Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Đại học Quốc gia Hà Nội
2006
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam
Luận văn ThS. Kinh tế
Nguyễn Thị Thu Trà
MỤC LỤC
Mở đầu.................................................................................................................
2
Chương 1. Sở hữu trí tuệ và vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong
kinh tế thị trường.............................................................................
7
1.1. Sở hữu trí tuệ và việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ...............................
7
1.2. Kinh nghiệm của một số nước về bảo hộ quyền sở hữu trí tụê............
22
Chương 2. Tình hình về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong thời
gian qua.....................................................................................
34
2.1. Tình hình đăng ký quyền sở hữu trí tụệ ở Việt Nam trong thời gian qua.....
3.4. Trừng trị nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu trí
......................................................................................................
Kết luận.....................................................................................................
Danh mục tài liệu tham khảo......................................................................
tuệ
94
97
100
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện cách mạng Khoa học và Công nghệ diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Một số
nước phát triển nhất đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì tri thức ngày càng trở thành nhân
tố sản xuất hàng đầu và là một loại hàng hoá công cộng. Hiệu quả sử dụng đòi hỏi phải truyền bá
miễn phí các tri thức, nhưng nếu không có phí sử dụng thì không thể khuyến khích sản xuất ra tri
thức. Bởi vậy phải bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Vì thế vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên thế
giới nói chung có tầm quan trọng đặc biệt. Ở Việt Nam nói riêng theo xu hướng tất yếu của tiến
trình hội nhập kinh tế Quốc tế, khung pháp lý để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng ngày càng
được hoàn thiện.
Số lượng các tổ chức, các nhân đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đã tăng
lên đáng kể đặc biệt là các thành phố lớn như: Hà nội, Hải phòng, Đà nẵng, Thành phố Hồ Chí
Minh… Trong số các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài đăng ký quyền sở hữu trí tuệ vào Việt Nam
phải kể đến các nước hàng đầu như: Pháp, Đức, Mỹ, Italia, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc… Trên
cơ sở xác định cơ sở pháp lý để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ các nhà đầu tư nước ngoài cũng như
trong nước an tâm hơn trong việc sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam, chống lại việc cạnh tranh
không lành mạnh, cấm sản xuất và buôn bán hàng giả, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người
sản xuất và người tiêu dùng. Nhiều đơn vị sản xuất và buôn bán hàng giả đã bị phát hiện và xử
lý.
Năm 2001 - 2005 Trường Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn có một số luận văn thạc sĩ về đề tài này như: Nguyễn Thị Hồng Yến: “Thực thi
quyền sở hữu trí tuệ theo hiệp định TRIPS/WTO trong so sánh với pháp luật Việt Nam” Chuyên ngành Luật học.
Các đề tài trên đều nghiên cứu dưới góc độ pháp luật chưa đi sâu nghiên cứu dưới góc độ
kinh tế và ảnh hưởng của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
Năm 2005 tại Học viện Nguyễn Ái Quốc, Ngô Tuấn Nghĩa đã bảo vệ thành công luận
văn thạc sĩ: “Sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường” - Chuyên ngành Kinh tế chính trị nhưng
đó là một đề tài rất rộng nghiên cứu về sở hữu trí tuệ chứ chưa nghiên cứu dưới góc độ bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường.
Thời gian gần đây đã có nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế do Cục sở hữu trí tuệ tổ
chức, đã có nhiều báo cáo trình bầy về từng vấn đề cụ thể về Luật sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống về bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, nhất là phân tích một cách sâu sắc sự tác động của nó đối với
sự phát triển kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn là tìm hiểu lý luận về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và vai trò của
nó đối với việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Từ đó đề xuất những phương hướng và giải
pháp khả thi nhằm thực hiện nghiêm việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và phân tích tác
động của nó đến sự phát triển kinh tế nói chung.
+ Khảo sát tình hình thực thi việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong thời gian
qua và ảnh hưởng của nó đến việc phát triển kinh tế xã hội.
+ Đề xuất những giải pháp chủ yếu ở tầm vĩ mô để thực thi nghiêm việc bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu.
Tuy có đề cập cơ sở pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ, nhưng luận văn không đi sâu nghiên
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Sở hữu trí tuệ và việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1. Quyền sở hữu trí tuệ
Sang đầu thế kỷ XXI, nhiều nước phát triển trên thế giới đang chuyển biến mạnh mẽ từ
nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn
minh trí tuệ. Trong bối cảnh đó, tri thức trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất, đóng góp
vào sự phát triển kinh tế xã hội. Con người có tri thức khoa học và công nghệ cùng với kỹ năng
lao động cao là lợi thế có ý nghĩa quyết định sự phát triển của mọi quốc gia, các lợi thế tự nhiên
(tài nguyên thiên nhiên, nhân lực rẻ, vốn…) ngày càng lui xuống hàng thứ yếu. Chính vì vậy
trong nền kinh tế tri thức, quyền sở hữu đối với tri thức hay là quyền sở hữu trí tuệ trở thành
quan trọng nhất hơn cả quyền sở hữu về vốn, tài nguyên thiên nhiên và đất đai. Giá trị xã hội cũ
lấy sản phẩm vật chất làm chủ đạo nay đang được thay thế bằng giá trị mới lấy việc sản xuất
thông tin, tri thức để tiến hành sản xuất làm chủ đạo. Ai nắm được tri thức thì người đó dành
được ưu thế và thắng lợi trong cuộc cạnh tranh. Đây là tài sản vô hình nhưng có khả năng tạo ra
những giá trị vật chất và tinh thần to lớn, mang lại sức mạnh và ưu thế cạnh tranh cho chủ sở
hữu.
