Rồng thời lý
Rồng và Tiên trong lịch sử đồ tượng Việt Nam
Thứ 7, 29/07/2006
• 29922 lượt xem
CÁC TIN KHÁC
Mỹ thuật cổ truyền
Kiến trúc Việt Nam
Tranh dân gian
Điêu khắc cổ Việt Nam
Gốm sứ cổ truyền
Truyện Họ Hồng Bàng (Lĩnh Nam chích quái, thế kỷ 15) có chi tiết đáng chú ý: Lạc
Long Quân dạy dân vùng cao xăm mình để tránh bị giao long làm hại. Con rồng Việt
Nam xuất phát cụ thể từ con vật gọi là giao long/ thuồng luồng.
Một số nhà nghiên cứu khẳng định vật tổ của người Việt là con "cá sấu" (Theo Từ điển
Tiếng Việt của Văn Tân), là con "lân trùng" (rắn có vảy) hay con "giao long", một loài cá
sấu (Ðinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên - Văn học dân gian Việt Nam). Và Nguyễn
Minh Hiệu đã chứng minh bằng nhiều cứ liệu: con rồng Việt chính là con cá sấu, vật tổ
chính của người Việt cổ (tạp chí Khảo cổ học, 1983, số 2). Khởi đi từ con rồng - sấu, con
rồng Việt trong lịch sử đã biến đổi nhiều do sự tích hợp các yếu tố du nhập từ bên ngoài.
A. Các dạng Rồng.
1. Rồng - Sấu: Hình 1a
2. Rồng sấu - Rắn:
Rồng (đầu là cá sấu, dưới là rắn cuộn) trên tấm yểm tâm của áo giáp ở Ninh Bình.
3. Rồng - Rắn với đầu cá sấu:
Rìu vai, đồng, thế kỷ 5-3 trước CN, Ðồng Sơn, Bảo tàng lịch sử Hà Nội.
4. Rồng Mèo:
Rồng - Mèo là hình dạng rồng in trên mảnh sành được phát hiện ở Bắc Ninh: đầu sấu đã
chim nước: cò, bồ nông, xít...
Kết hợp thể "âm dương lưỡng hợp" chim-rồng ở đây là giao long và chim lạc. Ðó là
những biểu hiện đơn nhất ở một số mặt trống đồng (Hoà Bình, Phú Xuyên) và không
thuần nhất, tức chim lạc xen với các loại chim nước(âu) khác ở một số mặt trống đồng
khác. Phải chăng do hiện tượng không thuần nhất này mà Lạc - Long đã thành Lạc Long
Quân - Âu cơ? Chim-rồng là đề tài còn bảo lưu mãi về sau: hình in trên viên gạch phát
hiện ở chùa Lim trong một ngôi mộ cổ (Thế kỷ 1, sau CN).
Cha Rồng - Mẹ Tiên:
Lạc Long Quân - Âu cơ ở đây đã là tôn danh: Quân (vua) và Cơ (cũng gọi là ky: mỹ hiệu
của phụ nữ) theo Ðào Duy Anh (Hán Việt từ điển). ở đây vấn đề cần giải quyết là tại sao
"Lạc Long Quân - Âu cơ" lại trở thành "Cha Rồng - mẹ Tiên"?
Việc xác định tông tích của Âu Cơ là tiên xuất hiện lần đầu trong Lĩnh Nam chích quái
(thế kỷ 15) tại đoạn đối thoại của Lạc Long Quân: "Ta là nòi rồng, đứng đầu thuỷ tộc,
nàng là giống tiên, sống ở trên đất...". Do đó việc giải đáp vấn nạn trên buộc phải truy
cứu các dữ liệu lịch sử-văn hoá của thời đại đó, tức trong và trước thế kỷ 15: thời Lý Trần. Cụ thể trong nghệ thuật đồ tượng Lý -Trần, các công trình nghiên cứu đã cho chúng
ta thấy có rất nhiều phù điêu, hình chạm khắc và tượng tròn (gỗ và đá) về đề tài "tiên" ở
nhiều di tích khác nhau (chùa Phật Tích, Chương Sơn, Long Ðội, chùa Dâu, chùa Bối,
Thái Lạc...) dưới các tên gọi và chú thích (chưa thật sự chính xác) là: "tiên nữ/ Apsara",
"nhạc công/ Gandharva", "nữ thần chim/Kinnari"...Rõ ràng đây là kết quả có gốc từ tám
loại chúng sanh gọi là "bát bộ chúng" của Phật giáo gồm: 1. Thiên (Ðêva); 2. Long
(Naga); 3. Dạ xoa (Yasha); 4. Atula (Asura; phi thiên); 5. Ca lâu la (Garuda: chim thần
Kim Sí điểu); 6. Càn - thát bà (Gandharva); 7. Khẩnnala (Kinnara); 8. Ma hầu la già
(Mahôraga: đại xà vương). Trong tám loại chúng này có ít ra bốn loại có thể được coi là
tiên. Hình minh hoạ:
Bốn loại có thể được coi là tiên gồm:
Phật giáo.
