CẢIOCÁCH
THỐNG
GIÁO
DỤC
KỶ YẾU HỘI THẢ
QUỐCCƠ
TẾ CẤU
VIỆTHỆ
NAM
HỌC LẦ
N THỨ
BAQUỐC DÂN…
TIĨU BAN GI¸O DơC Vµ §µO T¹O NGN NH¢N LùC
C¶I C¸CH C¥ CÊU HƯ THèNG GI¸O DơC QC D¢N 1§¸P øNG NHU CÇU NH¢N LùC
TRONG BèI C¶NH TOµN CÇU HãA
PGS. TS Đặng Danh Ánh*
Khi đề cập tới hệ thống giáo dục quốc dân (GDQD) 2 tơi cứ tự hỏi vì
sao cần cải cách cơ cấu hệ thống GDQD hiện nay. Nhìn chung, tác giả
viết bài này với ý thức xây dựng, nói thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật
(theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ VI). Ý thức ấy khơng xuất phát từ
dụng ý xấu hay nhằm phủ nhận những thành tựu mà nền giáo dục nước
nhà đã đạt được mà xuất phát từ sự tâm huyết đối với sự nghiệp giáo
dục thế hệ trẻ, từ sự nhận thức của tác giả rằng: Nhà nước, ngành giáo
dục và tồn xã hội phải làm nhiều hơn nữa cho giáo dục, bản thân
ngành giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ có tính cách mạng hơn nữa nếu
muốn đạt được mục đích của mình.
Từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến nay, chúng ta đã tiến hành ba
cuộc cải cách giáo dục (CCGD): Cuộc CCGD lần thứ nhất bắt đầu từ năm
nhà đang bị xiêu vẹo, mái nhà đang dột nát thì mọi trang trí nội thất đều
trở nên vô nghĩa. Do vậy, việc trước tiên cần làm ngay là cải cách cơ cấu
hệ thống GDQD hiện nay vì những yếu kém sau đây:
1. Mất cân đối về các loại hình trường và đội ngũ giáo viên
3
Bậc học
Số trường
năm học 2006 - 2007
Số giáo viên
năm 2006 - 2007
GD phổ thông (GDPT)
27.956 trong đó có 12.755 là
trường THCS + THPT
780.601
Dạy nghề (DN)
262
8.394
TCCN
mà không được triển khai trên thực tế và vì sao bậc dạy nghề trong giáo
dục vẫn phát triển chậm và chưa có sự “bứt phá”.
4
CẢI CÁCH CƠ CẤU HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN…
2. Mất cân đối trong cơ cấu phân luồng học sinh phổ thông
(PLHSPT) sau trung học và công tác hướng nghiệp yếu (xem chi tiết của
Đặng Danh Ánh: Tư vấn nghề và PLHS sau trung học, đọc tại hội thảo
quốc tế “Đối thoại Pháp - Á về hướng nghiệp” do Đại sứ quán Pháp và
Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức 11/1/2005).
Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “coi trọng công tác
hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học, chuẩn bị cho thanh
niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong cả nước và từng địa phương...” 6 nhưng chúng ta đã không
làm được như vậy. Trong nhiều năm qua, công tác hướng nghiệp và PLHS
sau trung học cơ sở (THCS), trung học phổ thông (THPT) còn yếu kém 7
và chưa được quan tâm đúng mức; 8 điều đó được thể hiện như sau:
2.1. PLHS sau THCS vào THPT rất cao: có sự tăng đột biến
trong việc tuyển mới học sinh sau THCS vào THPT từ 136.485 học sinh
(40,27%) năm học 1990 - 1991 tăng lên 1.260.145 học sinh (79,8%)
năm học 2005 - 2006 9. Trong khi đó Trung Quốc (ở giáp nước ta, có
phong tục tập quán giống nhau, thể chế chính trị giống nhau, cùng đi
lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu và cùng là nước đang phát triển)
đã làm một cuộc cách mạng trong PLHS sau THCS vào THPT rất thành
công: từ 90% học sinh sau THCS vào THPT năm học 1979 - 1980 giảm
xuống còn 43,3% năm học 1995 - 1996 (10) . Số còn lại 56,7% đi học
nghề.
có 8 Hs học nghề.
