TÀI LIỆU THAM KHẢO sự DU NHẬP của PHẬT GIÁO vào VIỆT NAM - Pdf 41

PHẦN MỞ ĐẦU
Văn hóa Việt Nam là sợi chỉ đỏ xuyết suốt toàn bộ lịch sử dân tộc, nó làm
nên sức sống mạnh liệt giúp cộng đồng dân tộc ta vuợt qua bao khó khăn, thử
thách để không ngừng phát triển mạnh mẽ. Có đuợc điều này là nhờ ông cha ta đã
biết không những giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình, tiếp thu,
kế thừa những giá trị tốt đẹp của văn hóa của các dân tộc khác để xây dựng nên
một nền văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong các bộ phận cấu thành văn hóa Việt Nam thì Phật giáo có ảnh huởng
rất to lớn trong tiến trình lịch sử tư tưởng dân tộc. Du nhập vào nước ta từ rất
sớm, trải quá qua những biến đổi thăng trầm của lịch sử, Phật giáo dần dần xâm
nhập vào đời sống tinh thần của dân tộc, ngày càng phát triển mạnh mẽ và những
giá trị triết lý Phật giáo đã trở thành một trong những giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc.
Phật giáo Việt Nam đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đặc biệt trong thời kỳ Lý – Trần, giai đoạn
hào hùng của lịch sử dân tộc cũng là giai đoạn Phật giáo phát triển cực thịnh và
đã trở thành quốc giáo. Phật giáo đã tham gia tích cực vào đời sống xã hội cùng
dân tộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ những giá trị truyền thống tốt
đẹp của quê hương đất nuớc mình. Các nhà sư vừa là nhà tu hành, vừa là nhà
chính trị, còn nhân dân ta từ vua quan cho đến những ngừoi dân bình thường rất
sùng kính đạo phật, thậm chí một số vị vua khi về già đã trao quyền cho con để đi
tu.
Trong cuộc cuộc xây dựng vào đổi mới đất nuớc ta hiện nay, đại đa số các
chức sắc, tín đồ Phật giáo yêu nuớc, gắn bó với dân tộc, thực hiện tốt các chủ
truơng, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nuớc, đoàn kết gắn bó với hoạt
động cùa mặt trận tổ quốc và tích cực tham gia vào việc từ thiện, xã hội giáo dục
cùng chung sức xây dựng đất nuớc giàu đẹp. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn tồn
tại như: Một số hạnh chế như một số chùa diễn ra các hoạt động mê tín, bói toán,
kinh doanh chay theo lợi ích riêng gây ảnh hưởng xâu đấn xã hội. Ngoài ra cũng
có một số các thế lực thù địch lợi dụng chiêu bài tôn giáo để tăng cuờng chống
đối cách mạng nước ta.

Chử Đồng Tử. Khi Chử Đồng Tử trở về đem đạo Phật nói với vợ là Tiên Dung.
Tiên Dung giác ngộ, bèn bỏ cả quán chợ, nghề buôn để cùng Chử Đồng Tử du
phuơng tìm thầy học đạo. Căn cứ vào các ngọc phả có liên quan đến thời đại
Hùng Vuơng thì chúng ta có thể phỏng đoán rằng thời Hùng Vuơng thứ ba vào
khoảng cuối thế kỷ thứ VI tr.CN đến đầu thế kỷ thứ V tr.CN. Như vậy, theo quan
điểm này Phật giáo truyền vào nuớc ta vào khoảng từ cuối thế kỷ thứ VI. tr.CN
đến đầu thế kỷ thứ V tr. CN.
Quan điểm thứ hai cho rằng, vào năm 300 truớc CN, hoàng đế Ashoka (A
Dục) có gửi nhiều phái đoàn truyền giáo ra nuớc ngoài, trong đó có Đông Nam
Á. Dựa vào tài liệu Trung Hoa, có nhà nghiên cứu cho rằng thành Nêlê ở Giao
Châu, nơi có bảo tháp Ashoka chính là Đồ Sơn (Hải Phòng) hiện nay. Lê Mạnh
Thát trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế) cho
rằng Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Hùng Vuơng (III – I tr.CN) với Phật
Quang – người truyền đạo đầu tiên và Chử Đồng Tử – nguời phật tử Việt Nam
đầu tiên. Theo ông thành Nê Lê mà đoàn tuyền giáo của vua A Dục cho xây cất
rất có thể là chân núi Thạch Bàn ở Tam Đảo, còn nùi Quỳnh Viên có thể nằm ở
cửa Nam Giới (cửa Sót) thuộc Nghệ An.
Quan điểm thứ ba (đuợc nhiều nguời chấp nhận) cho rằng Phật giáo du nhập
vào nuớc ta vào khoảng thế kỷ thứ I khi nuớc ta nội thuộc nhà Hán. Theo các tài
liệu lịch sử thì Quốc gia Âu Lạc đã bị Nam Việt của Triệu Đà thôn tính vào năm
179 TCN, và lập thành quận Giao Chỉ. Năm 110 TCN, Nam Việt trở thành nội
3