Thời lý có 3 trong số 4 tứ đại khí đó là Tháp Bảo Thiên, Tượng phật Di Lặt và chuông
Quy Điền.
Mỹ thuật thời nhà Lý mang đậm chất Phật Giáo, thời kỳ này là được xem là thời kỳ vàng
son của lịch sử mỹ thuật Việt nam.
Phật giáo và đời sống
Phật giáo và đời sống - Văn Hóa và Giáo Dục Viết bởi Chu Quang Trứ ...Các vua Lý
rất tin theo Phật giáo, Hoàng hậu Ỷ Lan được dân tôn là Quan Âm nữ. Vì thế vô số Chùa
Tháp được xây dựng, mà ở thời Lý, Tháp chính là đền thờ Phật, là kiến trúc chủ yếu của
Chùa giống như kiến trúc Phật giáo của Ấn Độ và nhiều nước Đông Nam Á.
...Trên pho tượng Phật ở Chùa Phật Tích, chúng ta thấy nghệ sĩ xưa đã đưa vào đây cái
nhìn chung của thẩm mỹ Đông Nam Á trên cơ sở cái chuẩn gốc Ấn Độ: Tượng ngồi kiết
già là thế ngồi hoa sen, lưng dướn thẳng để xương sống gần vuông góc với mặt đất, mắt
khép hờ nhìn xuống nơi chót mũi. Đó là thế ngồi cân đối, vững chắc lâu mỏi, điều hoà
được hai luồng điện âm dương để cho thần kinh thảnh thơi minh mẫn, và trí não phát
triển. Tuân giữ cái chung ấy, nhưng nghệ sĩ thời Lý đã Việt Nam hóa theo vẻ đẹp lý
tưởng của phụ nữ Việt Nam là mặt hơi trái xoan, lông mày cong thanh, mắt phượng, mũi
dọc dừa, miệng mỉm cười, cổ cao ba ngấn, thân hình thon thả dong dỏng...
...Nhân dân Đại Việt tiếp thu Phật giáo từ rất sớm, chắc chắn đã tiếp nhận thần thoại Ấn
Độ, cũng tôn sùng Indra như người Aryan. Nhà Lý thấy rõ điều đó, đồng hóa Indra với
Phật, năm 1057 đã xây hai Chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ, đồng thời đúc lại hai tượng
Phạm Vương và Đế Thích để thờ ở đó, đầu năm các vua vẫn đến đấy làm lễ.
Mỹ Thuật Lý Trong Quan Hệ Với Mỹ
Thuật Đông Nam Á
Chu Quang Trứ (Viện Mỹ thuật)
Nằm ở sườn Đông Nam của lục địa Châu Á nhìn ra nơi gặp gỡ của hai đại dương là Thái
Bình Dương và Ấn Độ Dương, điều kiện địa lý đã đặt nước ta vào giữa vùng Đông Nam
Cho đến khi các cư dân ở các miền khác nhau của Đông Nam Á đã tiến từ vùng rừng núi
xuống và từ ven biển vào chinh phục được vùng đồng bằng, cùng nhau phát triển kinh tế
trồng cấy lúa nước, thì trên cơ sở đó đã cùng sáng tạo ra một nền văn hóa Đông Sơn với
sự hội tụ của các yếu tố văn hóa đồng bằng, biển, rừng núi, mà qua chứng cứ chắc chắn là
một loạt trống đồng Đông Sơn (tức trống đồng loại I Hê gơ) phát hiện được trong toàn
khu vực Đông Nam Á (trong đó tập trung nhất ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng
sông Mã của Việt Nam), đã gắn các nước này thành một chỉnh thể thống nhất và độc đáo.
