CÔNG TRÌNH NGHIÊN cứu KHOA học HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT về ưu đãi THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP - Pdf 41

1

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp kể từ khi được hình thành đã có một
vai trò quan trọng trong việc thiết lập một hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh và
nộp thuế cho NSNN của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, do hệ thống các quy định pháp luật
về ưu đãi thuế TNDN hiện nay còn khá là dàn trải, phức tạp, thậm chí một số điểm còn
chưa phù hợp với thông lệ quốc tế mà đã gây khó khăn cho các chủ thể khi thực hiện đầu
tư hay kinh doanh. Tác giả lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu
nhập doanh nghiệp ở Việt Nam” là một đề tài rất có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Những
đóng góp của đề tài sẽ là những tham khảo hữu ích cho các cơ quan chức năng cũng như
doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam hiện nay
Về nội dung tóm tắt của công trình
Đề tài đã làm rõ được một số lý luận cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như pháp luật về ưu đã thuế thu nhập doanh
nghiệp. Đồng thời đề tài đã làm rõ được nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về ưu đãi thuế
thu nhập doanh nghiệp và phân tích được các vai trò của pháp luật ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp đến đời sống kinh tế xã hội.
Trên cơ sở các lý luận đưa ra, sau khi phân tích về các quy định pháp luật ưu đãi thuế
thu nhập doanh nghiệp tác giả đã đưa ra các đánh giá trên hai khía canh ưu, nhược điểm.
Đồng thời cũng phân tích các tác động của các quy định này với đời sống kinh tế xã hội
khi áp dụng vào thực tiễn.
Đề tài đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật về ưu đãi thuế thu
nhập doanh nghiệp trên cơ sở các hạn chế còn tồn tại nhằm thiết lập một hành lang pháp
lý hoàn chỉnh nhất, là môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp đâu tư tại
Việt Nam.


2

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

: International Monetary Fund (Quỹ tiền tệ quốc tế)
KCN
: Khu công nghiệp
NSNN
: Ngân sách nhà nước
OECD
: Organization for Economic Co-operation and Development

(Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)
13. TNDN
: Thu nhập doanh nghiệp
14. WTO
: World Trade Organization (Tổ chức Thương mại thế giới)

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
Hình 1

Tên
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà
đầu tư

Trang
17

Bảng 1

Số thu thuế TNDN theo sắc thuế và khu vực kinh tế trong
năm 2009 và năm 2010


vào Luật Thuế TNDN và các văn bản pháp luật về đầu tư. Qua 20 năm thực hiện, chúng
ta đã có hệ thống pháp luật về ưu đãi thuế TNDN đa dạng và tương đối hoàn chỉnh với
các quy định chi tiết về các điều kiện ưu đãi, các hình thức ưu đãi và mức độ ưu đãi. Điều
này đã tạo ra một hành lang pháp lí quan trọng hỗ trợ các doanh nghiệp, các chủ thể trong
nền kinh tế và ngay cả các cơ quan nhà nước trong việc thu nộp, thuế một cách minh bạch
rõ ràng, hạn chế các sai lầm trong quá trình thực hiện.
Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu mà pháp luật về ưu đãi thuế TNDN đạt được thì nó
vẫn còn bộc lộ ra nhiều hạn chế. Đó là việc hệ thống các quy phạm pháp luật về ưu đãi
thuế TNDN ở nước ta hiện nay còn khá dàn trải và phức tạp. Thêm vào đó pháp luật về
ưu đãi thuế TNDN ở nước ta còn một số điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế chẳng
hạn như các hoạt động về xuất nhập khẩu. Hay việc thực hiện pháp luật về ưu đãi thuế
TNDN còn chưa thật linh hoạt cũng như phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước.
Do vậy trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu được đặt ra đối với hệ thống pháp luật về ưu
đãi thuế TNDN một mặt phải vừa thực hiện được mục tiêu quan trọng là quản lý, điều tiết
vĩ mô nền kinh tế; mặt khác vừa phải phù hợp với các thông lệ và cam kết quốc tế. Chính
vì vậy tác giả đã triển khai đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế Thu
nhập doanh nghiệp ở Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu


