Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên các trường đại học khu vực hà nội hiện nay - Pdf 41

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gắn liền với sự phát triển rất nhanh chóng của công nghệ thông tin
trong thời đại ngày nay, không có lĩnh vực hoạt động xã hội nào lại không
chịu ảnh hưởng của sự bùng nổ thông tin. Nó có tác động mạnh mẽ trên phạm
vi toàn thế giới và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội hiện
đại. Chính vì vậy, tất cả các sự kiện đang xảy ra trên thế giới, không bị lệ
thuộc hay bị ngăn cản bởi không gian và thời gian, đều được mọi người tiếp
nhận, biết đến. Đó chính là sức mạnh của báo chí, một trong các phương tiện
truyền thông đại chúng. Báo chí đã trở thành món ăn tinh thần, một thói quen
tiếp nhận thông tin hàng ngày không thể thiếu được đối với các tầng lớp dân cư.
Mục đích hướng tới của báo chí chính là công chúng, phục vụ công
chúng. Báo chí không thể tồn tại bên ngoài xã hội, vì sứ mạng của báo chí trước
hết đó là thỏa mãn các nhu cầu xã hội. Bên cạnh đó, xã hội hiện đại cũng không
thể tồn tại mà không có báo chí. Đó là sự phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau giữa
các phương tiện thông tin đại chúng và xã hội, mang ý nghĩa nhiều mặt và đa
dạng. Các nhà báo và công chúng hưởng thụ thông tin đều tuân theo những luận
thuyết và quan điểm cụ thể về báo chí. Những luận thuyết và quan điểm ấy
quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, các hình thức và phương pháp hoạt động của các
phương tiện thông tin đại chúng.
Trong mối quan hệ với dư luận xã hội (hay chính là công chúng tiếp
nhận), báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng. Đầu tiên, phải kể đến vai trò khơi
nguồn, tức là năng lực xã hội hóa các sự kiện và các vấn đề từ một góc phố,
làng quê, ở một không gian hẹp thành sự kiện và vấn đề toàn xã hội, thậm chí
toàn cầu, để báo chí có thể nhanh chóng hoặc ngay lập tức đưa các sự kiện đến
với mọi người. Thứ đến, báo chí có vai trò phản ánh dư luận xã hội, phản ánh
càng kịp thời, càng sâu sát và đầy đủ bao nhiêu thì báo chí càng sinh động và
hấp dẫn bấy nhiêu. Sau cùng, báo chí có vai trò định hướng xã hội, tác động




3
Xuất phát từ đòi hỏi đó, tác giả lựa chọn vấn đề "Nhu cầu và điều kiện
tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên các trường đại học khu vực Hà
Nội hiện nay", làm đề tài luận văn với hi vọng góp phần đưa nhận thức về
đối tượng sinh viên theo hướng cụ thể, rõ ràng, chính xác hơn; đặc biệt là trên
cơ sở nhận diện nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí và điều kiện tiếp nhận nó
nhằm tìm kiếm giải pháp rút ngắn khoảng cách giữa nhu cầu và điều kiện tiếp
nhận để có thể nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí vào nhóm
công chúng sinh viên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận sản phẩm báo chí của
thanh niên nói chung và thanh niên sinh viên nói riêng hiện nay là một vấn đề
có tính cấp bách, song ở nước ta những công trình nghiên cứu lĩnh vực này
còn chưa được đề cập tới thường xuyên và đối với thực tiễn xã hội đặt ra.
Mặc dù vậy, đã có những công trình nghiên cứu sau:
Luận án tiến sĩ xã hội học "Truyền thông đại chúng và công chúng trường hợp thành phố Hồ Chí Minh" của Trần Hữu Quang (1998), là công
trình mang tính đại diện và nghiên cứu công chúng truyền thông, mức độ và
cách thức tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng của người dân
Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích tương quan giữa đọc báo, xem truyền hình
và nghe đài phát thanh, "các trục nội dung thường được theo dõi", "các mô
thức tiếp nhận truyền thông đại chúng", "sự tác động của một số nhân tố",
những luận giải khoa học từ kết quả điều tra xã hội học.
Có một số luận văn thạc sĩ xã hội học về công chúng truyền thông,
nhưng chỉ là những nhóm công chúng đặc trưng: Nhu cầu đọc báo của sinh
viên Thành phố Hồ Chí Minh, của Bành Tường Chân (1999) (chỉ với báo in);
Sinh viên Hà Nội và truyền thông đại chúng của Lý Hoàng Ngân (2000), dựa
trên số liệu điều tra của chương trình nghiên cứu "Sinh viên Hà Nội trong
giao tiếp đại chúng", Tạp chí Xã hội học, tháng 2-1998.

chúng, gồm ba bình diện, các bước tiến hành và phương pháp nghiên cứu.