Trên cơ sở sức mạnh văn hóa Đông Sơn, vào khoảng trước sau Công nguyên, từng
“nước” ở đây lại có cuộc tiếp xúc với mức độ khác nhau và bằng những hình thức khác
nhau với văn hóa Ấn và văn hóa Hán. Trong cuộc tiếp xúc ấy, văn hóa Ấn đã thâm nhập
hòa bình, được các nước Đông Nam Á (nhất là khu vực hải đảo) tiếp nhận tự giác để
hoàn thiện quá trình dựng nước, qua chọn lọc đã đồng hóa những cái bên ngoài vào thành
sở hữu của mình, sáng tạo ra những công trình nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc tuy học
theo Ấn Độ nhưng đều thoát xác, uốn nắn, vuốt ve để phù hợp với đời sống và thẩm mỹ
của mình, làm thành tài sản riêng của nghệ thuật Đông Nam Á.
Trái lại, văn hóa Hán đã tiến hành một cuộc thâm nhập cưỡng bức bằng bạo lực. Từ thế
kỷ III trước công nguyên, những người Việt trong Bách Việt ở vùng Ngũ Lĩnh (miền Hoa
Nam ngày nay) đã bị đế quốc Tần thôn tính và dần đồng hóa văn hóa. Đến bán đảo đông
Dương, đế quốc Tần bị những người Lạc Việt và Âu Việt ở đây chặn lại và đánh bại.
Nhưng sau đó đế quốc Hán đã chiếm được nước Âu Lạc và chia thành quận, huyện để cai
trị, du nhập ồ ạt văn hóa Hán nhằm đồng hóa, chính vì sự thử thách khốc liệt ấy của lịch
sử, dân tộc ta vốn là chủ nhân của trung tâm văn hóa Đông Sơn, bằng tất cả sức mạnh
dồn nén đã phải vừa đấu tranh vũ trang vừa đấu tranh văn hóa, chống lại sự Hán hóa, có
cưỡng nhận nhiều yếu tố văn hóa Hán nhưng rồi tiêu thụ linh hoạt thành phong cách bản
địa để nâng mình lên.
Thế là trong nhiều thế kỷ đầu của kỷ nguyên thiên chúa, dân tộc ta vừa phải đưa vào
trong dân gian những mảnh của văn hóa Đông Sơn bị đế quốc Hán đập vỡ, để bảo lưu,
giữ truyền thống và nuôi sức mạnh; rồi trên sơ sở đó tiếp thu chọn lọc một cách tự giác
làm lợi cho nông nghiệp lúa nước, được thờ dưới danh nghĩa “Tứ Pháp”... mà mọi người
đều biết, thực chất là cuộc giao tiếp mạnh mẽ, sâu sắc, tôn trọng và rất tự giác của văn
hóa Việt với văn hóa Ấn; trong đó dân tộc ta đã tiêu hóa nhuần nhuyễn, thai nghén những
yếu tố ngoại lai, để sản sinh ra một thành tựu văn hóa mới cao đẹp hơn, được đẩy lên
đỉnh điểm bất diệt.
Trong cuộc tiếp xúc với văn hóa Ấn, tập trung và trước hết là tiếp thu Phật giáo. Theo
nhận xét của nhà sư Trung Quốc thời Tùy là Đàm Thiên (mà thiền sư Trí Không thời Lý
trong khi đàm đạo với hoàng hậu Ỷ Lan đã dẫn): “Xứ Giao Châu có đường thông sang
Thiên Trúc. Khi Phật giáo vào Trung Quốc chưa phổ cập tới Giang Đông mà ở vùng Luy
Lâu của xứ ấy đã xây dựng hơn 20 bảo Tháp, độ được 500 vị Tăng và dịch được 15 bộ
kinh. Thế là xứ ấy theo đạo Phật trước ta (Trung Quốc). Bấy giờ có các vị sư Mâu Bác,
Ma La Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương đến ở đó truyền đạo”. Trong bốn
vị sư trên, Mâu Bác sống ở thế kỷ II. Như vậy Phật giáo có thể thâm nhập vào ta từ đầu
công nguyên và bằng con đương trực tiếp từ Ấn Độ sang: Bằng đường thủy từ phía Nam
lên, rồi về sau lại thêm đường bộ từ phía Tây (qua Tây Tạng, Vân Nam và Lào) đến. Phật
giáo với những nhà sư có nhiều “phép lạ”, đã kết hợp được với tín ngưỡng nguyên thủy
bản địa, mau chóng chiếm được lòng dân và trở thành ngọn cờ cứu nước, trong đó phong
trào do một Phật tử họ Lý (quen gọi là Lý Phật tử) cầm đầu ở thế kỷ VI là một điển hình,
ở thế kỷ X, các nhà sư đã tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến chống Tống của nhà
Tiền Lê, đã chuẩn bị dư luận đảo chính lập ra nhà Lý. Các vua Lý rất tin theo Phật giáo,
Hoàng hậu Ỷ Lan được dân tôn là Quan Âm nữ. Vì thế vô số Chùa Tháp được xây dựng,
mà ở thời Lý, Tháp chính là đền thờ Phật, là kiến trúc chủ yếu của Chùa giống như kiến
trúc Phật giáo của Ấn Độ và nhiều nước Đông Nam Á.