Sở hữu trí tuệ được thể chế hoá thành các quyền cụ thể bao gồm quyền tác giả (đối với
tác phẩm), quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền đối với sự trình diễn tác phẩm) và quyền sở
hữu công nghiệp (quyền đối với phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp,
nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật kinh
doanh...).
1.1.2. Những đặc điểm của tài sản trí tuệ
+ Thứ nhất: Đó là tài sản vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể và khó kiểm soát.
Tài sản trí tuệ là nguồn khai thác vô tận không bao giờ cạn kiệt, có thể rất nhiều người
chiếm hữu và sử dụng nó mà không làm giảm đi giá trị thực tế của nó. Một tri thức có thể thuộc
quyền sở hữu của nhiều người. Có thể vô số người cùng sử dụng một tri thức mà không ai mất
phần. Một người có thể sử dụng nhiều lần mà không phải trả thêm tiền. Người sau có thể kế thừa
“tài sản trí tuệ” của người đi trước để tạo ra một tri thức mới. Bởi vậy, tài sản trí tuệ là tài sản
khó kiểm soát nhất.
+ Thứ hai: Chi phí cho nghiên cứu rất lớn nhưng sản phẩm lại rẻ.
hơn. Do đó thời gian bảo hộ quá dài, sẽ cản trở tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Ví dụ: Việc Quốc hội Anh kéo dài thời gian bảo hộ bằng sáng chế cấp cho Watt tới 25
năm đã dẫn tới chỗ Watt cản trở việc ứng dụng hơi nước có áp lực cao vào nghành đường sắt.
Nếu độc quyền của Watt chấm dứt trước năm 1783 thì nước Anh sẽ có đường sắt sớm hơn [84].
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt:
1.
Quản Tuấn An (2002), “Các hiệp định song phương về quyền tác giả đã ký và được thực
hiện tại Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (2-212), tr.35.
2.
Vũ Ngọc Anh (1998), Khái niệm thực tiễn của hải quan Việt Nam trong việc thực thi pháp
luật về sở hữu trí tuệ, Tài liệu hội thảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới 1998.
3.
Nguyễn Thị Quế Anh - Vũ Trọng Lâm (8/2003), “Pháp luật về quyền tác giả ở Liên bang
Nga”, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, (số 4).
4.
Nguyễn Thị Quế Anh (2004), Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về xác lập
quyền sở hữu công nghiệp, Đóng góp luật dự thảo quyền sở hữu trí tuệ.
5.
12.
Lê Thế Bảo (2004), Lực lượng quản lý thị trường với công tác đấu tranh chống hàng giả
và hàng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, Cục sở hữu trí tuệ.
13.
Đỗ Đức Bình (2004), “Quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế
phát triển.
14.
Bộ Khoa học công nghệ (14/7/2004), Chỉ thị số 18/2004/CT - BKHCN của Bộ trưởng Bộ
Khoa học công nghệ về việc tăng cường công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ và quản lý
chất lượng sản phẩm hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa nhập khẩu.
15.
Nguyễn Văn Cường (2005), “Một số ý kiến về việc sửa đổi hoàn thiện các quy trình bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ trong dự thảo luật dân sự (sửa đổi)”, Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật, Số chuyên đề pháp luật về sở hữu trí tuệ.
16.
Cục Bản quyền tác giả Văn học nghệ thuật (2005), Báo cáo công tác từ năm 2001 - 2005
và phương pháp hướng nhiệm vụ năm 2006 - 2010.
17.
Cục Sở hữu trí tuệ (2004), Các thông tin khái quát mà các doanh nhân cần biết về sở hữu
Phan Việt Dũng (2002), “Quản lý tập thể quyền tác giả và khả năng thực thi ở Việt Nam”,
Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (2-212), tr.27.
24.
Vũ Thế Dũng (2005), “Quốc tế hóa thương hiệu Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển,
(6).
25.
Đặng Đình Đào (2004), “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”,
Tạp chí Kinh tế phát triển, (10).
26.
Văn Giang (26/4/2006), “Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đã đế hồi nóng bỏng?”, Báo Hà
Nội mới.
27.
Nguyễn Thanh Hằng (28/11/2003), “Sự khác biệt về hàng giả và hàng vi phạm quyền sở
hữu công nghiệp”, Tạp chí Tin tức hoạt động sở hữu công nghiệp.
28.