5

Tác giả nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế Thu nhập doanh
nghiệp ở Việt Nam” nhằm:
Thứ nhất, hệ thống hoá các lí luận về thuế TNDN, ưu đãi về thuế thu nhập doanh
nghiệp cũng như các vấn đề pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thứ hai, trình bày thực trạng quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay bằng cách các đánh giá về ưu điểm hay hạn chế của đối
tượng nghiên cứu.
Thứ ba, trình bày một số các giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập


6. Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 4 chương:
Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài.
Chương II: Những vấn đề lí luận về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và pháp luật
về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Chương III: Thực trạng quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.


6

Chương IV: Một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

B. NỘI DUNG

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam kể từ thời điểm Luật thuế TNDN ra đời và có hiệu lực thi hành đã có rất
nhiều tác giả quan tâm và chú ý đến vấn đề pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp. Qua đó ta có thể thấy rằng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có sự
ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống kinh tế và xã hội ở Việt Nam. Số lượng bài nghiên cứu
phong phú, mọi khía cạnh đều được các tác giả khai thác cụ thể tương đối toàn diện các
vấn đề. Tuy nhiên ở từng tác phẩm của tác giả vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế làm cho
vấn đề nghiên cứu về pháp luật về ưu đãi thuế TNDN ở Việt Nam vẫn còn chưa thực sự
hoàn chỉnh.
Đầu tiên có thể kể đến tác phẩm “Chính sách ưu đãi Thuế thu nhập doanh nghiệp ở
Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Ái Liên. Trong tác phẩm nghiên cứu của mình tác giả đã
chỉ ra một cách cụ thể và sâu sắc các vấn đề về chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh

là tương đối đúng đắn và phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội của đất nước
Đề tài nghiên cứu “Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam”
(năm 2012) của tác giả Lưu Thị Tuyết. Có thể nói đây là một trong các công trình nghiên
cứu vừa có chiều toàn diện lại sâu sắc cụ thể. Về mặt lí luận tác giả đã đưa ra định nghĩa
thế nào là pháp luật về ưu đã thuế TNDN từ đó có cách hiểu đúng đắn về đối tượng


8

nghiên cứu. Dựa trên cơ sở xác định lí luận một cách đúng đắn tác giả Lưu Thị Tuyết đã
đưa một cách toàn diện cụ thể về nội dung pháp luật ưu đãi về thuế TNDN từ đó đưa ra
nhưng số liệu thuế một cách rõ ràng và dễ hiểu. Tác giả cũng đưa ra những đánh giá việc
thực hiện pháp luật ưu đãi thuế một cách toàn diện ở cả mặt tích cực và tiêu cực trên
phạm vi cả nước. Cuối cùng những giải pháp cho việc hoàn thiện thuế thu nhập doanh
nghiệp cũng được tác giả xét ở trên cả phương diện nội dung pháp luậtvề mặt quy định và
công tác triển khai thực hiện. Như vậy có thể thấy đề tài nghiên cứu của tác giả Lưu Thị
Tuyết đã có cái nhìn vừa bao quát lại cụ thể từ đó có những đóng góp nhất định vào công
tác làm luật và thi hành luật của các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên nhìn vào thời
điểm năm 2012 mà tác giả nghiên cứu có thể thấy rất nhiều sự khác biệt cả về kinh tế,
chính trị hay xã hội so với thời điểm hiện tại. Về mặt kinh tế, cuối năm 2015, Việt Nam đã
hoàn thành việc kí kết để tham gia vào Cộng đồng kinh tế Asean ( viết tắt là AEC) cũng
như Hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương TPP. Về mặt pháp luật, Chính
phủ và Bộ Tài Chính ban hành sửa đổi các thông tư nghị định qua các năm mà mới nhất là
Thông tư 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 để sửa đổi và bổ sung những thông tư, nghị
định được ban hành vào năm 2013, 2014 và các năm trước đó. Như vậy xét về nhiều mặt
những nghiên cứu của tác giả đã không còn thực sự phù hợp với thực tiễn, đáp ứng được
sự thay đổi của kinh tế- xã hội.
Ngoài ra còn có rất nhiều các tác phẩm được đăng trên tạp chí tài chính có liên quan
đến chủ đề ví dụ như “ Ưu đãi thuế TNDN- Một số vấn đề đặt ra” của tác giả Nguyễn Văn
Phụng. Tác giả đã có cách phân tích và đánh giá hết sức sâu sắc về vấn đề là nguồn tài