5
Có những cách tiếp cận phổ biến: tiếp cận công chúng - nhóm đối
tượng đặc thù (theo độ tuổi, theo giới...) và tiếp cận công chúng theo nhóm
đối tượng của từng loại hình báo chí, tiếp cận từ đề tài thông tin, từ địa bàn
sống của cư dân,... Cách thứ nhất, có thể thấy ở các nghiên cứu chọn nhóm
công chúng thanh niên - sinh viên, nghiên cứu sự tác động của báo chí tới họ
với tư cách họ là nhóm công chúng đặc thù (Phân viện Báo chí và Tuyên
truyền, 1998, Nghiên cứu tác động của báo chí đối với việc xây dựng lối sống
tích cực của thanh niên, sinh viên hiện nay, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp Bộ).
Xã hội học báo chí của Trần Hữu Quang (2006), là công trình nghiên
cứu tương đối toàn diện, có hệ thống, trực tiếp về lĩnh vực xã hội học báo chí
ở nước ta. Tác giả trình bày có hệ thống cách tiếp cận xã hội học đối với các
quá trình truyền thông, đối với nghề báo, những quan điểm và phương pháp
nghiên cứu xã hội học về công chúng và nội dung truyền thông về ảnh hưởng
xã hội của truyền thông đại chúng. Đây là công trình đầu tiên ở trong nước đề
cập trực tiếp, chuyên sâu về xã hội học báo chí.
Mới đây nhất, Trần Bảo Khánh (2007), trong công trình “Đặc điểm
công chúng truyền hình Việt Nam” (Luận án tiến sĩ - Truyền thông đại chúng)
đã chỉ ra một số đặc điểm nhìn từ công chúng của kênh truyền thông này.
Nhìn chung, trên cả hai hướng nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực
nghiệm, giới nghiên cứu truyền thông trên thế giới và Việt Nam đã tiếp cận
dưới nhiều góc độ, nhiều quan điểm và phương pháp nghiên cứu, đều đề cao
vai trò tác động tích cực trở lại của công chúng đối với truyền thông; đề cao
việc nghiên cứu công chúng - đối tượng tác động của truyền thông; coi đây là
một bộ phận, một khâu không thể thiếu trong khi nghiên cứu truyền thông đại
chúng như một quá trình; là hoạt động có ý nghĩa sống còn đối với các cơ
quan truyền thông trên phương diện hoạch định chiến lược phát triển cũng

thanh niên sinh viên hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhu cầu và điều kiện tiếp nhận
sản phẩm báo chí của sinh viên; phạm vi khảo sát là sinh viên các trường Đại
học khu vực Hà Nội hiện nay. Việc nghiên cứu đối tượng này được thực hiện


7
thông qua việc kết hợp phân tích, so sánh với số liệu điều tra có sẵn về nghiên
cứu công chúng sinh viên với khách thể nghiên cứu là một số nhóm công chúng
thanh niên sinh viên đại diện qua điều tra xã hội học tại 8 trường Đại học, Cao
đẳng trên địa bàn Hà Nội: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Ngân
hàng, Học viện Tài chính, Đại học Ngoại thương, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại
học Thương mại, Đại học Mỏ - Địa chất, Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường.
Đề tài khảo sát nhu cầu tiếp nhận, điều kiện tiếp nhận của công chúng sinh
viên đối với tất cả các loại hình báo chí: báo in, báo phát thanh, báo hình, báo
mạng điện tử.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu: Cơ sở phương pháp luận
tiếp cận đối tượng là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về báo chí, lý thuyết xã hội học về
truyền thông; lý thuyết công chúng và nghiên cứu công chúng báo chí - truyền
thông; lý thuyết tiếp nhận và tâm lý sáng tạo báo chí; ...
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp tiếp cận gồm
phương pháp điều tra xã hội học, kết hợp với một số phương pháp thu thập, xử
lý thông tin (phân tích thống kê, tổng hợp và phân tích tài liệu, văn bản).
Các phương pháp thu thập thông tin:
- Nghiên cứu tài liệu (Nguồn: Các cuộc điều tra xã hội học gần đây, về
khán, thính giả phát thanh - truyền hình, bạn đọc của báo...).
- Điều tra xã hội học: thông qua phỏng vấn bằng bảng hỏi (an-két) để