2.4. Hậu quả của chính sách không đúng trong PLHS và
trong hướng nghiệp: Một là, sự chênh lệch đáng kể giữa tỷ lệ PLHS
sau THCS vào THPT (79,8%) so với Dạy nghề (9,3%) sẽ tạo ra “sức ép
tâm lý” rất lớn đối vói Hs, phụ huynh Hs và toàn xã hội khi kỳ thi Cao
đẳng, Đại học đến gần. Chính điều này gây ra tình trạng “quá tải” “chạy
đua” vào các trường Cao đẳng, Đại học; đồng thời gây ra thảm trạng
“dạy thêm, học thêm” tràn lan trong nhiều năm qua.
Hai là, các cuộc “chạy đua” đó gây tốn kém kinh phí không chỉ cho
Nhà nước mà còn đối với nhân dân nữa. Riêng việc đi lại, ăn ở của trên 2
triệu lượt thí sinh và gia đình hàng năm trung bình ước tính tốn khoảng
1.000 tỷ đồng.
Ba là, đa số các ngành đào tạo trong trường Trung cấp chuyên
nghiệp và Dạy nghề chỉ cần tuyển Hs sau THCS, nhưng vì Hs sau THPT
thừa nhiều thì các trường Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề không
“dại gì” mà không tuyển Hs sau THPT. Như vậy, số Hs tốt nghiệp THCS
không được vào THPT (25% hàng năm) sẽ không có cơ hội học tiếp các
trường Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề. Các hiện tượng tiêu cực,
các tệ nạn xã hội từ đó mà ra.
Bốn là, sự bất hợp lý trong cơ cấu tuyển Hs sau THPT vào Cao
đẳng, Đại học (46,6%) so với Dạy nghề (9,3%) sẽ làm mất cân đối
trầm trọng cơ cấu đào tạo và tất yếu làm mất cân đối cơ cấu nguồn
nhân lực, cơ cấu các trình độ tại các doanh nghiệp.
3. Mất cân đối trong cơ cấu tuyển sinh và cơ cấu đào tạo
Tình hình PLHS sau trung học như trên đã làm nảy sinh sự mất cân
đối trong cơ cấu tuyển sinh và cơ cấu đào tạo. Vấn đề này diễn ra trong
nhiều năm, chúng tôi chỉ nêu lên năm 2005 - 2006 làm ví dụ:
- Về cơ cấu tuyển sinh12
6
học.
+ Các nước đang phát triển: Dạy nghề - Giáo dục phổ thông - Đại
học.
+ Các nước phát triển: Đại học - Dạy nghề - Giáo dục phổ thông.
Hiện nay đáng lẽ chúng ta phải phát triển nhiều giáo dục dạy nghề
thì lại phát triển nhiều giáo dục đại học; trong khi đó một số người lại
nêu ra rằng thời kỳ “đại học tinh hoa” đã qua rồi, thay vào đó là “đại
học đại chúng”. Như vậy giáo dục đại học và dạy nghề của chúng ta đã
7
Đặng Danh Ánh
phát triển không phụ thuộc vào kinh tế mà phụ thuộc vào ý tưởng của
một số cá nhân.
Phải nói thật là chúng ta có thói quen lấy mình làm thước đo chính
mình, không có thói quen so sánh với các nước xung quanh. Vì thế trong
thời điểm hiện nay, khi mà GDP/đầu người của chúng ta là 700USD chỉ
bằng 1/85 Mỹ, 1/60 của Nhật, 1/43 của Đài Loan, 1/37 của Hàn Quốc,
1/4 của Thái Lan, 1/3 của Trung Quốc... thì những người nêu ra “đại học
đại chúng” chỉ là ảo tưởng phi thực tế, làm cho nền giáo dục nước nhà đi
chệch hướng.
4. Mất cân đối trong cơ cấu nguồn nhân lực
Muốn biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một
nước công nghiệp phát triển, đủ sức cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu
hoá thì cần có nguồn nhân lực đủ các cấp trình độ và được bố trí hợp lý.
Nhưng, như trên đã trình bày, trong nhiều năm qua cơ cấu đào tạo của
chúng ta rất bất hợp lý, tất yếu dẫn tới cơ cấu nguồn nhân lực bị mất
cân đối nghiêm trọng. Tỷ lệ Đại học/Trung học chuyên nghiệp/Công nhân
kỹ thuật là:
- Khu vực công nghiệp theo tỷ lệ: Đại học/Trung học chuyên nghiệp
/Công nhân kỹ thuật.