thuế TNDN trong các quy định cũng như ở cả công tác triển khai thực hiện để thực sự phù
hợp với các đường lối, quan điểm mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, phù hợp với hoàn cảnh
kinh tế xã hội trong nước cũng như bối cảnh hội nhập ngày càng sâu và rộng của nền kinh
tế Việt Nam hiện nay.


10

CHƯƠNG II: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI THUẾ THU
NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
2.1. Một số vấn đề lí luận về thuế thu nhập doanh nghiệp
2.1.1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo từ điển Wikipedia về Thuế thu nhập thì “Thuế thu nhập là thuế đánh vào thu
nhập của cá nhân và pháp nhân”[33]. Trong hệ thống thuế ở các quốc gia, thuế thu nhập
là loại thuế áp dụng có tính phổ biến và rất được coi trọng, đặc biệt là ở các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển. Sự ra đời của thuế thu nhập bắt nguồn từ các lý do chính sau:
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập đảm
bảo công bằng xã hội.
Thứ hai, sự ra đời của thuế thu nhập còn bắt nguồn từ nhu cầu tài chính của nhà
nước, nhà nước nào cũng cần có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, cùng với xu
thế phát triển kinh tế xã hội, khả năng mang lại thu nhập cho mỗi người ngày càng cao,
nhà nước tìm thấy khả năng huy động nguồn tài chính to lớn cho mình thông qua thuế thu
nhập.


11

Thứ ba, thuế thu nhập là công cụ để nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt động
kinh tế - xã hội.


2.1.2. Đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ nhất, thuế TNDN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNDN là các doanh
nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời là người chịu
thuế.
“Thuế trực thu là thuế điều tiết vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế”[35].
Là một loại thuế trực thu, thuế TNDN mang đầy đủ các đặc điểm các đặc điểm của một
loại thuế trực thu, đó là đối tượng nộp thuế theo luật định đồng nhất với người phải chịu
thuế tức là thuế thu trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế.
Thứ hai, thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
hoặc các nhà đầu tư. Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ
khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN.
Về nguyên tắc, loại thuế này có tính đến khả năng của ngừơi nộp thuế, có nghĩa là
chủ thể có thu nhập cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn, còn chủ thể có thu nhập thấp hơn
thì sẽ nộp ít hơn.
Thứ ba, thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân. Thu nhập mà các cá
nhân nhận được từ các hoạt động đầu tư như lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lợi
nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết là phần thu nhập sau khi nộp thuế TNDN. Do vậy,
thuế TNDN cũng có thể coi là một biện pháp quản lí thu nhập cá nhân.
Thuế TNDN đánh vào phần thu nhập từ hoạt động kinh doanh của các công ty trước
khi chia cho những người góp vốn. Thuế TNDN đánh vào phần thu nhập mà những người
góp vốn nhận được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN mà họ đầu tư vào. Vì vậy,
thu nhập đã chịu thuế TNDN khi đem chia cho những người góp vốn sẽ được khấu trừ
phần thuế TNDN đã nộp khi tính thuế TNDN hoặc không chịu thuế nữa.
Thứ tư, tuy là thuế thuế trực thu nhưng thuế TNDN không gây phản ứng mạnh mẽ
bằng thuế thu nhập cá nhân.
2.2. Một số vấn đề lí luận về pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
2.2.1. Khái niệm ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Một trong các mục tiêu cơ bản mà hệ thống chính sách thuế các nước bắt buộc phải
đảm bảo hướng tới là đảm bảo tính cạnh tranh của hệ thống thuế trong điều kiện nền kinh


1. Độ lớn của thị trường
2. Khả năng tiếp cận nguồn nguyên liệu

Các yếu
ngoài thuế

thô: tài nguyên thiên nhiên, nguồn

tố
3.
4.
5.
6.