Nguyễn Thanh Hằng (28/11/2003), “Bảo hộ tên thương mại và nhãn hiệu hàng hóa những
quy định pháp luật chưa đồng bộ”, Tạp chí Tin tức hoạt động sở hữu công nghiệp.
29.
35.
Nguyễn Hữu Hiển (2004), “Hiệp định TRIPS, thách thức của Việt Nam trong tiến trình gia
nhập WTO”, Tạp chí Những vấn đề khoa học thế giới, (12-104).
36.
Hoàng Phước Hiệp (2005), “Các quy định của pháp luật Việt Nam cần sửa đổi bổ sung khi
gia nhập WTO và thực hiện hiệp định thương mại Việt – Mỹ”, Tạp chí Pháp luật và Kinh
tế, (6-159).
37.
Bùi Đăng Hiếu (2003), “Quá trình phát triển của khái niệm quyền sở hữu”, Tạp chí Luật
học, (7).
38.
Như Hoa (20/5/2005), “Khắc phục tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm”, Báo nhân
dân.
39.
Đặng Vũ Huân (2005), “Nâng cao vai trò nhận thức xã hội trong hoạt động bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (5-158).
40.
Hồ Ngọc Lâm (2002), “Các quy định hiện hành về quyền tác giả của Việt Nam với tiến
trình thực hiện hiệp định thương mại Việt Mỹ”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, (2-212),
47.
Quang Minh (2004), “Vi phạm nhãn hiệu hàng hóa, những thiệt hại đối với doanh nghiệp
và người tiêu dùng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề pháp luật sở hữu trí tuệ.
48.
Đoàn Năng (2004), “Thực trạng pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Dân chủ
và Pháp luật, Số chuyên đề pháp luật về sở hữu trí tuệ.
49.
Đoàn Năng (2004), Mối quan hệ giữa các quy định về sở hữu trí tuệ với bộ luật dân sự và
các đạo luật khác có liên quan. Tài liệu hội thảo ngày 28/10/2004 tại Hà Nội.
50.
Đoàn Năng, Yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
đối với việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ.
51.
Nền kinh tế tri thức - Nhận thức hành động. Kinh nghiệm của các nước phát triển và đang
phát triển (2000). Nxb Thống kê, Hà Nội.
52.
Ngô Tuấn Nghĩa (2005), Sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường, Luận Văn thạc sỹ
kinh tế.
chí Kinh tế và Phát triển, (4), tr.39-46.
59.
Nguyễn Thanh Tâm (2004), “Bước đầu đánh giá thực trạng pháp luật về thực thi quyền sở
hữu công nghiệp nhằm bảo vệ lợi ích thương mại ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (6).
60.
Lê Xuân Thảo (11/2003), “Nhu cầu thông tin về sở hữu công nghiệp”, Tạp chí Tin tức
hoạt động sử hữu công nghiệp, (28).
61.
Lê Xuân Thảo (2005), Đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về sửo hữu trí tuệ, Nxb
Tư pháp, Hà Nội.
62.
Tất Thắng (2002), “Quyền tác giả và tiếng nói người trong cuộc”, Tạp chí Văn hoá nghệ
thuật, (2-212), tr.47.
63.
Đinh Văn Thanh (2004), “Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam trong điều kiện thế giới hiện
nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (4).
64.
Kiều Thanh (2004), “Những khác biệt cơ bản giữa hai lĩnh vực của sở hữu trí tuệ”, Tạp chí
71.
Thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới, Hội thảo tổ chức tại Hà Nội ngày 20 - 22 tháng
8/1998.
72.
Đỗ Thế Tùng (2005), “Tác động của kinh tế tri thức đến quan hệ sản xuất”, Tạp chí Thông
tin những vấn đề kinh tế chính trị, (5, 6).
73.
Nguyễn Anh Tuấn (2004), “Sử dụng thương hiệu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên
thị trường quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, (4).
74.
Nguyễn Anh Tuấn (2006), “Thưong hiệu quốc gia - tổng hoà của nhiều nhân tố”, Tạp chí
Tia sáng, (10).
75.
Đoàn Văn Trường (2004), “Vai trò của quyền sở hữu trí tuệ trong phát triển kinh tế”, Tạp
chí Nghiên cứu kinh tế, (316), tr.6.
76.
Vũ Lê Trung (2004), “Bảo hộ quyền sở hữu công Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
và những vấn đề nghiệp và vấn đề xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của công ty
Mai Thị Hải Yến (2005), Một số vấn đề về quyền tác giả có yếu tố nước ngoài, Khóa luận
tốt nghiệp đại học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
83.
Vũ Thị Hồng Yến (2003), Thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo hiệp định TRIPS/WTO trong
so sánh với pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật, Hà Nội.
Tiếng nước ngoài:
84.
Dominique Foray (2000), Kinh tế tri thức, NXB La Decowerte Daris (Bản dịch, tập 1,
chương V, VI).
85.
Kamul Jdris (2003), Intellectual property- Apower toll for Economic Growth, WIPO,
Geneva.
86.
Trade related Intellectual Property Rights (TRIPS) and Farmefs’Rights.