thuộc của nhà Hán, Giao Châu theo đó mà cũng quy về, và được chia thành hai
quận là Giao Chỉ và Cửu Chân.
Trên lãnh thổ của nhà Hậu Hán, sau đó đã tồn tại ba trung tâm Phật giáo là
Luy Lâu, Lạc Dương và Bành Thành. Sử liệu cổ của Trung Hoa cũng không ghi
nhận được rõ ràng sự hình thành của hai trung tâm Lạc Dương và Bành Thành,
chỉ có Luy Lâu thuộc Giao Chỉ là được xác định rõ ràng và sớm nhất, và còn là

4


Việt Nam, mà còn là người đầu tiên đem thiền học phát huy ở Trung Hoa (Tăng
Hội đã ở trên đất Ngô từ năm 255 đến 280).
Sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc sau đó còn được thể hiện ở việc các
thiền sư lớn, những người sáng lập ra những thiền phái có vị trí lớn trong lịch sử
Phật giáo Việt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu Phật giáo Trung Hoa.
Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (?-594), người sáng lập ra thiền phái mang tên ông,
truyền đến 19 đời, đến đầu thế kỷ 13, là một người gốc Nam Thiên Trúc, vân du
về phía đông bắc (562), tiếp xúc với Phật giáo Trung Hoa và hành đạo tại đây,
đến năm 580 thì vào nước ta. Năm 820, thiền sư Vô Ngôn Thông từ nội địa
Trung Hoa xuống Giao Châu và sáng lập thiền phái này. Sau này, vào thế kỷ 11,
Thảo Đường vốn cũng là một thiền sư Trung Hoa đang hành đạo tại Chiêm
Thành, bị quân chinh phạt của vua Lý Thái Tông bắt đem về Thăng Long. Sự
uyên thâm Phật pháp của người này sau đó được nhận ra, được nhà vua đưa về
trụ trì tại chùa Khai Quốc, và lập ra một thiền phái lớn của Phật giáo Việt Nam,
thiền phái Thảo Đường.
Tuy nhiên, ở đây, khi nói về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, ta có thể
xem việc này đã cơ bản hoàn tất trước thế kỷ thứ 10, khi mà một mặt có sự du
nhập trực tiếp từ Ấn Độ cộng với sự ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa từ phương
Bắc sau đó, mặt khác là sự sản sinh, hình thành nền thiền học Việt Nam với
những thiền phái đầu tiên nhưng lại rất lớn mạnh. Từ đây đã tạo một tiền đề vững
vàng cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam về sau, mà đỉnh điểm là giai đoạn
thế kỷ 10 - 14.
1.3