cung cấp năng lượng
Trình độ lao động
Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng
Chi phí vận chuyển
Khả năng tiếp cận thị trường đầu ra
của sản phẩm(nhu cầu tiêu dùng cao,
chí phí xuất khẩu thấp)

7. Sự ổn định chính trị
8. Sự ổn định kinh tế vĩ mô
9. Chi phí tài chính


14



15

DN nhất định (ưu đãi về thuế suất, thời gian miễn giảm...) so với những đối tượng chịu
thuế khác trong cùng điều kiện nhất định.
Do vậy pháp luật về ưu đãi thuế TNDN được hiểu là hệ thống các quy định về những
biện pháp, những lợi thế về thuế do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được nhà nước
đảm bảo thực hiện nhằm giảm bớt gánh nặng thuế TNDN cho các nhà đầu tư, mà Nhà
nước dành cho những DN hoặc những nhóm DN nhất định (ưu đãi về thuế suất, thời
gian miễn giảm...) so với những đối tượng chịu thuế khác trong cùng điều kiện nhất định.
Pháp luật ưu đãi thuế TNDN được coi là một bộ phận trong chiến lược khuyến
khích phát triển của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định. Khi nói đến chiến lược của
một đất nước là nói về quan điểm, cách nhìn nhận chính thống của nhà nước đó về một
lĩnh vực, một hoạt động trong một giai đoạn nhất định. Các quan điểm chính thống của
nhà nước thuộc phạm trù ý chí. Để cụ thể hoá các quan điểm chính thống này, nhà nước
thông qua hình thức các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.
Trong mỗi quốc gia khác nhau, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật cũng khác
nhau. Do vậy, khi nghiên cứu pháp luật về ưu đãi thuế TNDN của mỗi nước cần phải xuất
phát từ những quy định cụ thể của nước đó về văn bản quy phạm pháp luât.
Cũng như pháp luật về thuế TNDN, nội dung điều chỉnh của pháp luật về ưu đãi thuế
TNDN cũng bao hàm một cách tổng quát, đầy đủ các vấn đề có liên quan. Đề cập đến đầu
tiên của pháp luật về ưu đãi thuế TNDN là các quy định về điều kiện áp dụng ưu đãi thuế
TNDN; các mức thuế suất ưu đãi đối với từng đối tượng cụ thể được quy định, thời gian
được hưởng ưu đãi hay trình tự và thủ tục thực hiện…
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
2.3.1. Đường lối chính sách của Đảng Cộng sán Việt Nam
Theo điều 4 Hiến pháp 1992 có sửa đổi và bổ sung năm 2013 “Đảng Cộng sản Việt
Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân
lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí

phải chấp nhận những điều khoản về thuế mà các tổ chức thương mại, tài chính chi phối
để áp dụng chung. Bên cạnh đó, để tránh xung đột pháp lý trong việc áp dụng các luật
thuế đối với các công dân của các nước khác trên lãnh thổ nước mình, hoặc công dân của
nước mình trên lãnh thổ nước khác, các nước tiến hành ký các Hiệp định song phương về
thuế. Việc ký kết các hiệp định và cam kết về thuế buộc các nước phải điều chỉnh hệ
thống pháp luật thuế nội địa cho tương thích. Đây chính là nguồn luật mới của hệ thống
pháp luật thuế nước sở tại. Ngoại trừ một số trường hợp không thể đưa vào nội luật, còn