Từ nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, dân tộc ta cũng như các dân tộc khác ở Đông Nam
Á lại có tín ngưỡng thờ tổ tiên và thờ các lực lượng tự nhiên để mong được phù hộ cho
mưa thuận gió hòa có lợi cho cây lúa phát triển. Lại từ thờ tổ tiên trong gia đình được mở
ra thành thờ tổ tiên của cả nước. Các vua Lý rất chú ý phong thần cho các anh hùng dân
tộc, lập Đền Hùng thờ tổ nước và các đền Gióng thờ anh hùng thần thoại, đền Hai Bà
Trưng, đền Bà Triệu thờ anh hùng lịch sử. Từ việc thờ tổ tiên gắn với kinh tế nông
sĩ thiên thần Gandharla đều không ngừng biểu diễn và phô diễn những đường nét, dáng
dấp, màu sắc và thanh âm đẹp đẽ ở trong đất trời.
Trong thế giới thần thoại Ấn Độ, Indra với chức năng thần Mưa và thần Sấm sét, được
người Aryan khi định cư ở Punjab (Tây Bắc Ấn Độ) mưa nhiều đất tốt thuận lợi cho
trồng trọt và chăn nuôi, nhưng luôn diễn ra cảnh ráng đỏ, mây đen ùn ùn, sấm chớp kinh
hoàng, mưa tuôn xối xả... đã gây ấn tượng sâu sắc về lực lượng thiên nhiên, để rồi sáng
tạo ra vị thần tối cao của các thần có nhiệm vụ bảo vệ các thành viên của cộng đồng và
của cải của cộng đồng. Nhân dân kính trọng và yêu quý Indra vô cùng, thì giai cấp thống
trị lợi dụng nhận làm con cháu Indra, suy tôn Indra làm ngọc hoàng Thượng đế cai quản
cõi trời, còn mình cai quản cõi đất theo lệnh Ngọc hoàng Thượng đế. Indra truyền qua
các nước Đông Nam Á còn có các tên là Phạm Vương hay Đế Thích. Theo một vài tài
liệu, Phạm Vương chính là Brahma.
Nhân dân Đại Việt tiếp thu Phật giáo từ rất sớm, chắc chắn đã tiếp nhận thần thoại Ấn
Độ, cũng tôn sùng Indra như người Aryan. Nhà Lý thấy rõ điều đó, đồng hóa Indra với
Phật, năm 1057 đã xây hai Chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ, đồng thời đúc lại hai tượng
Phạm Vương và Đế Thích để thờ ở đó, đầu năm các vua vẫn đến đấy làm lễ. Ngày nay
chúng ta không còn hai tượng Phạm Vương và Đế Thích, nhưng một số nhân vật của thế
giới của Indra vẫn còn. Chân cột Chùa Phật Tích cả bốn mặt đều chạm lặp lại dàn nhạc
thiên thần gồm mười nhạc công kiểu Gandharva biểu diễn. Thành bậc tháp Chương Sơn
mỗi mặt chạm bảy vũ nữ kiểu Apsara đang múa dâng hoa. Chùa Phật Tích và Chùa Đọi
còn có tượng những người chim kiểu Kinnara đang biểu diễn. Những nhạc công vũ nữ
(Gandharva và Apsara) ấy trong tư thế biểu diễn cùng theo công thức tạc tượng múa của
Ấn Độ uốn né người vặn thành ba khúc duyên dáng và sinh động. Cho đến cuối thời
Trần, khi Chùa trở thành của làng, Phật giáo dân gian hóa để càng gần quần chúng, ta lại
gặp ở Chùa Thái Lạc (vốn xưa thuộc Kinh Bắc, nay thuộc Hải Hưng), trên chạm gỗ
những hình tượng tương đồng với Kinnara và Gandharva, được diễn tả sôi nổi, hồ hởi
trong cả một loạt bức khác nhau.