Luận văn là công trình nghiên cứu đề cập một cách cơ bản và hệ thống về
nhu cầu và điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí của sinh viên. Do đó có ý
nghĩa tích cực, góp phần tổng kết, chia sẻ kinh nghiệm với các cơ quan báo chí.
Mặt khác giúp cho các nhà quản lý báo chí có một cái nhìn tổng quan và thực tế
về thực trạng nhu cầu và điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí của sinh viên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết, 87 trang.


9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN
TIẾP NHẬN SẢN PHẨM BÁO CHÍ
1.1. BÁO CHÍ VÀ CÔNG CHÚNG BÁO CHÍ

1.1.1. Khái niệm báo chí
Báo chí theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), báo chí là “Báo
và tạp chí; xuất bản phẩm định kỳ (nói khái quát)” [48, tr.54].
“Khái niệm báo chí được hiểu như một thiết chế, một chỉnh thể từ ý đồ
của quyền lực chính trị đến đối tượng tác động và các mối quan hệ trực tiếp,
gián tiếp” [9, tr.23].
Ở khía cạnh khác, khái niệm báo chí được định nghĩa: Những sản phẩm
truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin mang tính thời sự thông qua
phương pháp phản ánh hiện thực khách quan, trực tiếp và tác động vào công
chúng xã hội theo định kỳ.
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm báo chí là sản phẩm của
hoạt động báo chí để khảo sát sự tiếp nhận của công chúng.
Các loại hình báo chí đề cập trong luận văn bao gồm: báo in, phát
thanh, truyền hình và báo mạng điện tử (internet).

hình báo chí, cũng như sự phong phú của các đầu báo. Có thể dựa vào tính
chất của mỗi tờ báo để xác định được các nhóm công chúng khác nhau.
Chẳng hạn như, công chúng của báo chuyên ngành; công chúng các tờ báo
chính trị - xã hội, văn hoá xã hội; công chúng của báo địa phương...
Mỗi tờ báo thực hiện tôn chỉ mục đích của mình bằng việc đáp ứng nhu
cầu cho một nhóm công chúng nhất định. Nếu báo Hoa học trò chủ yếu dành
cho lứa tuổi học sinh thì công chúng chính là học sinh; thì báo Người cao tuổi
có công chúng là những người cao tuổi. Hay như Thời báo kinh tế, công chúng
không thể là học sinh phổ thông, mà thường là những người hoạt động trong
lĩnh vực kinh tế, có trình độ tương đối và tuổi đời cũng không phải còn trẻ.
Tất nhiên việc khác biệt này, là tương đối bởi sự giao thoa của các
nhóm công chúng không phải là không có. Cũng như trong các loại hình


11
tuyên truyền, công chúng báo chí cũng có thể là công chúng âm nhạc hay
công chúng hội họa. Xét ở từng góc độ sự thích ứng của mỗi nhóm công
chúng, cũng như mỗi loại hình truyền thông, đều có thể đưa lại những xem
xét đánh giá về đặc điểm, vai trò một cách khác nhau.
1.1.3. Vai trò của công chúng báo chí
Có thể xuất phát từ vai trò của quần chúng trong lịch sử để nói về vai
trò của công chúng báo chí, bởi lẽ khái niệm công chúng gần gũi với khái
niệm quần chúng. Quần chúng chủ yếu nhìn từ góc độ tuyên truyền vận động
cách mạng; công chúng chủ yếu nhìn từ góc độ truyền thông - tương tác bình
đẳng. Quần chúng nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách
mạng. Chính trong quá trình đấu tranh cách mạng, giai cấp vô sản đã dựa vào
lực lượng vĩ đại là quần chúng nhân dân để tiến hành đấu tranh với giai cấp tư
sản và các thế lực phản động khác. Báo chí trong suốt quá trình này, cũng đã
trở thành một thứ vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản. Và
ngay trong lĩnh vực này quần chúng cách mạng cũng góp một phần rất lớn.