17

lại nội dung các cam kết phải được thể hiện trong hệ thống pháp luật thuế để cho mọi đối
tượng nộp thuế đều có thể nắm bắt và thực thi. Dù cho các cam kết về thuế trong các Hiệp
định cũng như Cam kết quốc tế không là ý muốn của nhà nước, nhưng khi đã chấp thuận
những cam kết này, thì nhà nước đó đương nhiên xem đó là ý chí của mình. Vì vậy, về
mặt nào đó, có thể xem hệ thống các cam kết quốc tế về thuế cũng là một bộ phận bổ trợ
của hệ thống pháp luật thuế nói chung và hệ thống pháp luật ưu đãi thuế nói riêng trong
giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
Các mối quan hệ giữa các yếu tố (Luật đầu tư hay Luật quản lý thuế…) trong tương
quan hệ thống, các yếu tố có mối quan hệ tác động qua lại khăng khít với nhau. Để hệ
thống hoạt động ổn định, các nhà nước thường quy định quy tắc ứng xử giữa các mối
quan hệ trong hệ thống. Trong hệ thống pháp luật thuế, việc quy định các mối quan hệ
này thường được cụ thể hoá trong Luật ứng xử hay Luật quản lý thuế. Tùy theo nhận định
về hệ thống thuế mà các nội dung trong Luật ứng xử hay Luật quản lý thuế được thiết kế.
Tuy nhiên, nội dung cốt lõi không thể thiếu được là quy định mối quan hệ giữa bộ máy
thu thuế với đối tượng nộp thuế .
Các cam kết quốc tế và các Hiệp định về thuế đã áp đặt các quan điểm chính trị
của các quốc gia khác trong khối liên kết, hoặc bên ký kết lên hệ thống chính sách
thuế(đặc biệt là các quy định pháp luật về ưu đãi thuế TNDN), buộc quốc gia tham gia hội
nhập phải điều chỉnh chính sách thuế của mình theo xu hướng ưu tiên cho những cam kết

đạo đức chính là nhu cầu tất yếu khách quan, nhưng lại là vấn đề có tính lịch sử. Nó còn
tồn tại một cách tất yếu khách quan nhằm điều chỉnh ý thức, hành vi, quan hệ ứng xử của
con người với nhau trong xã hội. Là những cán bộ ngành thuế- đại diện cho quyền lực của
Đảng và Nhà nước chịu trách nhiệm đối với cuộc sống của nhân dân thì phẩm chất của họ
cần vững vàng và trong sáng hơn ai hết. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường và mở
cửa, trước sự cám dỗ của tiền và vật chất, trước những hành động chống phá của các thế
lực thù đich nếu không có một phẩm chất đạo đức thực sự trong sạch thì rất có thể dẫn
đến những hành vi sai lệch làm cho pháp luật về ưu đãi thuế TNDN không phát huy được
đúng vai trò của nó, thậm chí sẽ trở thành công cụ để một số ít những cá nhân thoái hóa
kiếm lợi cho bản thân. Tuy nhiên, ngược lại nếu tất cả đội ngũ cán bộ ngành thuế đều có
một phẩm chất đạo đức trong sáng kết hợp với năng lực đào tạo chuyên môn giỏi thì sẽ có
những tác động hết sức tích cực đối với với ban hành cũng như thực hiện những quy định
pháp luật về ưu đãi thuế TNDN.


19

Xét về chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật thuế thì doanh nghiệp cũng chính là
một nhân tố có những tác động quan trọng tới việc thực thi pháp luật về ưu đãi thuế
TNDN. Sự tác động này được thể hiện qua việc doanh nghiệp có tích cực chủ động tìm
hiểu những quy định pháp luật về ưu đãi thuế TNDN hay không. Sự tác động này được
thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tham gia vào quan hệ pháp luật về thuế với thái độ
như thế nào tức là tích cực hay tiêu cực. Nếu doanh nghiệp nhận thức đúng về các quy
định trong pháp luật về ưu đãi thuế TNDN, tuân thủ theo đúng nghĩa vụ và hưởng đúng
những quyền lợi mà mình được hưởng thì những quy định pháp luật về ưu đãi thuế
TNDN sẽ từ văn bản mà đi vào thực tế cuộc sống một cách hiệu quả và thiết thực nhất.
2.4. Vai trò của pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
2.4.1. Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tạo điều kiện và cơ sở pháp
lí quan trọng cho việc ổn định nguồn thu, đáp ứng yêu cầu chi tiêu của ngân sách nhà
nước

