Giáo dục học đại cương
Câu hỏi bài tập: hãy so sánh hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam với hệ
thống giáo dục quốc dân của một quốc gia khác trên thế giới? Hãy chỉ ra sự
giống vầ khác nhau giải thích tại sao?
Mục lục
I. Khái niệm về hệ thống giáo dục
1. Khái niệm
2. Mục đích tổ chức
3. Nguyên tắc
4. Đặc điểm
II. So sánh hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam và hệ thống
giáo dục quốc dân Nhật Bản
1. So sánh số bậc học, số cấp học, số năm học của từng bậc
học
2. So sánh về mục tiêu giáo dục
3. So sánh về nội dung giáo dục
4. So sánh về phương pháp giáo dục
5. So sánh giáo viên và học sinh
6. So sánh đánh giá kết quả học tập
III. Bài học rút ra để phát triển hệ thống giáo dục quốc dân Việt
Nam
Bài làm
I. Khái niệm về hệ thống giáo dục quốc dân
1. Khái niệm
Hệ thống giáo dục quốc dân là mạng lưới các trường học được xậy dựng để tiến hành
giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nhân lực theo yêu cầu của xã hội. Hệ thống các trường
học được xây dựng thống nhất trên phạm vi cả nước, được sắp xếp theo các cấp học,
ngành học, với các loại hình đào tạo…nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập của nhân dân.
2. Mục đích tổ chức
- Nâng cao trình độ dân trí
Việt Nam đứng thứ 67 bảng xếp hạng, thứ 4 trong các nước ASEAN: sau
Singapore (2), Brunei (23), Malaysia (33). Ở hạng mục Giáo dục đại học và đào
tạo, Việt Nam đứng thứ 95 trong bảng xếp hạng, thứ 7 trong các nước ASEAN: sau
Singapore (2), Malaysia (46), Brunei (55), Thái Lan (66), Indonesia (64),
Philippines (67).
Vậy những yếu tố, điều kiện gì khiến cho chất lượng giáo dục Việt Nam thấp hơn
Nhật Bản? Sau đây là sơ đồ so sánh hệ thống giáo dục Việt Nam và Nhật bản:
1. So sánh số bậc học, cấp học, số năm học của từng bậc học
Việt Nam và Nhật Bản đều có các cấp học là mẫu giáo, tiểu học, trung học, đại học và
sau đại học( thạc sĩ và tiến sĩ) nhưng lại có số năm học ở các cấp học lại khác nhau:
- Mẫu giáo ở Nhật chỉ có 2 năm nghĩ là chỉ nhận các cháu từ 4 đến 6 tuổi nhưng
mẫu giáo ở Việt Nam là 3 năm, nhận các cháu từ 3 đến 6 tuổi. Ngoài ra còn có
các nhà trẻ nhận các chau từ 1 đến 3 tuổi
- Ở bậc Tiểu học có sự khác biệt rõ rệt về năm học giữa 2 quốc gia: Nhật Bản 6
năm ( từ 6 tuổi đến 12 tuổi), Việt Nam 5 năm (từ 6 tuổi đến 11 tuổi)
- Ở bậc Trung học:
+ Trung học cơ sở: Việt Nam 4 năm (từ 11 tuổi đến 15 tuổi), Nhật bản 3 năm
(từ 12 tuổi đến 15 tuổi)
+ Trung học phổ thông : cả Việt lẫn Nhật đều 3 năm học (từ 15 tuổi đến 18
tuổi)
- Ở bậc Đại học: tùy từng trường và ngành học mà có số năm học khác nhau
nhưng đa số là Việt Nam 4 năm (từ 18 đến 22 tuổi), Nhật Bản thì 5 năm (từ 18
đến 23 tuổi)
- Sau Đại học: Việt Nam ta chia làm 2 bậc là Thạc sĩ 2 năm (từ 22 đến 23 tuổi),
Tiến sĩ 3 năm (từ 23 đến 26 tuổi) nhưng Nhật Bản thì sau Đại học gộp Thạc sĩ
với Tiến sĩ làm một bậc gồm 4 năm (từ 23 đến 27 tuổi)
- Ngoài ra còn các cấp học khác là:
+ Giáo dục chuyên nghiệp: cả Việt Nam và Nhật bản gồm cao đẳng, trung cấp
nghề, trung cấp chuyên nghiệp đào tạo từ 2 đến 3 năm, học xong trung học cơ
sở, không thi lên trung học phổ thông có thể học luôn lên giáo dục chuyên biệt
từ mẫu giáo cho đến lớp 3 mà chỉ dạy cho các chau ý thức , thực hành như cách tự mặc
quần áo, đeo cặp, biết cảm ơn , xin lỗi, cách chào hỏi, lễ phép với người lớn, cách hòa
đồng với bạn bè và yêu thương động vật, giờ học chơi là chính, giáo viên không can
thiệp mà chỉ đứng từ xa quan sát và hỗ trợ khi cần thiết, kích thích sự tò mò, sáng tạo
và ham học. Học sinh nhật bản phải học hết lớp 12 mới đọc được hết 1 tờ báo vì chữ
của Nhật rất khó và nhiều loại, Nhật dạy cho học sinh loại chữ Kansai trước, đó là 1
loại chữ được Latinh hóa, rất dễ học để học sinh có thể tiếp cận sách giáo khoa, truyện
tranh,…Đến tận lớp 3, học sinh Nhật mới bắt đầu có bài kiểm tra, ưu tiên dạy thực
hành nhiều hơn lý thuyết. Chẳng hạn , dạy học sinh về làm nông thì nhà trường cho
học sinh được ra đồng và hướng dẫn trồng lúa, các loại rau củ đẻ học sinh tiếp thu kiến
thức thực tế đồng thời biết quý trọng lương thực và công sức lao động của các bác
nông dân,….Đến bậc đại học và sau đại học, sinh viên luôn được tiếp thu cái mới, các
công nghệ khoa học mới nhất, có ích và được thực hành ngay tại trường và thực tập
nhiều nơi….Tóm lại , nội dung giáo dục nhật bản thiết thực, cơ bản, hiện đại và toàn
diện. Việt Nam ta cần học tập nhiều nội dung giáo dục của họ, đặc biệt là giáo dục ý
thức và thực hành cho học sinh.
