ngân hàng, sẽ luôn chuyển thành hình thức đầu tư nào đó.
Nếu Qui luật của Say đúng, thì phía cầu của nền kinh tế là thụ động. Mọi việc quan trọng
đều được thực hiện ở phía cung. Nếu hàng hóa được sản xuất thì sẽ có người mua. Không
phải ông nói là nếu có ai đó sản xuất một triệu con vịt nhựa màu vàng thì một triệu con
vịt này sẽ được mua hết. Có thể dư hàng hóa ở một thị trường và thời điểm nhất định.
Nhưng tính bình quân, và xuyên suốt tất cả thị trường, qui trình sản xuất sẽ tạo ra thu
nhập và thu nhập sẽ chuyển thành sức cầu đủ để tiêu thụ hết thị trường hàng hóa được
cung cấp.
Qui luật của Say chiếm ưu thế trong tư duy kinh tế vĩ mô trong một thời gian dài. Tuy
nhiên thực tiễn cho thấy các nền kinh tế thường xuyên trải qua chu kỳ kinh tế. Tăng
trưởng kinh tế tăng tốc và thu nhập cùng việc làm tăng theo. Sau đó, khoảng một hay hai
làm nên ở nhà, khiến việc làm và tăng trưởng giảm đi.
Hàm ý chính sách của chu kỳ kinh tế thực là không có cơ sở để chính phủ can thiệp kích
thích nền kinh tế trong thời kỳ trì trệ và giảm thắt chặt tín dụng trong thời kỳ bùng nổ.
Những nguyên nhân đằng sau tốc độ tăng trưởng là nằm ngoài thị trường, do đó can thiệp
chỉ tạo ra biến dạng mà thôi. Nếu chính phủ muốn kích thích tăng trưởng thì cần thực
hiện ở phía cung thông qua các chương trình đào tạo, hỗ trợ nghiên cứu nâng cao năng
suất và giảm thuế để khuyến khích chủ lao động thuê nhiều nhân công.
Kỳ vọng của nhà đầu tư không phải là một yếu tố trong chu kỳ kinh tế thực, vì lý thuyết
giả định rằng kỳ vọng của nhà đầu tư phản ánh chính xác lợi nhuận kinh tế trong tương
lai. Điều này không có nghĩa là mỗi nhà đầu tư đều đoán đúng lợi nhuận tương lai của
mình, nhưng họ không sai một cách hệ thống: tính bình quân thì họ không đoán quá cao
hay quá thấp. Hệ quả về mặt tài chính của quan điểm này là “giả thuyết thị trường hiệu
quả”. Theo như tên gọi, giả thuyết này cho rằng các thị trường định giá mọi tài sản một
cách đúng đắn, ở đây cũng không có nghĩa là mức giá mà hàng ngày thị trường chứng
khoán định ra cho mỗi cổ phiếu có liên quan trực tiếp đến suất sinh lợi đầu tư ở những
công ty chủ thể. Nó chỉ đơn giản có nghĩa là thị trường chứng khoán không sai như dự
đoán. Giá thị trường có thể quá cao hay quá thấp, nhưng quá cao hay quá thấp chỉ là ngẫu
nhiên, không phải hệ thống. Khả năng giá quá cao hay quá thấp vào một ngày bất kỳ là
như nhau.
Bong bóng tài sản không tồn tại nếu các thị trường hiệu quả theo nghĩa này. Những lần
giá tăng mạnh phản ánh giá trị nền tảng thật sự của tài sản. Nếu đúng, thì ngân hàng trung
ương không nên hành động để hạn chế sự tiếp cận tín dụng khi giá tài sản đang tăng.
Tăng trưởng tín dụng luôn phản ánh sự chuyển động của nền kinh tế đến mức cân bằng
cao hơn.
Tiếc thay, bong bóng tài sản là một thực tế thường xuyên quan sát được trong đời sống
kinh tế. Nhiều nhà kinh tế đã gặp rắc rối khi phủ nhận sự tồn tại của chúng. Có lẽ ví dụ
giới. Nhà đầu tư hình thành kỳ vọng về lợi nhuận tương lai dựa vào những gì họ thấy và
vào bản năng của mình (Keynes gọi đó là “tâm lý bầy đàn”) để phát hiện các cơ hội kiếm
lợi nhuận. Họ so sánh những ước tính lợi nhuận tương lai tốt nhất của mình với lãi suất
đồng tiền hoặc việc giữ tiền mặt. Nếu vì lý do nào đó họ cho rằng lợi nhuận tương lai sẽ
không cao, thì họ sẽ không đầu tư. Sự liên kết tự động giữa cung và cầu và giữa đầu tư
với tiết kiệm bị ngắt đi. Cầu sẽ không đủ, buộc cung phải giảm, dẫn đến thất nghiệp và cả
giảm phát.