Chúng ta còn gặp trong hình tượng rất độc đáo Việt nam, là con rồng thời Lý chắc chắn
Có 2 dòng văn học chính : văn học Phật giáo và văn học yêu nước dân tộc.
Tư tưởng Phật giáo trong thơ văn Lý - Trần chủ yếu là tư tưởng của phái Thiền
tông. Nó bao gồm các tác phẩm về triết học và những cảm hứng Phật giáo, cùng
là những tác phẩm về lịch sử Phật giáo thời Lý - Trần. Nhiều bài thơ phú, kệ,
minh do các sư tăng trí thức viết, bàn về các khái niệm sắc - không, tử - sinh,
hưng - vong, quan hệ giữa Phật và Tâm, đạo và đời, con người và thiên nhiên,
phản ánh sự minh triết và niềm lạc quan của cá nhân trong cuộc sống và thời đại.
Sư Mãn Giác để lại những câu thơ nổi tiếng về cảm hứng đó.
"Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai"
(nghĩa là : Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước nở cành mai)
Một số nhà vua và quý tộc sùng Phật đã biên soạn những tác phẩm về giáo lý
nhà Phật như các cuốn Khóa hư lục, bài Thiền tông chi nam của Trần Thái Tông,
Thiền lâm thiết chủy ngữ lục của Trần Nhân Tông, Tuệ trung thượng sĩ ngữ lục
của Trần Tung. Về lịch sử Phật giáo có các cuốn Thiền uyển tập anh ngữ lục,
Tam tổ thực lục nói về thiền phái Trúc tâm. Một số cuốn sách, cùng với những
bản kinh Phật giáo, đã được nhà nước cho đem khắc in và phổ biến.
Dòng thơ văn yêu nước, dân tộc cũng đã giữ một vị trí rất quan trọng trong thơ
văn Lý - Trần. Nó phản ánh tinh thần bất khuất, anh dũng chống giặc, lòng trung
quân ái quốc cũng như lòng tự hào dân tộc qua những cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm. Thuộc loại này có thể kể bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường
Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, bài Phú sông Bạnh Đằng của Trương
Hán Siêu, hoặc những bài thơ của vua tôi nhà Trần trong cuộc kháng Nguyên
như 2 câu thơ nổi tiếng của Trần Nhân Tông:
"Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”
(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Non sông ngàn thuở vững âu vàng)
Một số tác phẩm đã nói lên ý thức tìm về cội nguồn, sưu tập những truyền thuyết,
Trần mang tính thực dụng, khoẻ khoắn. Tinh thần Phật giáo đã thấm đượm trong
các công trình này.
Cung điện và thành quách là những công trình kiến trúc do nhà nước đứng ra chỉ
huy xây dựng, huy động sức lực của dân chúng theo chế độ lao dịch, trưng tập
và phần nào là lao động làm thuê.
Thành Thăng Long (với 3 vòng thành Đại La, Hoàng thành và Cấm thành) là
công trình kiến trúc lớn thời Lý - Trần. Hoàng thành mở ra 4 cửa: Tường Phù
(Đông), Quảng Phúc (Tây), Đại Hưng (Nam) và Diệu Đức (Bắc). Thời Lý có các
điện Càn Nguyên (sau đổi thành Thiên An), Tập Hiền, Giảng Võ, các cung Long
Thuỵ, Thuỷ Hoa, lầu Chính Dương coi giờ giấc, điện Long Trì đặt chuông thỉnh
nguyện ngoài thềm. Thời Trần có các cung điện Quan Triều (vua ở), Thánh Từ
(Thượng hoàng ở), Thiên An (vua làm việc), Tập Hiền (tiếp sứ), Diên Hồng (mở
hội nghị....). Hòa vào các cung điện là một cảnh quan thiên nhiên được bố trí lộng
lẫy và xứng hợp như các hồ, ngòi, vườn tược, cầu cống, vườn bách thảo bách
thú v.v... Một số lớn các cung điện được xây dựng bằng gỗ, sơn son thếp vàng,
đã bị hủy hoại qua chiến tranh.