chúng nhân dân. Công chúng báo chí là lực lượng công tác đắc lực cho mỗi tờ
báo, mỗi chương trình. Những cây viết "nghiệp dư" ấy đã làm cho báo chí
thực sự là diễn đàn dân chủ của nhân dân. Lênin đã từng chỉ ra rằng "Cơ quan
báo sẽ sinh động, đầy sức sống khi nào cứ 5 nhà văn lãnh đạo và thường
xuyên viết sách thì lại có 500 và 5.000 nhân viên công tác không phải là nhà
văn" [34, tr.86].
Cuộc sống sôi động và đầy phức tạp, bản thân mỗi nhà báo chuyên
nghiệp dù có hăng say, năng nổ đến đâu cũng không thể nắm bắt được mọi
vấn đề. Do đó, nếu không có sự tham gia đông đảo của quần chúng thì báo chí
không thể phản ánh được tình hình một cách toàn diện; cũng không thể kịp
thời phát hiện những nhân tố mới, những hạn chế, tiêu cực trên mọi lĩnh vực.
Vừa là nguồn cung cấp đề tài vô tận, vừa là lực lượng viết đông đảo, và
quan trọng hơn cả công chúng báo chí là người thưởng thức và tiêu thụ sản
phẩm báo chí. Yếu tố này là cơ sở để duy trì sự tồn tại của hoạt động báo chí.
Tác phẩm báo chí (nhiều thể loại như tin tức, bài báo, chương trình phát
thanh, truyền hình) đều chứa những thông điệp và là một nhịp cầu chuyển tải
thông tin đến công chúng. Thông tin trong tác phẩm báo chí khi chưa được
công chúng tiếp nhận, mới chỉ là thông tin khả năng. Việc công chúng không
tiếp nhận các văn bản thông báo, không mua và đọc báo, không nghe các


13
chương trình phát thanh, không xem các chương trình truyền hình sẽ phá vỡ
khả năng thực hiện thông tin trong mối quan hệ nhà báo - tác phẩm - công
chúng. Và như thế hoạt động báo chí mới chỉ thực hiện được một nửa chức
năng của mình.
Trong chế độ ta hầu như tất cả các loại hình báo chí đều có chung mục
đích phấn đấu: Vì nhân dân phục vụ! Những gì trái ngược với lợi ích của
nhân dân, không có lợi cho nhân dân đều đi ngược lại với mục đích lý tưởng
của báo chí. Vì vậy, người thẩm định những giá trị của báo chí chính là công

có phù hợp và đem lại những hiệu quả đối với công chúng hay không.
1.2. NHU CẦU TIẾP NHẬN CÁC SẢN PHẨM BÁO CHÍ

1.2.1. Khái niệm nhu cầu
Theo nghĩa từ, "nhu" là cần thiết, "cầu' là đòi hỏi, mong muốn. Sự đòi
hỏi, mong muốn ấy xuất hiện do chủ thể cảm giác thấy cơ thể thiếu hụt một
cái gì đó rất cần thiết cho sự sinh tồn. Cảm giác ấy thôi thúc con người đến
những hành vi nào đấy, để có thể thoả mãn sự thiếu thốn đang diễn ra, nhằm
duy trì sự cân bằng, bảo đảm sự tồn tại và phát triển. Ví dụ như cảm giác đói
thôi thúc động vật đi tìm thức ăn và ăn...
Nhu cầu có cơ sở sinh vật của chúng. Và cũng do vậy nên chắc chắn có
một phạm vi trong đó các nhu cầu có thể thừa nhận một cách khách quan. Ví
dụ, để sống còn, người phải ăn, uống, che thân thể, phải có chỗ ở..., và bất kỳ
ở nơi nào, thời kỳ nào của lịch sử cũng đều phải như vậy, dù thức ăn, quần áo
mặc, nhà ở có khác đi đến thế nào.
Song không thể từ cơ sở sinh vật ấy của nhu cầu mà cho rằng nhu
cầu là cái tiên thiên bất biến trong bản chất người, coi nhu cầu là biểu hiện
của bản tính người tồn tại nguyên dạng từ đời này sang đời khác. Thời tiền
sử, để no con người chỉ biết săn bắn, hái lượm; để ấm dùng lá cây, vỏ cây.
Thời đại ngày nay, con người đã biết trồng lúa, trồng mì chế biến thành
cơm, thành bánh hoặc nuôi cừu, trồng bông, chế tạo vải tơ, len, dạ ... họ
không bao giờ quay trở lại thoả mãn nhu cầu như người tiền sử. Không
những thế người ngày nay còn có vô số những nhu cầu mà thời kỳ trước