8
CẢI CÁCH CƠ CẤU HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN…
+ Ở giai đoạn cơ khí hoá: 1 kỹ sư + 4 trung cấp + 60 công nhân kỹ
thuật lành nghề + 20 công nhân bán lành nghề và 15 lao động phổ
thông.
+ Ở giai đoạn thiết bị tự động hoá một phần trong từng khu vực, cơ
cấu nhân lực được bố trí là: 1 Cán bộ nghiên cứu + 17 kỹ sư + 21 kỹ
thuật viên + 60 công nhân lành nghề + 11 công nhân bán lành nghề,
không có lao động phổ thông.
- Ở giai đoạn tự động hoá toàn bộ mạng hệ thống chương trình và
công nghệ thông tin phát triển thì cơ cấu nhân lực được bố trí theo hình
tháp cụt: 4 cán bộ nghiên cứu + 25 kỹ sư + 50 kỹ thuật viên + 21 công
nhân lành nghề. Giờ đây không có công nhân tay nghề thấp và không có
lao động phổ thông, còn công nhân lành nghề giảm, xuất hiện loại công
nhân “cổ trắng, cổ vàng”, lao động của họ có tính chất trí tuệ cao gần
giống như lao động của kỹ sư, nhưng nhân viên dịch vụ tăng và tăng cả
số lượng kỹ sư và kỹ thuật viên. Các nhà khoa học cho rằng: Nhìn chung
trong suốt các giai đoạn tiến bộ kỹ thuật, lực lượng nòng cốt của nền
sản xuất công nghiệp bao giờ cũng vẫn là công nhân lành nghề, chỉ khi
nào bước sang nền kinh tế hậu công nghiệp (kinh tế tri thức) thì những
người công nhân lành nghề ấy chuyển hoá dần thành kỹ thuật viên
trung cấp và kỹ sư.
Năm 1985, ở Hàn Quốc trong thời kỳ giữa công nghiệp hoá cơ cấu
nguồn nhân lực được bố trí theo một tỷ lệ chung là 1/ 5/ 25.
5. Quy mô mở rộng nhưng chất lượng giáo dục yếu
quả chưa cao. Ông dẫn chứng năm 2006: Đại học Seoul có 4560 bài báo
đăng trên tạp chí danh tiếng; Đại học Bắc Kinh 2892 bài; Đại học NUS
(Singapone) 3684 bài; Đại học Chulalongkon (Thái) 734 bài thì Đại học
Quốc gia và Đại học Bách Khoa Hà Nội của Việt Nam chỉ có 68 bài. Đầu
năm 2008, Hội đồng Đài Loan xếp hạng 500 trường đại học hàng đầu
thế giới năm 2007 cho kết quả: Nhật có 32 trường; Hàn Quốc và Trung
Quốc có 9 trường; Singapore có 2 trường; Việt Nam không có trường nào
(Báo Lao động 7/1/2008). Số liệu điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo
công bố tạo hội nghị toàn quốc đánh giá chất lượng giáo dục diễn ra tại
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 5/1/08 làm người ta giật mình: 50% sinh
viên tốt nghiệp làm việc tại các doanh nghiệp phải đào tạo lại.
Những số liệu trên đây là tiếng chuông cảnh báo đối với các nhà
trường, các nhà quản lý giáo dục và các cấp chính quyền từ trung ương
tới địa phương suy nghĩ tìm cách nâng cao chất lượng đào tạo.
6. Chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh toàn cầu
của nền kinh tế thấp và giảm dần
Về chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam rất thấp và đang giảm
dần: Trong 3 năm (1998-2000), Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã đánh
giá chất lượng nguồn nhân lực của 59 quốc gia để xếp hạng về lợi thế
cạnh tranh bằng cách cho 100 điểm thì chất lượng nguồn nhân lực Việt
Nam chỉ đạt 32/100 và năng lực cạnh tranh toàn cầu của nền kinh tế
được xếp hạng như sau:
+ Năm 1998 được xếp hạng thứ 39/ 59 quốc gia.
+ Năm 1999 được xếp hạng thứ 48/ 59 quốc gia.
+ Năm 2000 được xếp hạng thứ 53/ 59 quốc gia.
10
CẢI CÁCH CƠ CẤU HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN…
đầy đủ những thành quả của giáo dục phổ thông mang lại.