Nếu thị trường hoạt động tốt, ta có thể dự trù nhà đầu tư sẽ do dự và kết quả là dư thừa
tiết kiệm, dẫn đến lãi suất giảm đi. Khi lãi suất rất thấp thì đầu tư bắt đầu có lợi trở lại.
Keynes phủ nhận logic này, ông chỉ ra rằng ngay cả khi lãi suất thấp thì rủi ro tỉ suất lợi
nhuận được điều chỉnh từ đầu tư cũng có thể quá thấp. Nên giữ tiền mặt sẽ an toàn hơn.
Hơn nữa, khi lợi nhuận giảm thì sự dồi dào tiết kiệm có thể không có lợi chút nào. Các
ngân hàng sẽ thiếu tiền mặt khi họ bù cho các khoản nợ xấu từ những người đi vay khác
(đó là điều đang xảy ra hiện nay).
Một nhà kinh tế khác, Hyman Minsky, đã ứng dụng các lý thuyết của Keynes vào thị
trường tài chính. Giả thuyết về sự bất ổn tài chính của ông là đối nghịch với giả thuyết thị
trường hiệu quả. Theo Minsky, giá tài sản không nhất thiết gắn kết với bất kỳ giá trị thực
nào. Thật vậy, từ bên trong nội tại đã có khuynh hướng tạo ra bong bóng tài sản. Lý do là
giá tài sản đang tăng sẽ giúp người đi vay có giá trị thế chấp nhiều hơn để vay nhiều hơn,
điều này lại đẩy giá tài sản tăng lên nữa. Trong khi đó, các tổ chức tài chính lại phát minh
ra những công cụ mới để tăng tốc độ đòn cân nợ nhanh hơn. Trong giai đoạn bùng nổ,
một qui trình tự củng cố diễn ra trong đó mọi người cảm thấy họ dường như giàu hơn, và
các ngân hàng thì sẵn sàng tài trợ đầu tư để giúp họ cảm thấy giàu hơn. Cuối cùng, khi số
người không trả được nợ tăng đủ lớn thì tiến trình vãng nợ bắt đầu theo hướng ngược lại.
Mọi người bán tài sản để trả nợ, giá tài sản giảm, tạo ra sự đổ vỡ.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2009-2010
Nhập môn chính sách công
để chúng không bị sụp đổ. Các chính phủ trên thế giới đồng loạt sử dụng chính sách ngân
sách để bơm sức cầu vào nền kinh tế. Rõ ràng cung không tự nó tạo ra cầu.
Những hàm ý chính sách của câu chuyện này đã rõ. Các nền kinh tế không tự điều tiết,
chủ yếu vì đầu tư không có tính dự đoán được như tiêu dùng. Qui luật Say không còn
vững: khi kỳ vọng lợi nhuận tương lai là thấp, thì sức cầu có thể trôi khỏi hệ thống khi
các nhà đầu tư triệt tiêu tín dụng (trả hết nợ) hay chỉ giữ tiền mặt. Khi tình hình tốt đẹp,
nhà đầu tư trả giá cao cho tài sản, ngân hàng mở rộng tín dụng bơm thêm cầu vào nền
kinh tế. Sự bất ổn là một phần tự nhiên của hệ thống kinh tế.
Chính phủ có thể làm gì? Bài học đầu tiên là theo dõi tăng trưởng tín dụng và giá tài sản.
Khi cung tín dụng tăng nhanh hơn nền kinh tế, thì bong bóng tài sản sẽ là trước mắt. Các
cơ quan tiền tệ phải làm những gì cần thiết để hạn chế cho vay mới, ví dụ nâng lãi suất
hay dự trữ bắt buộc. Bài học thứ hai là cần có những qui định và giám sát tài chính để
ngăn chặn các ngân hàng ôm quá nhiều rủi ro. Sự qui định chặc chẽ hơn nợ tín dụng nhà
ở cấp ba và các công cụ chứng khoán tín dụng nhà ở Mỹ nếu có đã ngăn chặn được cuộc
khủng hoảng hiện nay xảy ra.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2009-2010
Nhập môn chính sách công
và phân tích thể chế
Bài 11 1
sao.Nếu mà biết chắc chắn chất lượng của chiếc xe đó, mức giá mà bạn phải trả hẳn là sẽ
thể hiện đúng mức độ sẵn lòng chi trả của bạn và mức độ sẵn lòng bán của cô hàng xóm.