Những trung tâm phật giáo và những nhà phật giáo
-


cùng dịch kinh với một nguời Hán tên là Nghiêm Phú Điều. Hai ngôi chùa nổi
tiếng của thời đó là chùa Bạch Mã và chùa Hứa Xương” [1,28] .
Trung tâm Phật giáo Bành Thành: Căn cứ câu chuyện Sở Vuơng Anh và Câu
chuyện Sạ Dung có thể nói thời kỳ này Bành Thành cũng là một trung tâm Phật
giáo phát triển, hơn nữa còn là nguồn gốc của trung tâm Lạc Dưong. Hậu Hán
Thư chép cấu chuyện Sở Vuơng Anh như sau: Năm 65, vua Minh Đế xuống
chiếu cho phép những người nào bị tội nặng được dâng vóc, lụa để chuộc tội. Sở
Vuơng Anh có mặc cảm mình có tội nên dâng lên vua Minh Đế ba mươi tấm lụa.
Vua Minh Đế xuống chiếu nói Sở Vuơng Anh không có tội gia, trái lại Vương
còn có công đức “biết sùng thượng giáo lý cao siêu của Hoàng Lão và đức nhân
từ bao la của Phật”. Vuơng bèn làm lễ sám hối, ăn chay ba tháng và tổ chức thịnh
soạn cúng đuờng tăng và cư sĩ. Câu chuyện Sạ Dung theo sách Ngô Chí như sau:
Sạ Dung làm cách mạng giữ lấy luơng thực, quyền bình một phương. Ông cho
nấu thức ăn bày ra đường dài tới mười dặm để cho người đói tới ăn. Sau đó ông
ta cất một ngôi chùa lớn, trong đó có thờ tượng Phật thiết vàng; lại xây một cái
lầu có thể chứa tới 3.000 người. Ông ta tổ chức tụng kinh, thuyết pháp, làm lễ
tắm Phật. Sạ Dung mất năm Hưng Bình thứ hai đời Hán Hiến Đế (195). Sách
Thủy Kinh Chú cũng cho biết trước khi Sạ Dung làm chùa vài năm, có một gia
đình theo đạo gần đó đã xây một cây tháp đã xây một cái tháp cao để thờ một
người trong gia đình vừa mới mất.
6


Các câu chuyện trên đây đã chứng minh rằng Bành Thành vào nửa cuới thế kỷ
thứ II đã là một trung tâm Phật giáo quan trọng.
-

Những nhà phật giáo

Một số nhà Phật giáo có ảnh hưởng đến Phật giáo nuớc ta trong giai đoạn sơ

NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM
CỦA QUÁ TRÌNH PHẬT GIÁO DU NHẬP VÀO VIỆT NAM
2.1

Nội dung của quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam
-

Quan niệm căn bản về giáo lý

Theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, ta có thể phác thảo sơ
luợc những quan niệm cơ bản về giáo lý giai đoạn này như sau:
Quan niệm về Phật: Đối với người xuất gia, Phật là người giác ngộ và người
dạy đạo giác ngộ. Nhưng đối với người trí thức theo đạo Khổng hay đạo Lão thì
Phật được trình bày như nguyên tố của đạo và đức. Quan niệm về tín ngưỡng
bình dân về Phật phối hợp với quan niệm về Phật của phật tử trí thức trình bày
trong một ngôn ngữ có thể đối thoại được với người theo đạo Khổng vả đạo Lão
đựoc thể hiện qua đoạn trích sau: “Phật là nguyên tố của Đạo và Đức, nguồn gốc
của thần minh. Phật nghĩa là Thức Tỉnh (Giác). Ngài có thể biến hóa không cùng,
phân thân, tán thể, khi có đó, khi không đó, khi lớn, khi nhỏ, khi vuông, khi tròn,
khi giả, khi trẻ, khi ẩn, khi hiện, lửa không dối đựơc̣ , đao không đâm được, trong
bùn không nhiễm, giữa họa mà không bị tai uơng, khi đi có thể bay, khi ngồi hào
quang sáng chói. Đó gọi là Phật” (Lý hoặc luận, Mâu tử).
Quan niệm về Pháp: Trong thế kỷ này chữ Đạo đuợc dùng để dịch chữ Pháp
(sau này trở thành đạo pháp). Mâu tử nói về đạo như sau: “Đạo là dẫn dắt (lãnh
đạo). Đạo dẫn dắt người tới vô vi (vô vi ở dây nghĩa là niết bàn nirvana). Đạo
không thể kéo mà tới, đẩy mà lui, nâng mà lên cao, đè mà xuống thấp: nhìn nó thí
nó vô hình, nghe nó thí nó vô thanh, bốn bên không có giới hạn, tràn ra ngoài tứ
phía, nhỏ như hào lý nhưng trong nó không gian mênh mông”. Đối với quần
chúng phật tử, Đạo vẫn là phép Phật, là phép Tam Quy, Ngũ Giới, Bố Thí và
Cúng Đường. Đối với tăng đồ, Đạo là lời Phật dạy về vô thường, vô ngã, giới