Khi xem xét mối quan hệ giữa 3 hệ thống giáo dục này người ta
thấy nổi lên sự bất bình đẳng giữa dạy nghề với giáo dục phổ thông,
giữa dạy nghề với giáo dục đại học không chỉ về mặt đầu tư tài chính
cho dạy nghề thấp (năm 2006 là 6,5%) không chỉ về quy mô tuyển sinh
và cơ chế chính sách đối với người dạy người học, cỡ con dấu nhỏ của
các trường dạy nghề (28 ly) mà còn về con đường thăng tiến nghề
nghiệp cho học sinh học nghề. Người ta có thể hỏi: Tại sao học sinh tốt
nghiệp THPT dù giỏi hay kém đều được thi vào Cao đẳng, Đại học, tình
trạng đó đã gây nên “sự ùn tắc” “quá tải” như hiện nay; còn học sinh
học nghề dù có xuất sắc cũng bị “chặn đứng” không có con đường đi
11
Đặng Danh Ánh
lên. Sự bất bình đẳng này đã làm xuất hiện trong học sinh phổ thông
tâm lý khá phổ biến là không thích đi học nghề vì học sinh học nghề cảm
thấy bị phân biệt đối xử (nhất là trong tình hình hiện nay khi các trường
Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học đều được mở hệ dạy nghề
thì họ sẽ quan tâm tới cấp học cao hơn) kể cả sau khi ra trường công tác từ đó dẫn đến số thanh niên thất nghiệp tăng lên, kéo theo sau nó là
những tệ nạn xã hội khác.
Để giải quyết sự bất bình đẳng này, việc cần làm ngay là cải cách
chính sách hướng nghiệp, phân luồng và liên thông trong hệ thống
GDQD nhằm tạo cơ sở cho học sinh học nghề, học sinh Trung học
chuyên nghiệp được quyền học tiếp Cao đẳng, Đại học khi đã hội đủ các
điểu kiện nhập học, đồng thời phải xây dựng hệ thống GDQD hoàn
chỉnh, trong đó hệ thống dạy nghề phải được phát triển rộng khắp theo
hướng đi từ trình độ thấp đến trình độ cao và phải được coi là một thành
phần của hệ thống giáo dục suốt đời. Cơ cấu hệ thống GDQD mới cần có
theo khối nào), tránh được những khó khăn trong phân ban hiện nay. Khi
tốt nghiệp THN, Hs vừa có bằng tốt nghiệp bổ túc THPT, vừa có bằng
nghề 3/7 thì các em có quyền học liên thông lên Cao đẳng, Đại học; từ
đó giải toả được băn khoăn của phụ huynh muốn con em mình được học
lên cao; nếu không hội đủ tiêu chuẩn học liên thông thì các em có thể đi
làm ngay vì đã có bằng nghề trong tay.
Ngày 5/12/2002 Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ra “Quy chế tạm thời về
đào tạo liên thông giữa các bậc đào tạo.” Sau 5 năm (2002-2007) làm
thí điểm, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã cho phép 66 trường Cao đẳng, Đại
học được đào tạo liên thông. Ngày 13/2/2008 Bộ Giáo dục - Đào tạo đã
chính thức ban hành quy chế về đào tạo liên thông. Tuy nhiên mới thực
hiện liên thông dọc, chưa có liên thông ngang và chưa có liên thông với
Dạy nghề.
8.
Hệ thống GDQD hiện nay đã xa rời nguyên lý giáo dục của
Đảng: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản
xuất, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”
Hệ thống giáo dục phổ thông chỉ mới dạy chữ, kiến thức văn hoá
chung chung, coi nhẹ kiến thức kỹ thuật nghề nghiệp, coi nhẹ thực hành
và lao động sản xuất. Vì thế, học sinh của chúng ta đi thi quốc tế bao
giờ cũng đạt huy chương vàng ở môn toán, còn những môn đòi hỏi thực
hành nhiều như lý, hoá, sinh thì rất hiếm. Lỗi đó tại nhà trường. Nhà
trường phổ thông không chú ý dạy trẻ kỹ năng sống, kỹ năng thực hành,
kỹ năng làm việc (kỹ năng lao động), không chuẩn bị cho các em ý thức
sẵn sàng đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự dịch chuyển cơ
cấu kinh tế ở từng địa phương và trong cả nước theo văn kiện Đại hội IX
của Đảng đã đề ra. Nhà trường phổ thông chỉ “thúc” học sinh phải tiến
lên hàng đầu bằng mọi giá mà không giáo dục các em rẽ ngang đi học
cơ bắp. Trong số đi làm trên chỉ 25 - 30% đúng chuyên môn, còn 70% là
lao động phổ thông không cần phải đào tạo mặc dầu số này đã tốt
nghiệp đại học 17. Tại hội thảo “Quản lý - chuyển giao công nghệ - đào
tạo nhân lực” được tổ chức tại Hà Nội tháng 10/1997, nhiều nhà khoa
học nước ngoài đã nhận xét: hệ thống giáo dục Việt Nam xuất hiện
nhiều dấu hiệu đáng lo ngại như việc cấp bằng quá nhiều, đặc biệt ở
trình độ cao... còn các nhà đầu tư nước ngoài thì phàn nàn rằng, Việt
Nam đang dư những người có bằng và thiếu công nhân cần thiết.