Chữ viết của ta rất đơn giản vì nó gần giống ngôn ngữ Tiếng anh- ngôn ngữ chung của
thế giới. Vì vậy học sinh nước ta lớp 2 đã hoàn toàn biết đọc biết viết, đọc sách xem
báo, dù nhận thức chưa hiểu. Trẻ mẫu giáo đã được dạy bảng chữ cái, các cháu vừa
chơi vừa học nhằm phát triển đầy đủ cả thể lực, trí tuệ, nhân cách. Bước lên từ lớp 1,
học sinh có 2 kì kiểm tra lớn là giữa kì và cuối năm, và các bài kiểm tra nhỏ như kiểm
tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết. Học sinh được kiểm tra liên tục để xét
kiến thức và trí nhớ. Nôi dung giáo dục luôn xen kẽ dạy kiến thức và ý thức . Chẳng
hạn tiểu học, ta vừa dạy học sinh các kiến thức về thế giới tự nhiên vừa bồi dưỡng thái
độ, tình cảm cho học sinh để có hành vi tốt đẹp đối với thế giới tự nhiên.Nội dung giáo
dục nước ta rất đề cao các truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục
phù hợp với các lứa tuổi từ tâm lý đến sinh lý cho học sinh. Tuy nhiên do cơ sở vật
chất của Việt Nam ta còn kém, chưa hỗ trợ học sinh nhiều để thực hành nên nhiều môn
học mới chỉ dạy học sinh về lý thuyết . Nôi dung giáo dục nước ta rất cơ bản, hiện đại
nhưng chưa được hoàn thiện và thiết thực, Nhà nước và Bộ giáo dục đào tạo đang cố
giác ngộ mục đích học tập, tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về kết
quả học tập của mình và kết quả chung của lớp, biết tự học và tranh thủ học ở
mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách, phát triển các loại hình tư duy biện chứng,
lôgíc, hình tượng, tư duy kĩ thuật, tư duy kinh tế…Học sinh của Nhật không chỉ
có các phẩm chất và năng lực trên mà còn có tính cạnh tranh và ý thức cộng
đồng cao.
6. So sánh đánh giá kết quả học tập
Đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong qúa trình giáo dục. Đánh
giá thường nằm ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và sẽ trở thành khởi
điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn
trong cả một qúa trình giáo dục.
Đánh giá kết quả học tập là qúa trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng
thực hiện mục tiêu học tập của học sinh về tác động và nguyên nhân của tình hình đó
nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường cho bản
thân học sinh để học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn
Hướng tới yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của học
sinh, bộ công cụ đánh giá sẽ được bổ sung các hình thức đánh giá khác như đưa thêm
dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm; chú ý hơn tới đánh giá cả qúa trình lĩnh hội tri thức
của học sinh, quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực, chủ động của học sinh trong
từng tiết học, kể cả ở tiết tiếp thu tri thức mới lẫn tiết thực hành, thí nghiệm.
Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần thể hiện sự phân hóa, đảm bảo 70% câu
hỏi bài tập đo được mức độ đạt trình độ chuẩn - mặt bằng về nội dung học vấn dành
cho mọi học sinh THPT và 30% còn lại phản ánh mức độ nâng cao, dành cho học sinh
có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn
Giáo dục nước ta có nhiều bài kiểm tra hơn so với giáo dục Nhật bản nên đánh giá
kết quả học tập của học sinh 2 nước có sự khác nhau. Cách đánh giá của nước ta đã
nêu trên, cách đánh giá của Nhật bản cũng tương tự nhưng họ coi trọng thành tích hơn
và tính cạnh tranh hơn như việc công bố điểm bài thi và xếp loại cao thấp trên phạm vi
cả trường nghĩa là họ dán danh sách điểm thi và xếp loại trước sân trường để tất cả học
sinh đều biết….Cách chấm bài của họ là đúng hết 100 điểm, còn nước ta là 10 điểm….