phổ biến lắm trong trong dân gian.
Về quan niệm về từ bi, về công đức bố thí và tĩnh dục của Phật giáo: Theo
Phật giáo làm công đức cho kiếp sau được tốt đẹp là dâng thức ăn cho tăng môn,
bố thí cho người nghèo khó. Quan niệm tiết dục cũng là ở chỗ bỏ bớt những
hưởng thụ cho riêng mình, để cho người khốn khó.
Tinh thần hòa đồng tôn giáo: Hòa đồng tôn giáo là một đặc điểm nổi bật
của phật giáo Việt nam trong thời kỳ này. Đạo Phật thâm nhập vào tín nguỡng
dân gian ở Giao Chỉ một cách tự nhiên “như nuớc thấm vào lòng đất” [74,1]. Vì
những tư tưởng từ bi, bác ái, nhân đức của Phật giáo rất phù hợp với tín ngưỡng
dân gian lúc bấy giờ. Tuy nhiên đối với những tầng lớp trí thức chịu ảnh hưởng
sâu sắc của văn hóa Trung Quốc (ảnh hưởng của Nho giáo, Lão giáo) thì đạo Phật
phải cố gắng nhiều hơn. Phuơng pháp của đạo Phật là không chống đối, phản
kháng, mà bằng sự hòa đồng. Điều này xuất phát từ tinh thần cởi mở của Phật
học, và Phật tử thì sẵn sàng học hỏi, đối thoại với những tư tưởng khác. Kết quả
của tinh thần này là không những đã sử dụng được từ ngữ Nho, Lão để truyền bá
9


Phật giáo, mà còn làm cho những người theo Khổng, Lão thấy được chiều sâu
của Phật học.
-

Các tác phẩm chủ yếu

Lý hoặc luận của Mâu Tử: “Lý hoặc luận có nghĩa là “những luận lý để làm
tiêu tan các mối nghi hoặc về Phật giáo”. Tác phẩm này xuất hiện vào đầu thế kỷ
thứ sáu trong bộ Hoằng Minh Tập do Tăng Hựu sưu tập và ấn hành. Các sách
Tùy Chí và Đuờng Chí đều có nói đến sách này. Tác phẩm này đã cung cấp cho
nhiều dữ kiện quý báu. Nhờ đó mà ta biết được khá rõ rệt về tư tưởng, tín nguỡng
và tình trạng Phật giáo Giao Châu trong thế kỷ thứ II.

Qua tác phẩm Lý hoạc luận có thể nhận định một số tư tưởng của Mâu Tử như
sau:
Thứ nhất Mâu tử là nguời rất thông hiểu đạo Phật. Cụ thể là Mâu Tử đã tổ
chức Lý hoặc luận thành 37 điều vì trong Phật giáo có “tam thập thất kinh chi
yếu”, tức 37 điểm trọng yếu của đạo Phật. Quan điểm rằng toàn bộ kinh điển của
Phật giáo tập trung trong 37 điều là quan điểm hết sức cơ bản của văn học Atỳ
đàm. Lẽ dĩ nhiên Phật giáo có rất nhiều lý thuyết, nhưng giáo lý cơ bản vẫn là 37
điều kể trên. Điểm thứ hai là sau khi xác định toàn bộ cốt lõi của tư tưởng Phật
giáo là gì thì Mâu Tử xác định ngay lý tưởhg mà Phật giáo phải đạt đến, đó là sự
giác ngộ, tức là Phật. Bởi vì Phật là gì? Mâu Tử định nghĩa , theo điều 2: “Phật là
nguyên tố của đạo đức, đầu mối của thần minh. Nói Phật nghĩa là Giác, biến hóa
nhanh chóng, phân phán thân thể hoặc còn, hoặc mất, có thể lớn, có thể nhỏ, ẩn
được, hiện được, đạp lửa không bỏng, đi dao không đau”. Đây là đức Phật của
mọi quyền năng, không phải là đức Phật của lịch sử Thích Ca Mau Ni. Điểm thứ
ba trong Mâu Tử là bình đẳng, “tất cả mọi hàm thuyết đều thuộcvề Phật cả, đều
có Phật tính cả” (điều 14). Dân tộc ta không sợ bất cứ một nền văn hóa muốn áp
đặt lên đất nước chúng ta, cũng không đi đến chỗ cực đoan là tự kỳ thị những dân
tộc khác, chính là vì quan niệm ai cũng có Phật tính, mọi người đều thuộc Phật
này. Bên cạnh đó Mâu Tử cũng khẳng định tính bình đẳng của con người. Và
người Việt đã biết cải biên lại lý thuyết của Phật giáo cho phù hợp với thế giới
quan của người việt, làm cho Phật giáo mang khuôn mặt quen thuộc với nguời
bản xứ. Từ sự cải biên này, một thệ thống đạo lý và điển huấn Việt Nam đã được
kết hợp với tư tưởng Phật giáo, tạo thành một hệ thống điển huấn Việt Nam mới,
làm cơ sở cho việc xây dựng một nhà nước Việt Nam sau thời Hai Bà Trưng và
đồng hành cùng với lịch sử văn hóa dân tộc cho tới ngày hôm nay.
Lục độ tập kinh: Lục độ tập kinh là văn bản đầu tiên và xưa nhất ngoài bài
Việt ca, tập thành những tư tưởng lớn của dân tộc như: nhân nghĩa, trung hiếu,
đất nuớc, mất nước, v.v.. là xương sống cho chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam và
truyền thống văn hóa Việt Nam. Lục độ tập kinh được Khương Tăng Hội dịch
vào thời Tam Quốc, từ nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt gồm cả thẩy có 91