Trong trường hợp thứ nhất, sự bất cân xứng thông tin là do một hành động không quan
sát được gây nên. Trong trường hợp thứ hai, sự bất cân xứng thông tin là do một tính
chất không quan sát được gây nên.
Khi có một hành động không thể quan sát được tạo ra sự bất cân xứng thông tin, ta gọi đó
là trường hợp tâm lý ỷ lại, hay còn gòi là rủi ro về đạo đức (moral hazard). Rủi ro đạo
đức là hiện tượng một người có hành động mà người khác không thể quan sát được có xu
hướng gian dối, không trung thực hay biểu hiện những hành vi không tốt. Rủi ro đạo đức
xảy ra khi một cá nhân hay một tập thể không chịu toàn bộ trách nhiệm hay hậu quả cho
việc làm của mình, và vì vậy có biểu hiện ít cận thận hơn, và làm cho người khác phải
chịu một phần trách nhiệm hay hậu quả việc làm của mình. Trong ví dụ trên, người làm
công sẽ có xu hướng nỗ lực ít hoặc che dấu không cho người chủ biết mình đã bỏ ra bao
nhiêu nỗ lực. Ở trường học, các thầy cô giáo muốn học sinh thật cố gắng nỗ lực học
tập. Nếu có thể quan sát được nỗ lực của các bạn thì các thầy cô có thể đánh giá thưởng
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2009-2010
Nhập môn chính sách công
và phân tích thể chế
Bài 11 2
phạt cho bạn thông qua nỗ lực đó. Nhưng vì thầy cô không thể quan sát được nỗ lực, có
nhiều học sinh thường bỏ ít nỗ lực hơn so với thầy cô mong đợi. Khi bạn vào thành phố
HCMC và đi thuê nhà, bà chủ nhà không biết bạn là ai, có giữ gìn nhà cửa hay không, và
vì thế thường yêu cầu bạn nộp một khoản tiền đặt cọc, còn bạn vì không phải là chủ nhà,
và vì hành động của mình là không thể quan sát được, thường có xu hướng không giữ gìn
Trong thị trường lao động, công nhân thường biết rõ hơn về năng lực của mình so
với chủ của họ. Vì thế, khi doanh nghiệp cắt giảm lương, những người tài năng
nhất ở doanh nghiệp sẽ ra đi sớm nhất. Vì vậy, đôi khi doanh nghiệp phải cho
những mức lương cao hơn mức thị trường để thu hút nguồn nhân lực có tài.
Một cách khác để phân biệt giữa rủi ro đạo đức và lựa chọn ngược:
- Lựa chọn ngược là hậu quả của thông tin bất cân xứng trước khi giao dịch xảy ra.
- Tâm lý ỷ lại là hậu quả của thông tin bất cân xứng sau khi giao dịch xảy ra.
Giải pháp tư nhân. Trong tất cả các ví dụ này, “bàn tay vô hình” không còn hiệu quả
trong việc điều phối để cung và cầu gặp nhau. Tuy nhiên, thị trường vẫn có những phản
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2009-2010
Nhập môn chính sách công
và phân tích thể chế
Bài 11 3
ứng thích nghi với hiện tượng bất cân xứng thông tin này bằng nhiều cách. Ví dụ, bên có
nhiều thông tin hơn thường có thể phát tín hiệu (signaling) để thị trường có thể nhận ra
thông tin mà chỉ họ mới có. Ngược lại, bên không có thông tin thường chọn cách sàng
lọc (screening), nhằm mục đích làm cho bên có nhiều thông tin hơn cung cấp một cách tự
nguyện một số thông tin riêng mà họ có.
Ví dụ về hiện tượng phát tín hiệu. Những học sinh chăm chỉ thường xuyên phát tín hiệu
với giảng viên rằng họ không phải nhóm “nỗ lực ít” bằng cách thường xuyên nộp bài tập
đúng hẹn hoặc sớm hơn hạn định, gặp giảng viên thường xuyên trước ngày bài tập phải
nộp… Trong thị trường lao động, người lao động có thể đi học MPP ở trường Fulbright
Nói ngắn gọn, nhà nước đóng một vai trò quan trọng, và có khả năng hạn chế hay giảm
bớt sự bất cân xứng thông tin trên thị trường thông qua việc tạo ra một thể chế pháp lý
hiệu quả. Nhà nước có thể làm được việc đó hay không, với những tiềm năng và hạn chế
như thế nào, chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu về thất bại của nhà nước trong những bài sau.