Hiện nay, các trường chuyên nghiệp và đại học chưa gắn kết được
với doanh nghiệp, chưa thực hiện được “hãy đào tạo cái mà doanh
nghiệp cần, chứ đừng đào tạo cái mà nhà trường có thể làm được”. Vì
vậy gây ra hiện tượng “thừa lao động không chuyên nghiệp”, “thiếu lao
động có tay nghề”. Cho nên tại buổi tiếp của Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng đầu năm 2007, ông Lý Quang Diệu cho rằng “Việt Nam cần có
thêm những kỹ sư giỏi, những người thợ lành nghề để thu hút đầu tư...” 1
Còn tháng 3/2007, Giám đốc Ngân hàng Châu Á (ADB) cũng nhận xét:
Việt Nam dự kiến tăng trưởng 8,3% năm 2007 và 8,5% năm 2008.
Nhưng Việt Nam đang thiếu trầm trọng lao động tay nghề cao. Trong số
lao động hiện nay chỉ có 25% có tay nghề so với mức 50% của khu vực.
Các doanh nghiệp phải thừa nhận, thiếu hụt lao động có tay nghề là khó
khăn thứ ba của họ sau khó khăn về tài chính và đất đai...”. 19
Phải chăng những ý kiến đó không có cơ sở? Nếu mục tiêu của giáo
dục là sản xuất ra những mảnh bằng cho con người để làm bùa hộ
14
CẢI CÁCH CƠ CẤU HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN…
mệnh cho cả đời hay làm hộ chiếu qua các cửa ải thì giáo dục như vậy
là giáo dục sách vở, làm cản trở cho sự phát triển kinh tế - xã hội của
1.
Chỉ số HDI ngày nay trở thành thước đo tiêu biểu phản ánh sự phát
triển
của mỗi quốc gia.
HDI bao qt ba lĩnh vực: Tuổi thọ (y tế), học vấn (giáo dục), GDP
(kinh tế) của cộng đồng dân cư. Nó cũng là chỉ số nêu lên chất lượng
dân số của cộng đồng.
Từ năm 1990 cho đến nay, HDI của Việt Nam được UNDP (Chương
trình phát triển của Liên hiệp quốc) cập nhật đầy đủ trong các báo cáo
Phát triển con người (HDR - Human Development Report). Việt Nam
cũng đã hai lần cơng bố HDR do mình tự xây dựng: HDR 1999 và HDR2004,
HDRVN 1999 và đã được Liên hiệp quốc tặng giải thưởng.
Hiện nay, Việt Nam đang có những nỗ lực xây dựng HDR cho tồn
quốc và các tỉnh thành đều đặn hàng năm, coi HDR như một cơng cụ
hữu ích phục vụ quản lý kinh tế - xã hội.
2. Nhân tố giáo dục trong HDI có vai trò then chốt bởi lẽ giáo dục
vừa là mục tiêu vừa là động lực của q trình phát triển. Giáo dục ngày
nay là nhân tố tạo nên cả kết quả tinh thần và kết cấu vật chất của quốc
gia. Giáo dục hình thành và phát triển "Nhân cách - Nhân lực", vừa tạo
ra nguồn vốn con người, vốn tổ chức, vốn xã hội của cộng đồng.