Các cung điện ở khu Tức Mặc - Thiên Trường (Nam Định) là nơi các Thượng
hoàng đời Trần lui về ở và làm việc. Thời đầu Trần, Phùng Tá Chu là người được
giao trọng trách xây dựng khu cung điện này, được coi như một kinh đô thứ hai.
Nổi tiếng nhất là hai cung Trùng Quang và Trùng Hoa. Chung quanh còn có các
khu biểu diễn nghệ thuật (múa hát, bơi thuyền, đánh cờ, múa bông) và khu kinh
tế (chăn nuôi, chế biến, làm đồ gốm). Gạch ngói ở đây được in dòng chữ "Thiên
Trường phủ chê”.
Thành nhà Hồ (An Tôn, Vinh Lộc, Thanh Hóa), còn gọi là Tây Đô, là công trình
kiến trúc đồ sộ và độc đáo bằng đá, xây dựng thời cuối Trần tồn tại qua 6 thế kỷ.
Diện tích thành khá rộng (khoảng 630.000 m 2), ngoài thành có lũy đất trồng tre
gai, sát thành có hào nước sâu bảo vệ. Riêng tòa thành hiện còn cao gần 6m,
xây ghép bằng những phiến đá tảng nguyên khối, có phiến dài 7m, nặng 17 tấn,
khổng lồ ở chùa Diên Hựu. Vạc đồng lớn ở chùa Phổ Minh cũng là một sản phẩm
đúc nổi tiếng, được người Trung Quốc xếp vào danh mục "An Nam tứ đại khí”
(chỏm tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng Quỳnh Lâm).
Các bức phù điêu đời Lý- Trần phần lớn đều chạm khắc các hình tượng Phật
giáo (toà sen, lá đề, sóng nước), hình tượng các tiên nữ múa hát, các hình tượng
rồng uốn khúc (loại rồng giun đơn giản và khoẻ khoắn). Các bức phù điêu chạm
khắc gỗ nổi tiếng ở chùa Thái Lạc và chùa Phổ Minh. Tại khu lăng vua Trần, có
nhiều tượng người và thú vật bằng đá. Trong điêu khắc Lý- Trần, có ảnh hưởng
của nhiều yếu tố mỹ thuật Champa.
Thuộc mỹ thuật thời Lý- Trần, còn có các đồ gốm, dáng hình đơn giản, thanh
thoát. Có các loại men đàn hoa nâu, men hoa lam và loại men ngọc trắng xanh
nổi tiếng. Nghệ thuật biểu diễn ca múa nhạc thời Lý- Trần phát triển phong phú,
chịu ảnh hưởng của cả nghệ thuật Nam Á và Đông Á, được biểu diễn rộng rãi
trong dân gian cũng như được ưa chuộng trong sinh hoạt cung đình.
Nghệ nhân sử dụng các nhạc cụ như sáo, tiêu, chũm choẹ, trống cơm (phạn cổ
ba, gốc Chăm), các loại đàn cầm, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn thất huyền, đàn Ba lỗ
(gốc Chăm), các khúc ca “Trang Chu mộng điệp”, “Bạch lạc Thiên mẫu biệt tử”,
“Đạp ca”, "Thanh ca”, “Ngọc lân xuân”, “Nam thiên”, “Tây thiên”, “Lý liên”, “Mộng
tiên du”, “Canh lậu trường”... Trong các buổi tiệc yến ở điện Tập hiền, có biểu
diễn ca vũ của các đào, kép. Sứ giả Trung Quốc tả : “Con gái đi chân không,
mười ngón tay dịu dàng đứng múa, hơn 10 người con trai mình đều cởi trần, kề
vai giậm chân, quây quần chung quanh mà hát theo…”. Chèo, tuồng được nhiều
người ưa chuộng, tích diễn phổ biến là vở “ Tây vương mẫu hiến bàn đào”.