tế- xã hội. Bằng hệ thống pháp lật về ưu đãi thuế TNDN, Nhà nước thể hiện ý chí của
mình đối với việc phát triển kinh tế một cách gián tiếp, thông qua đó thực hiện công bằng
xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức, các cá nhân có thể tồn tại và vận động
theo nhu cầu và lợi ích của chính mình. Điều này có thể tổn thương đến trật tự xã hội
cũng như định hướng của từng nhà nước trong từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia.
Giải quyết vấn đề này pháp luật thuế nói chung và pháp luật về ưu đãi thuế TNDN nói
riêng có thể làm thay đổi hoặc can thiệp gián tiếp vào hoạt động, vào quyết định đầu tư
của các chủ thể nhằm đạt tới mục tiêu nhất định của nhà nước. Thông qua hệ thống pháp
luật về ưu đãi thuế TNDN, nhà nước có thể thay đổi cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngành kinh tế
mà không cần can thiệp hành chính. Để thực hiện cơ cấu đầu tư định trước pháp luật về
ưu đãi thuế TNDN có những quy định khác nhau giữa nghĩa vụ nộp thuế của các đối
tượng ưu tiên và các đối tượng hạn chế. Chính điều này sẽ làm ảnh hưởng đến cơ cấu tìm
kiếm thu nhập của vực các đối tượng đầu tư, qua đó có thể làm thay đổi luồng vốn chu
chuyển từ khu vực đầu tư này sang khu vực đầu tư khác. Pháp luật về ưu đãi thuế thu
nhập doanh nghiệp của các quốc gia trong đó có Việt Nam đều phản ánh rõ vai trò nêu
trên. Chẳng hạn, việc quy định đánh thuế hay không đánh thuế, các mức thuế suất ưu đãi
đối với các đối tượng cụ thể khác nhau đều có thể tác động đến các ngành nghề, qua đó
đảm bảo sự phát triển cân đối ngành nghề trong nền kinh tế.


21

2.4.3. Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ góp phần đảm
bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội
Hệ thống pháp luật về ưu đãi thuế TNDN mói nhất được áp dụng thống nhất chung
cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự bình
đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi pháp nhân cũng như thể
nhân. Sự bình đẳng công bằng đó được thể hiện thông qua các chính sách động viên giống
nhau giữa các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạch định giống
nhau đảm bảo công bằng xã hội.

đời do yêu cầu của việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực thuế. Nói cách khác,
pháp luật về ưu đãi thuế TNDN ra đời là do đòi hỏi của chính các quan hệ thuế. Đến lượt
mình, pháp luật về ưu đãi thuế TNDN lại tác động trở lại làm cho các quan hệ thuế phát
sinh, phát triển theo chiều hướng mà Nhà nước mong muốn. Trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay, pháp luật về ưu đãi thuế TNDN có vai trò vô cùng quan trọng
trong việc kiến tạo một môi trường chính trị, kinh tế- xã hội ổn định, tiến bộ, làm nền
tảng, cơ sở vững chắc cho công cuộc hội nhập và phát triển thành công.
2.5. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về pháp luật ưu đãi thuế thu
nhập doanh nghiệp và bài học đối với Việt Nam
2.5.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về pháp luật ưu đãi thuế thu
nhập doanh nghiệp


Malaysia
Tại Malaysia, hệ thống pháp luật về ưu đãi thuế đối với hoạt động đầu tư được quy

định tại Luật Thuế Thu nhập năm 1967, Luật Hải quan năm 1967, Luật Thuế hàng hoá
năm 1972, Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt năm 1976, Luật Khuyến khích đầu tư năm 1986,
Luật Các khu tự do năm 1990. Các Luật này quy định các hoạt động đầu tư trong các lĩnh
vực: sản xuất, nông nghiệp, du lịch (bao gồm cả khách sạn), dịch vụ, nghiên cứu phát
triển, giáo dục đào tạo và bảo vệ môi trường.
Ưu đãi thuế dành cho lĩnh vực sản xuất gồm 2 loại: ưu đãi dành cho DN đi tiên phong
(Pioneer Status: PS) và hỗ trợ cho hoạt động đầu tư (Investment Tax Allowance: ITA).
Các ưu đãi này được cấp cho DN trên cơ sở giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất, công
nghệ áp dụng, hay mức độ liên kết công nghiệp mà dự án đầu tư đem lại. Các dự án được
hưởng ưu đãi được coi là các hoạt động hay sản phẩm khuyến khích đầu tư.
DN đạt các tiêu chuẩn của DN đi tiên phong (được xác nhận thuộc ngành công nghiệp
mũi nhọn) sẽ được giảm 70% thuế TNDN trong vòng 5 năm. Theo đó, DN chỉ phải nộp