15
không có: giao thông bằng ôtô, máy bay; giao tiếp hữu tuyến, vô tuyến;
xem vô tuyến truyền hình, phim ảnh, sử dụng máy vi tính...
Chính vì vậy, khó có thể có một định nghĩa chung về "nhu cầu", tức
một định nghĩa bao trùm cả tính sinh vật và tính xã hội của "nhu cầu".

Nhu cầu là khái niệm rộng, là đối tượng nghiên cứu của triết học, sinh
vật học, tâm lý học, kinh tế học, xã hội học... Trong luận văn, khái niệm nhu
cầu được xem xét như là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực xã hội học.
Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô, nhu cầu, theo nghĩa chung nhất,
là "Sự cần đến hay sự thiếu một cái gì đó cần thiết để duy trì hoạt động đời
sống của cơ thể, của con người cá nhân, của một tập đoàn xã hội, của toàn bộ
xã hội" [1, tr.3]. Từ điển tiếng Việt định nghĩa nhu cầu là: "Điều đòi hỏi của
đời sống, tự nhiên và xã hội" [48, tr.719].
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin phân biện hai loại nhu
cầu: Những nhu cầu tự nhiên và những nhu cầu do xã hội tạo ra. C.Mác
thường xuyên nhấn mạnh "tính chất xã hội chung của tất cả các dạng nhu
cầu cá nhân và xã hội" [1, tr.9].
Từ những cơ sở trên đây, khái niệm nhu cầu tiếp nhận sử dụng trong
luận văn được hiểu là thuộc loại nhu cầu xã hội.
Luận văn chú ý đến các bình diện nhu cầu và mục đích của nhu cầu, sử
dụng trong quá trình nghiên cứu (nhất là khâu xây dựng bộ câu hỏi điều tra xã
hội học và khâu phân tích, dự báo nhu cầu).
Các bình diện nhu cầu gồm: Nhu cầu đã được đáp ứng, nhu cầu chưa
được đáp ứng, nhu cầu tiếp nhận để phát thông tin.


17
1.2.2. Công chúng sinh viên - những đặc điểm cơ bản
- Về lứa tuổi và trình độ: Sinh viên thường là những người ở độ tuổi từ
18 đến 25, phát triển khá đầy đủ cả về thể chất và tinh thần. Ở thời điểm này,
nhân cách của sinh viên đang được hình thành và hoàn thiện nên chưa có sự
ổn định mà ngược lại nó luôn ở trạng thái giao động, phân luồng, cần định
hướng đúng đắn để phát triển nhân cách một cách tốt nhất.
- Về trình độ: sinh viên là những người có kiến thức cơ bản, mặt bằng
văn hoá khá (đã qua 12 năm phổ thông và trúng tuyển vào các trường Đại

giáo dục thẩm mỹ, lao động, giáo dục giá trị văn hoá tư tưởng, giáo dục lý
luận kết hợp với thế hệ trẻ. Mác viết, chúng ta không tin vào việc giáo dục,
rèn luyện và học tập nếu những việc đó chỉ đóng khung trong nhà trường và
tách rời cuộc sống sôi nổi.
Xác định vai trò, vị trí của sinh viên đối với tương lai của đất nước,
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì
lợi ích trăm năm thì phải trồng người". Theo Bác, trong giáo dục phải chú ý
đào tạo thế hệ trẻ thành những người vừa "hồng" vừa "chuyên" (có cả đức lẫn
tài): "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung
phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần chăm lo giáo dục đạo
đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ
nghĩa xã hội, vừa hồng, vừa chuyên" [39, tr. 510].
Quan điểm chiến lược của Đảng ta về thanh niên, sinh viên đã được
trình bày một cách cụ thể trong Nghị quyết lần thứ IV của Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa VII, đã chỉ rõ, thanh niên sinh viên là lực lượng đóng
vai trò xung kích trong sự nghiệp đổi mới và đưa đất nước đi vào thời kỳ phát
triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa. Họ là lớp người đang thực
hiện những nhiệm vụ trọng đại, với ước vọng cao đẹp mà thế hệ trước chưa
có điều kiện hoàn thành hoặc chưa làm được và nâng nó lên một tầm cao mới,
chính thanh niên sinh viên mới là lớp người đủ tài trí và sức khỏe đáp ứng
được quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, bắt kịp trình độ của thời đại để
đưa đất nước vào tương lai.