Múa rối nước là môn nghệ thuật đặc sắc, phát triển từ đời Lý, có liên quan đến
nhà sư Từ Đạo Hạnh, đã được trình diễn trong các hội đèn Quảng Chiếu, với
nhiều trò rất sinh động. Trong các lễ hội, có nhiều trò vui tạp kỹ mang tính dân
gian như đấu vật, chọi gà, cờ người, bơi chải, đánh đu, leo dây, đá cầu, trò nhại,
hất phết, cưỡi ngựa đánh cầu... Đinh Bàng Đức, nối tiếng về trò leo dây, múa rối,
Trần Cụ là người giỏi xuất sắc trong môn bắn nỏ, đá cầu. Một số vua Trần
thường tổ chức các cuộc thi ca múa trong giới quý tộc. Trần Nhật Duật được coi
Từ nửa cuối thế kỷ XIV, con rồng đã rời khỏi kiến trúc cung đình để có
mặt trong các kiến trúc dân dã, không những chỉ có trên điêu khắc đá và
gốm, mà còn xuất hiện trên điêu khắc gỗ ở chùa. Rồng cũng không chỉ có
ở các vị trí trang nghiêm mà rồng còn có mặt ở các bậc thềm (như ở chùa
Phổ Minh).
Thân rồng thời Trần vẫn giữ dáng dấp như thời Lý, với các đường cong
tròn nối nhau, các khúc trước lớn, các khúc sau nhỏ dần và kết thúc như
đuôi rắn. Vẩy lưng vẫn thể hiện từng chiếc, nhưng không tựa đầu vào nhau
như rồng thời Lý. Có khi vảy lưng có dạng hình răng cưa lớn, nhọn, đôi
khi từng chiếc vẩy được chia thành hai tầng. Chân rồng thường ngắn hơn,
những túm lông ở khủy chân không bay ra theo một chiều nhất định như
rồng thời Lý mà lại bay lên phía trước hay phía sau tùy thuộc vào khoảng
trống trên bức phù điêu. Và có sự xuất hiện chi tiết cặp sừng và đôi tay
Đầu rồng không có nhiều phức tạp như rồng thời Lý. Rồng vẫn có vòi
hình lá, vươn lên trên nhưng không uốn nhiều khúc. Chiếc răng nanh phía
trước khá lớn, vắt qua sóng vòi. Miệng rồng há to nhưng nhiều khi không
đớp quả cầu.
Rồng thời Trần lượn khá thoải mái với động tác dứt khoát, mạnh mẽ. Thân
rồng thường mập chắc, tư thế vươn về phía trước. Cách thể hiện rồng
không chịu những quy định khắc khe như thời Lý.
Hình ảnh rồng chầu mặt trời sớm nhất là trong lòng tháp Phổ Minh ( Nam
Định) có niên đại khoảng 1305 -1310. Đôi rồng ở đây được bố trí trong
một ô tròn, chạy ngược chiều kim đồng hồ, đầu ngoái lại chầu một vòng
tròn nhỏ ở giữa. Thể hiện mặt trời dưới dạng một vòng tròn đơn giản.
Hình tượng rồng thời Lê
thượng nhưng vẫn được đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội
họa, chạm, khắc nghệ thuật… Dù ở bất cứ thời điểm nào, rồng vẫn là một
phần trong cuộc sống văn hóa của người Việt.
Tóm lược ý nghĩa hình tượng các con vật trên một số
kiến trúc xưa ở Việt Nam
Hình tượng Rồng:
Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lịch sử
lâu đời. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong
thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển
của lịch sử, từ lâu các nước phương Đông hình thành nên quan niệm phổ biến về
con rồng, tổng hợp trong con vật linh thiêng này là trí tuệ, tín ngưỡng, niềm tin, lý
tưởng, nguyện vọng, sức mạnh… Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở
mỗi nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và
sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội ở
mỗi nước.
Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng, đó là
nó chỉ dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con rồng cháu tiên. Từ câu chuyện huyền
thoại chàng Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, sau nở thành
một trăm người con, hình ảnh con rồng đã dần dần ăn sâu vào tâm thức của người
Việt. Hà Nội là thủ đô cả nước, với tên gọi đầu tiên: Thăng Long (rồng bay). Vùng
Đông Bắc nước ta có Hạ Long (rồng hạ), một trong những thắng cảnh đẹp nhất
nước. Đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu được làm nên bởi dòng sông mang tên Cửu
Long (chín rồng). Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt
Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm
cho mùa màng tốt tươi. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua
chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê, rồng trở thành
bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc.