năm sau để bù trừ các khoản thu nhập tương lai trong các năm đó. Lỗ kinh doanh ròng
được định nghĩa là số chênh lệch của các khoản được trừ so với lãi gộp của cả năm tính


24

thuế. Lỗ ròng có thể được chuyển sang các năm sau nếu lỗ phát sinh trong năm mà DN
được miễn hoặc nếu có sự thay đổi về chủ sở hữu. Đối với một số trường hợp miễn thuế
đặc biệt, từ năm tính thuế thứ tư sau khi DN trong nước và DN nước ngoài là đối tượng
cư trú bắt đầu hoạt động kinh doanh, các DN này phải nộp một khoản thuế TNDN tối
thiểu nếu số thuế này vượt quá số thuế tính theo cách tính thuế thông thường. Số thuế
TNDN tối thiểu này là 2% của lãi gộp.
Các DN trong nước và nước ngoài đăng ký với Ban đầu tư theo đạo luật đầu tư theo
nhiều hạng mục có thể được hưởng ưu đãi thuế TNDN và miễn thuế đối với một số loại
thuế và thuế quan nhất định. Các DN đóng tại các khu vực kinh tế đặc biệt đã đăng ký với
cơ quan quản lý vùng kinh tế Philippines hoặc các vùng kinh tế đặc biệt có thể được
hưởng ưu đãi thuế thu nhập hoặc áp dụng theo một cơ chế thuế đặc biệt, theo đó chỉ phải
chịu mức thuế suất 5% tính trên thu nhập gộp thay cho tất cả các loại thuế trung ương và
địa phương.
Lợi nhuận chuyển từ một chi nhánh về trụ sở chính chịu thuế suất 15%. Loại thuế này
tính trên toàn bộ lợi nhuận chuyển hoặc được ghi nhận để chuyển mà không được trừ
thuế. Thuế này không áp dụng cho các lợi nhuận thu được từ các hoạt động đã đăng ký
với Cơ quan quản lý vùng kinh tế Philippines (PEZA). Lãi cổ phần, lãi từ tiền vay, tiền
bản quyền, tiền cho thuê và các khoản thu nhập tương tự của một DN nước ngoài có
nguồn từ Philippines không được coi là lợi nhuận của chi nhánh, trừ khi thực tế có liên
quan đến việc tiến hành thương mại hoặc kinh doanh tại Philippines.


Một số nước khác
Các nước khác trong khu vực, mặc dù có thuế suất phổ thông cao hơn nước ta nhưng

phát triển kinh tế xã hội đáp ứng nhu cầu chi tiêu của quốc gia, nhu cầu công cộng tối
thiểu của xã hội tùy theo từng điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia đó. Trong
giai đoạn hiện nay, cạnh tranh về thuế không kém phần gay gắt so với cạnh tranh về kinh
tế. Khi một quốc gia mà hệ thống pháp luật về thuế chưa thực sự đạt đến mức hoàn chỉnh
thù việc giảm thuế suất thuế TNDN chính là chính sách được nhiều quốc gia theo đuổi
thực hiện.
Ba là, phải chú trọng đến công tác tuyên truyền hướng dẫn pháp luật về ưu đãi thuế
TNDN nói riêng cũng như pháp luật về thuế nói chung nhằm nâng cao ý thức chấp hành
của mọi công dân. Tăng cường quản lý hóa đơn, sổ sách chứng từ kế toán làm cơ sở cho
việc hạch toán khấu trừ thuế được chính xác, tránh tình trạng gian lận thuế. Đồng thời,
trong qua trình triển khai thực hiện chúng ta phải có kế hoạch chi tiết cụ thể phù hợp với



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status