3. Báo cáo này chủ yếu tập trung vào các nội dung sau:
*
16
Đại học Quốc gia Hà Nội.
trong HDR:
a. Tổng hợp HDI và thứ hạng,
b. Tuổi thọ bình quân và chỉ số tuổi thọ,
c. Số (%) người lớn (từ 15+ tuổi biết chữ),
d. Số (%) thanh thiếu niên 6 - 24 tuổi so dân số độ tuổi đi học tại
các nhà trường chính quy,
e. Chỉ số phát triển giáo dục,
17
Đặng Quốc Bảo
f. GDP bình quân theo sức mua và chỉ số GDP.
3.1.2. HDI của Việt Nam từ 1990 đến 2005 qua các HDR của UNDP
Bảng 1: Giá trị chỉ số HDI tổng hợp và giá trị các chỉ số thành phần của Việt Nam
Chỉ số HDI và các chỉ số thành phần của Việt Nam
Thứ hạng so với các nước có trong báo
cáo
62,7
Giá trị chỉ số phát triển con người
1992
HDI
Chỉ số
0,63
Chỉ số
62,7
1987
Tuổi thọ bình quân
trung bình (năm)
1991
Tính cho năm
0,62
Năm
62,0
1990
Giáo dục
Tỷ lệ biết chữ của người lớn (%)
GDP
Chỉ số
0,38
87,6
Theo
số
thập
phân
1993
1991
62,7
0,63
1.100
0,40
87,6
4,6 năm
59,9
-
0,472
65,2
0,63
1.010
0,38
91,9
49
0,78
0,539
120/174
1996
1993
65,5
0,63
1.040
0,39
121/175
1998
1995
66,4
0,64
1.236
0,42
93,7
55
0,81
0,560
122/174
1999
1997
67,4
63
0,83
0,671
108/174
2001
1999
67,8
0,71
1.860
0,49
93,1
67
0,84
0,682
101/162
2.070
0,51
92,7
64
0,83
0,688
109/175
2004
2002
69,0
0,73
2.300
0,52
90,3
64
2004
70,8
0,76
2.745
0,55
90,3
63
0,81
0,709
109/177
2007
2005
73,7
0,812
3.071
2000
2005
Việt Nam
0,590
0,620
0,672
0,711
0,733
Indonesia
0,585
0,626
0,670
0,692
0,728
Philippines
0,761
0,781
Malaixia
0,696
0,725
0,763
0,790
0,811
Hàn Quốc
0,785
0,825
0,801
0,892
0,921
Singapore
thành.
c. Đề tài khoa học KX.05.05 nghiên cứu sự phát triển con người Việt
Nam trong chương trình khoa học cấp nhà nước KX.05 "Văn hoá - Con
người - Nguồn nhân lực" trong thời kỳ công nghiệp hoá đã cộng tác với
nhiều tỉnh thành trong nước xây dựng các HDR địa phương thời kỳ 2001
- 2005.
19
Đặng Quốc Bảo
Các vùng khác nhau của đất nước đều có các tỉnh thành xây dựng
HDR cho địa phương mình.
– Khu vực Đông Bắc Bắc Bộ có các tỉnh: Hà Giang - Cao Bằng Quảng Ninh.
– Khu vực Tây Bắc Bắc Bộ: Hoà Bình - Yên Bái.
– Khu vực Đồng bằng sông Hồng: Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương, Ninh
Bình.
– Khu vực Bắc Trung Bộ: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.
– Khu vực Duyên hải miền Trung: Phú Yên.
– Khu vực Tây Nguyên: Gia Lai, Kontum.
– Khu vực Đông Nam Bộ: Thành phố Hồ Chí Minh.
Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long: Vĩnh Long, Kiên Giang, An
Giang, Bạc Liêu, Tiền Giang.
Tuổi thọ (năm) 2004e
Tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành (%) 2004f
GDP bình quân đầu người (VNĐ) 2004g
0,689
0,731
Đồng bằng sông
Hồng
76,0
74,5
96,2
8340
2733
0,83
0,89
0,55
0,721
0,757
Đông Bắc
1094
0,71
0,72
0,40
0,565
0,611
Tỉnh / Thành phố
Tỷ lệ đi học của các cấp giáo dục (%) 2004đ
3.2.2. HDI của các vùng đất nước qua Báo cáo phát triển con người
Việt
Nam
xây dựng năm 2006.