là một tư tưởng hết sức rộng lớn không có trong Nho giáo. Đối với Nho giáo
nhân nghĩa có một nôi dung hết sức hạn chế. Thiên Tận tâm chương cú thượng
trong Mạnh tử nói rất rõ: “Lòng nhân của Nghiêu Thuấn không yêu khắp mọi
người, mà truớc hết là yêu bà con và nguời tài giỏi”. Như vậy quan niệm nhân
nghĩa của hai bên rất khác biệt nhau.
Theo Lê Mạnh Thát có một điểm lý thú nữa là khi nghiên cứu đến vấn đề thời
gian được đề cập ở một số truyện trong Lục độ tập kinh có thể nhận định rằng hệ
thống lịch trong lục độ tập kinh chia năm ra làm 360 ngày, rồi phân bổ thành bốn
mùa, mỗi tháng có 30 ngày và một tuần có 7 ngày.
Lục độ tập kinh cũng giúp chúng ta hiểu được phương pháp giác ngộ cơ bản
mà Phật giáo truyền vào Việt Nam vào thời đó. Về lý thuyết đó là quan điểm về
12


vô thường, khổ, không, vô ngã. Về thực tiễn, thì các phuơng pháp để đạt đuợc lý
tưởng đã được diễn đạt cụ thể và khúc triết. Con đương mà phật tử Việt Nam thực
hành là quy y tam bảo, giữa năm điều răn, thực hành mười điều lành và tu tập các
con đuờng đưa về giác ngộ.
Ngoài ra một số truyện trong Lục độ tập kinh còn nói đến việc trị nước và
nguyên nhân mất nước. Các truyện này mô tả việc đi cướp nước cuối cùng dẫn
đến thất bại, kẻ cướp cuối cùng phải trả lại nước cho nguời bị mất và hoàn toàn bị
chinh phục bởi nguời bị cướp. Đây là một nguyên lý có tính quy luật khách quan,
đó là việc cướp nước bao giờ củng đi đến sự thất bại hoàn toàn “Phi nghĩa không
bao giờ thắng đuợc chính nghĩa” cho nên phải lấy lòng nhân để trị nước.
Cựu tạp thí dụ kinh và Tạp chí dụ kinh
Ngoài Lục độ tập kinh còn có hai bản kinh khác cũng đuợc hình thành vào
giai đoạn này, đó là Cựu tạp thí dụ kinh và Tạp chí dụ kinh. Cựu tạp chí dụ kinh
do Khương Tăng Hội dịch, còn Tạp chí dụ kinh do một tác giả vô danh dịch
Cựu tạp chí dụ kinh ngày nay đựoc chia ra làm 2 quyển; thượng và hạ. Quyển
thượng gồm truyện từ truyện 1 đến 34. Quyển hạ từ 35 đến 61. Như vậy nó có cả

(truyện 8); “bốn đẳng, sáu độ, 37 phẩm trợ đạo” (truyện 18); “ngu không biết gì
là gốc của 12 nhân duyên” (truyện 22), “năm ấn không có gì” (truyện 27); “năm
ấm, bốn đại, khổ, không” (truyện 29).
Như vậy, ngay từ những thế kỷ đẩu của Phật giáo ở nước ta, không chí những
giáo lý căn bản chung cho các hệ phái như bốn sự thật, mười hai nhân duyên,
khổ, không, vô, ngã, bốn đẳng, sáu độ, 37 phẩm trợ đạo, năm giới, muời lành
đuợc thuyết giảng, mà một số tư tưởng đặc biệt là đại thừa đã được truyền bá và
phổ biến rộng rãi.
2.2