19
Như vậy, thanh niên ta ngày nay là lực lượng xã hội to lớn, có tiềm
năng hùng hậu. Kế thừa tinh hoa của dân tộc và những thành quả cách mạng,
qua mở rộng giao lưu quốc tế, thanh niên có mặt mạnh cơ bản là trình độ học
vấn cao hơn trước, tầm nhìn rộng, nhạy cảm với thời cuộc, giàu lòng yêu
nước, có khát vọng nhanh chóng đưa đất nước vượt qua nghèo nàn và lạc hậu,

những gì đã biết, mặc dù chúng đang cho những kết quả cao thì ta có thể thấy
được rằng, cần có một lực lượng trí thức đủ kiến thức để tiếp cận nền kinh tế
đầy ẩn số này. Lực lượng ấy là ai nếu không phải là chính những sinh viên
đang được đào tạo theo hướng hiện đại nhất và hiệu quả nhất của chúng ta
hiện nay. Sự năng động nhiệt tình của sinh viên, mức độ tiếp cận nhanh chóng
các thông tin, các tiến bộ khoa học kỹ thuật chính là điểm khởi đầu cho việc
xây dựng và phát triển một nền kinh tế phù hợp với ưu thế phát triển chung
của toàn nhân loại. Hơn nữa, khi tham gia vào nền kinh tế này thì vấn đề nắm
bắt thông tin trở thành điều sống còn đối với mỗi cá nhân và các tổ chức. Sinh
viên lại một lần nữa phát huy ưu thế của mình. Vì vậy mà có thể nói sinh viên
hiện nay chính là lực lượng chủ chốt trong việc xây dựng một nền kinh tế tri
thức cho đất nước trong một tương lai không xa.
Trong sự nghiệp đổi mới chung của đất nước, sinh viên không chỉ tham
gia vào việc tạo dựng nền kinh tế tri thức mà còn tham gia vào các công tác
xã hội. Trong những năm qua, cả nước đã ghi nhận những đóng góp của sinh
viên tình nguyện trong các hoạt động xã hội: lên miền núi dạy học, xoá mù
chữ cho người dân; giúp đỡ các gia đình khó khăn, gia đình có công với cách
mạng… Sinh viên tham gia tích cực vào việc cổ động phong trào phòng
chống các tệ nạn xã hội, tham gia vào việc bảo vệ môi trường, cảnh quan đô
thị... Tất cả những công tác đó đã góp phần thực hiện tốt các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước ta đã đề ra.
Qua đây, chúng ta có thể nhận thấy tiềm năng của sinh viên là rất lớn.
Nếu được đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng thường xuyên và nghiêm túc, hiệu quả
thì trong tương lai sinh viên sẽ là một nhân tố quan trọng đưa đất nước phát
triển đi lên theo hướng hiện đại.


21
Trong quá trình sống và học tập, sinh viên luôn phải đối mặt với rất
nhiều vấn đề. Trước hết và cơ bản nhất là việc học hành song học tập như thế