20
SỰ ĐÓNG GÓP CỦA GIÁO DỤC VÀO HDI CỦA VIỆT NAM…
Bắc Trung Bộ
78,4
0,78
0,88
0,51
0,676
0,722
Tây Nguyên
73,9
65,4
88,2
4335
1325
0,67
0,83
0,43
0,598
72,1
89,8
7093
2239
0,79
0,80
0,52
0,669
0,702
3.2.3. HDI của 64 tỉnh thành qua Báo cáo Phát triển con người Việt
Nam xây dựng năm 2006.
a. Có 3 nhóm:
– Nhóm các tỉnh thành có chỉ số HDI ở mức phát triển cao (HDI > 0,7:
33 tỉnh).
– Nhóm các tỉnh thành có chỉ số HDI ở mức phát triển trung bình (0,6
0,756
Bà Rịa
72,7
75,0
94,4
34193
6516
10543
0,83
0,87
0,78
0,748
0,828
Chênh lệch xếp hạng GDP và HDI 2004
GDP bình quân đầu người (VNĐ) 2004g
Tuổi thọ (năm) 2004e
Tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành (%) 2004f
GDP bình quân đầu người (VNĐ) 2004g
GDP bình quân đầu người thực tế (USD 2004)
GDP bình quân đầu người (USD PPP) 2004h
Chỉ số tuổi thọ bình quân 2004i
Chỉ số giáo dục 2004i
Chỉ số GDP 2004i
HDI 1999i
HDI 2004i
Xếp hạng HDI 2004
Xếp hạng GDP theo USD PPP 2004
Chênh lệch xếp hạng GDP và HDI 2004
Hà Nội
Chí
Minh
75,0
76,2
93,2
2392
1
1520
7375
0,85
0,87
0,72
0,793
0,814
3
2
5
1
Hải
Phòng
72,9
74,2
96,7
10404
661
3409
0,82
0,89
0,59
0,733
0,766
5
6
4
-2
Khánh
Hoà
74,2
73,2
93,0
10314
655
3294
0,80
0,87
0,58
0,707
0,751
0,751
7
6
-1
Quảng
Ninh
74,8
72,1
94,0
10000
635
3250
0,78
0,88
0,58
0,703
0,711
0,745
10
17
7
Bắc
Ninh
76,9
72,4
95,6
6964
442
2282
0,79
0,89
0,52
0,52
0,685
0,728
12
18
6
Hưng
Yên
73,1
72,9
95,5
6259
398
2051
0,80
0,88
0,91
0,46
0,689
0,724
14
35
21
Hà
74,6
74,8
95,6
4529
288
1484
0,83
GDP bình quân đầu người (VNĐ) 2004g
GDP bình quân đầu người thực tế (USD 2004)
GDP bình quân đầu người (USD PPP) 2004h
Chỉ số tuổi thọ bình quân 2004i
Chỉ số giáo dục 2004i
Chỉ số GDP 2004i
HDI 1999i
HDI 2004i
Xếp hạng HDI 2004
Xếp hạng GDP theo USD PPP 2004
Chênh lệch xếp hạng GDP và HDI 2004
Vĩnh
Long
68,0
74,1
92,2
89,3
10454
664
3300
0,79
0,79
0,58
0,671
0,720
17
8
-9
Cà
Mau
61,0
72,1
73,0
90,3
8091
514
2554
0,80
0,81
0,54
0,678
0,716
19
13
-6
Long
An
63,9
62,5
73,3
92,7
6570
417
2074
0,81
0,83
0,51
0,684
0,713
21
21
0
Nam
Định
Định
78,9
71,1
94,4
5287
336
1689
0,77
0,89
0,47
0,659
0,711
23
28
5
Ninh
Bình
78,8
72,4
95,6
4182
266
1370
0,79
0,90
0,44
0,663
0,709
24
49
14
Nghệ
An
77,7
71,2
95,0
4856
308
1586
0,77
0,89
0,46
0,666
0,708
26
14
-14
Hà
Tĩnh
83,7
71,1
96,3
4034
256
1318
0,77
0,92
0,43
0,666
0,706
30
32
2
Phú
Thọ
72,4
72,0
96,2
4471
284
1453
0,78
0,88
0,45
0,675
0,704
33
1
Tỉnh / Thành phố
Tỷ lệ đi học của các cấp giáo dục (%) 2004đ
SỰ ĐÓNG GÓP CỦA GIÁO DỤC VÀO HDI CỦA VIỆT NAM…
Nam
Thái
Nguyê
23
GDP bình quân đầu người thực tế (USD 2004)