Đặc điểm của quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam

Như vậy Phật giáo truyền vào nuớc ta khoảng thế kỷ thứ I sau Công nguyên.
Đặc điểm thời kỳ là nước ta chịu ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương
Bắc. Các triều đại phong kiến Trung Quốc đã dùng mọi thủ đoạn để xóa bỏ văn
hóa Việt Nam, muốn đồng hóa dân tộc Việt Nam, biến đất nước ta trở thanh một
phần lãnh thổ của họ. Tuy nhiên với một sức mạnh văn hóa vốn có của mình
nhân dân ta đã làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của người phương Bắc mặc
dù phải chịu ách đô hộ của hộ hơn một nghìn năm. Qua việc nghiên cứu sự du
nhập của Phật giáo vào nước ta trong giai đoạn này chúng ta thấy nổi lên một số
đặc điểm đáng lưu ý sau:
Thứ nhất: Giai đoạn đầu Phật giáo du nhập vào nuớc ta từ Ấn độ chứ không
phải từ Trung Quốc, thông qua các thương nhân và các tăng sĩ Ấn độ theo đuờng
biển, sau đó mới có sự giao lưu Phật giáo giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Thứ hai: Trung tâm Phật giáo Việt Nam là Luy Lâu đã có hình thành và phát
triển trước các trung tâm phật giáo của Trung Quốc. Điều này được lý giải như
sau: Phật giáo truyền vào Trung Quốc qua hai con đường đuờng bộ và đường
thủy nhưng những vị tăng sĩ đầu tiên đến Trung Hoa hầu hết do đường biển mà
tới vì đường biển có thể dài hơn nhưng an ninh và dề dàng hơn đuờng bộ rất
nhiều. Con đuờng bộ trở nên dễ dàng hơn vào thế kỷ thức tư. Tuy vậy Pháp Hiền


KẾT LUẬN
Như vậy sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam ở thế kỷ thứ nhất và thứ hai
sau công nguyên, trực tiếp từ nguồn gốc Ấn Độ, điều này đã cho phép sự phát
triển Phật giáo rất sớm ở Việt Nam, vào những thế kỷ sau, Phật giáo Việt Nam đã
có sự giao tiếp với Phật giáo Trung Hoa, tiếp nhận những thâm nhập mới. Trong
quá trình du nhập, Phật giáo đã kết hợp với văn hóa, tín ngưỡng Việt Nam hình
thành nên tư tưởng Phật giáo mang đặc trưng riêng của Việt Nam độc lập với tư
tưởng và văn hóa Trung Quốc.
Trong bối cảnh của một dân tộc bị đô hộ, Phật giáo đã đồng hành và trở thành
một thành tố của văn hóa bản địa làm đối trọng với văn hóa phương Bắc, trở
thành chỗ dực tinh thần của dân tộc ta về một nền độc lập. Cho nên dù đã bị đô
hộ 1.000 năm mà nhân dân ta vẫn có thể đấu tranh xây dựng đất nước hoàn toàn
độc lập. Trải qua thăng trầm của lịch sử vai trò của Phật giáo đã ngày càng phát
triển, đạt đến độ cực thịnh vào thời kỳ Lý - Trần, và chỉ suy thoái từ nửa sau thế
kỷ 14.
Nghiên cứu sự phát triển của Phật giáo Việt Nam giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
lịch sử văn hóa dân tộc, thêm tự hào và biết trân trọng những giá trị tư tưởng mà
ông cha ta đã dày công xây dựng và phát triển, qua đó xóa bỏ mặc cảm tự ti với
văn hóa Trung Quốc.
Nghiên cứu sự phát triển của Phật giáo Việt Nam cũng giúp chúng ta lý giải
đuợc sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng Phật giáo thời kỳ Lý – Trần, giai đoạn
Phật giáo trở thành quốc giáo ảnh hưởng sâu sắc công cuộc đấu tranh chống xâm
lược, xây dựng và bảo vệ tổ quốc thân yêu
Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay là phải biết kế thừa những giá trị truyền
thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc (trong đó có những giá trị của tư tưởng Phật
giáo), vận dụng vào công cuộc đổi mới, xây dựng một nền văn hóa mới – nền văn
hóa Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

16

TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................17

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status