nghiên cứu các đề tài khoa học các cấp, đòi hỏi cao trong việc thưởng thức
văn hoá nghệ thuật và sáng tạo ra các giá trị văn hoá, thẩm mỹ mới mẻ. Đặc
biệt, sinh viên còn tham gia vào các hoạt động chính trị, nhiều sinh viên ưu tú
được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ rằng sinh viên rất
quan tâm đến tương lai chính trị của đất nước. Đây là một điều đáng vui
mừng vì khi sinh viên trực tiếp tham gia và quan tâm đến tình hình chính trị
của đất nước thì mới có thể đưa đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa
mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Song, trong sinh viên, đặc biệt là trong giai
đoạn hiện nay thì cũng nảy sinh không ít những hiện tượng tiêu cực, đang làm
xói mòn đạo đức và lối sống của chính họ. Không ít sinh viên coi những lợi
ích cá nhân là trên hết mà bỏ qua lợi ích cộng đồng, coi giá trị kinh tế lớn hơn
giá trị tinh thần, lấy lợi ích trước mắt mà không quan tâm đến lợi ích lâu dài,
lấy giá trị hiện đại để phủ nhận giá trị truyền thống, lấy hưởng thụ làm mục
đích sống duy nhất... Về mặt học tập, chiếm một số lượng không ít sinh viên
có biểu hiện thiếu động cơ đúng đắn: gian lận trong thi cử, chạy bằng cấp;
một số ngại tham gia vào hoạt động đoàn thể... Ngoài ra sinh viên còn sa vào
các tệ nạn xã hội như: sinh viên nghiện hút, sinh viên cờ bạc, sinh viên nhiễm
HIV/AIDS, sinh viên đọc và xem những sản phẩm văn hoá độc hại... Bằng ấy
những vấn đề nổi cộm trong sinh viên đã được Nghị quyết Trung ương 2 khoá
VIII nhận định: Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có
tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, thiếu hoài bão lập thân, lập
nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước.
Sinh viên là đối tượng tác động quan trọng của các loại hình báo chí.
Trên báo, tạp chí, Đài truyền hình đều có các chuyên trang, chuyên mục dành
riêng viết về đề tài sinh viên và viết cho sinh viên. Ngoài ra còn có các tờ báo,
tạp chí dành riêng cho sinh viên như: báo Sinh viên Việt Nam - cơ quan ngôn
luận của Hội sinh viên Việt Nam; tạp chí Sinh viên của Bộ Giáo dục và đào


23

24
nước ta đã rất chú trọng đến việc cung cấp một lượng thông tin đầy đủ và
chính xác nhất cho mọi đối tượng, trong đó có sinh viên. Nhận thức, nắm bắt
được thông tin, thông qua quá trình sàng lọc, sinh viên tự biến những thông
tin đó thành tri thức để làm giàu kiến thức cho mình và góp phần vào sự
nghiệp đổi mới của đất nước. Thiếu thông tin, sinh viên không thể có điều
kiện phát triển toàn diện cả về trình độ và nhân cách.
* Báo chí có vai trò giáo dục lý tưởng, lối sống cho thanh niên, sinh viên
Sinh viên là một nguồn sức mạnh tiềm năng lớn trong sự nghiệp đổi
mới đất nước. Để tiềm năng ấy biến thành kết quả thực sự và phát huy được
hết sức mạnh của nó trong tương lai thì việc giáo dục sinh viên cần được coi
trọng, đặc biệt là giáo dục về lý tưởng và lối sống.
Giáo dục lý tưởng cho sinh viên nhằm hình thành trong sinh viên một
hệ thống những quan niệm sống phù hợp với đặc điểm tình hình hiện tại và
định hướng cho sinh viên giá trị tốt đẹp của cuộc sống để từ đó giúp sinh viên
xây dựng những ước mơ, hoài bão đẹp, lành mạnh có tác động tích cực đến sự
phát triển nhân cách và trí tuệ của chính họ.
Việc giáo dục lý tưởng cho sinh viên hiện nay được đặt ra như một
nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu của báo chí. Như chúng ta đã biết, sinh viên
Việt Nam ngày càng vững tin vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và
nhân dân ta đã lựa chọn, biết kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, đã và đang thể hiện bản thân của mình trong việc tham gia tích
cực vào công cuộc đổi mới của đất nước. Việt Nam đã đi qua hơn 20 năm đổi
mới những thành tựu mà chúng ta đạt được đã tạo ra một môi trường lành
mạnh và thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của sinh viên. Song cùng với
quá trình đổi mới đi lên của đất nước sự hình hành và phát triển ngày càng
nhanh, mạnh của cơ chế thị trường đã ít nhiều tác động đến sinh viên theo cả
hai hướng tích cực và tiêu cực; một mặt hình thành trong sinh viên sự năng
động, nhạy bén, mặt khác nó lại dễ cuốn sinh viên theo những ham muốn vật





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status