Trong thời kỳ đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, rồng Việt Nam
chịu ảnh hưởng của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống… và được
Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được
thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình
quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả
các loài chim. Chim phượng còn tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp
quý phái.
- Hình tượng con Hạc: ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình ảnh hạc chầu
trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của
sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương. Hạc là con vật tượng
trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất
thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng
cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng
rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập
úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến
vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong
lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.
Trong tứ linh ” Long, Lân, Qui, Phụng” , con nghê biểu tượng thuần Việt đã thay
thế con Lân do vậy tứ linh thú của người Việt là ” Long, Nghê, Qui, Phụng”. Xem
thêm bài về hình tượng con nghê.
MỘT SỐ HỌA TIẾT HOA SEN TIÊU BIỂU TRONG NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH
TRUYỀN THỐNG THỜI LÝ- TRẦN
Ở Việt Nam, đề tài hoa sen xuất hiện khá sớm trong nghệ thuật tạo hình. Hầu như ở
thời nào đề tài này cũng có trong các đồ án trang trí nơi thờ tự hoặc ở các công
trình văn hoá cộng đồng. Họa tiết hoa sen được khai thác, thể hiện dưới nhiều bố
cục khác nhau góp phần tạo nên sự đa dạng, đẹp đẽ và cao quý cho các đồ án trang
trí. Nó xuất hiện hằng xuyên theo chiều dài của lịch sử mỹ thuật ở những công trình
kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ. Trong khuôn khổ bài viết này, người viết chỉ xin đưa
ra một vài nhận xét mang tính nghiên cứu của mình về hoạ tiết hoa sen trong Mỹ
thuật Việt thuộc giai đoạn đầu của thời độc lập quân chủ Lý – Trần.
Sang thời Trần họa tiết này vẫn được các nghệ nhân vận dụng để trang trí làm bệ
đỡ cho các vật thiêng như thời Lý như đồ án trán bia chùa Tổng, hoặc đỡ ngọc báu
đang toả sáng hình lá đề trong đồ án ở chùa Thái Lạc, chùa Dâu ( phỏng theo Lục
tự chú Phật giáo: Úm Ma Ni Bát Mê Hum). Trên các chân cột trốn của vì nóc, vì kèo
chùa Thái Lạc cũng thấy có chạm đài sen đỡ phía dưới. Nói chung nó vẫn giữ bố cục
kiểu có từ thời Lý. Nghĩa là vẫn hai lớp cánh sen được dàn mỏng theo hai hướng
trên dưới chạy dài từ giữa ra hai phía. Bởi vậy các nhà nghiên cứu quen gọi loai này
là “cánh sen dẹo”.
Sen cánh “dẹo”, Bệ tháp Phổ Minh – Nam Định
3. Họa tiết hoa sen kết hợp hoa cúc của thời Lý mà nay còn thấy ở hai di tích chùa
Long Đọi và tháp Chương Sơn .. Sắp xếp thay đổi cứ một hoa sen lại đến một hoa
cúc trong những vòng tròn của hoa dây. Những vòng tròn này gần như tiếp tuyến
nhau và chỗ gặp nhau là hình các thiên thần nhỏ bé đang trong động tác múa hoặc
nhào lộn. Đồ án này cách điệu khá cao và có bố cục rất đẹp.
Đến thời Trần, họa tiết hoa sen được cách điệu thành hoa dây lúc thì thành băng dài
chạy phía dưới đôi rồng đang trịnh trọng dâng chầu ngọc báu lúc lại uốn lượn phía
trên các tầng mây, nơi có hình các tiên nữ đầu người mình chim đang vừa múa vừa
dâng hoa cho Phật. Họa tiết này được bố cục từ một sợi dây được uốn lượn thành
sóng hình sin và giữa các quãng trống người ta lại thể hiện một bông hoa sen cách
điệu cao. Các cánh sen thể hiện như những dấu ngoắc, từng đôi đăng đối nhau, theo
lối nhìn nghiêng, đơn giản và rành mạch. Mỗi bông hoa chỉ có 6 cánh sen và một
chút nhuỵ hương.