GDP bình quân đầu người (USD PPP) 2004h
Chỉ số tuổi thọ bình quân 2004i
Chỉ số giáo dục 2004i
Chỉ số GDP 2004i
HDI 1999i
314
1570
0,73
0,82
0,46
0,628
0,672
Bạc
Liêu
58,3
70,8
87,9
8542
543
2697
0,76
Thuận
69,6
71,7
91,8
5412
344
1669
0,78
0,84
Thanh
Hoá
77,8
70,6
94,0
4412
280
266
Trà
Vinh
64,3
71,1
85,5
6616
An
Giang
57,1
70,9
86,9
Hậu
Giang
61,2
71,0
27
-8
0,47
0,642
0,697
36
30
-6
0,78
0,45
0,659
0,697
37
44
7
50
11
420
2089
0,77
0,78
0,51
0,656
0,686
40
20
-20
7288
463
2301
0,685
42
26
-16
70,8
90,2
4573
290
1410
0,76
0,84
0,44
0,633
0,683
43
-10
Phú
Yên
73,8
67,8
92,2
5188
330
1657
0,71
0,86
0,47
0,631
0,681
45
31
56
10
Tỉnh / Thành phố
Chênh lệch xếp hạng GDP và HDI 2004
GDP bình quân đầu người (VNĐ) 2004g
71,1
Xếp hạng GDP theo USD PPP 2004
Tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành (%) 2004f
66,7
Xếp hạng HDI 2004
Tuổi thọ (năm) 2004e
Bến
Tre
HDI 2004i
Tỷ lệ đi học của các cấp giáo dục (%) 2004đ
Đặng Quốc Bảo
Chênh lệch xếp hạng GDP và HDI 2004
Sóc
Trăng
57,3
70,7
88,3
6280
399
1983
0,76
0,78
0,50
0,655
0,680
46
25
29
-19
Tuyên
Quang
79,6
68,4
89,6
4038
257
1312
0,72
0,86
0,432
0,621
0,672
49
47
-2
Đăk
Lăk
75,3
67,5
93,8
4009
255
1225
0,71
0,88
0,42
0,631
0,668
51
52
60
8
Quảng
Trị
79,1
66,0
90,3
4427
281
1446
0,68
0,87
0,45
0,619
0,665
54
0
Yên
Bái
68,8
68,7
87,1
3719
236
1209
0,73
0,81
0,42
0,612
0,651
55
62
7
Cao
Bằng
82,3
64,7
80,9
4244
270
1379
0,66
0,81
0,44
0,576
0,620
58
46
-12
Sơn La
65,5
68,0
72,9
3511
223
1084
0,72
0,70
0,40
0,550
0,602
60
53
-7
Nhóm
chỉ số
phát
triển
công
nghệ
67,5
63,1
65,9
3302
210
1029
0,64
Chỉ số tuổi thọ bình quân 2004i
Chỉ số giáo dục 2004i
Chỉ số GDP 2004i
HDI 1999i
HDI 2004i
Xếp hạng HDI 2004
Xếp hạng GDP theo USD PPP 2004
Chênh lệch xếp hạng GDP và HDI 2004
Kon
Tum
75,6
59,7
78,1
4171
265
1274
888
0,61
0,74
0,36
0,503
0,568
62
63
1
Điện
Biên
61,9
66,6
55,5
3885
247
820
0,66
0,57
0,35
0,529
64
64
0
Tỉnh / Thành phố
Tỷ lệ đi học của các cấp giáo dục (%) 2004đ
Đặng Quốc Bảo
thấpc
0,486
3.3. Phân tích các chỉ số giáo dục và các chỉ số phát triển khác
của Việt Nam (so sánh với quốc tế)
Báo cáo Phát triển con người 2007 - 2008 của UNDP đã phản ánh
HDI của 177 nước trên thế giới. Dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích tình
thấp nhất 177/177
0,336
Việt Nam
thứ 105/177
0,733
El Sanvado (trên VN)
thứ 104/177
0,735
c. Việt Nam trong so sánh với một số nước của ASEAN và châu Á
Nước
Giá trị HDI
Xếp hạng
Singapore
0,922
25
Philippin
0,771
90
Việt Nam
0,733
105
Inđônêxia
0,728
107
Ấn Độ
0,619
128
Mianma
0,583
132