1
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN)
đòi hỏi phải có con người mới hội tụ những phẩm chất cần thiết, được xây
dựng trên nền tảng đạo đức cách mạng (ĐĐCM), trong đó, đội ngũ cán bộ có
vị trí, vai trò rất quan trọng. Vì thế, xây dựng ĐĐCM cho đội ngũ cán bộ nói
chung, cán bộ quân đội nói riêng để đáp ứng yêu cầu khách quan của thực tiễn
đất nước trong giai đoạn hiện nay đã trở thành vấn đề thường xuyên và cấp bách.
Hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, đội ngũ cán bộ quân sự
địa phương (QSĐP) Quân khu 5 luôn trau dồi phẩm chất ĐĐCM, đây là một
trong những nhân tố cơ bản, đảm bảo cho Quân khu luôn hoàn thành tốt nhiệm
vụ công tác quốc phòng, quân sự địa phương (QP,QSĐP). Hiện nay, trước sự
phát triển về yêu cầu nhiệm vụ, đòi hỏi phẩm chất ĐĐCM của đội ngũ cán bộ
QSĐP Quân khu 5 phải được xây dựng, nâng lên tầm cao mới.
ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 là kết quả tổng hợp của
nhiều hoạt động, trong đó có sự phủ định biện chứng ảnh hưởng của tư tưởng
triết học Nho giáo, bởi lẽ: tuy là sản phẩm của xã hội Trung Hoa cổ đại,
nhưng Nho giáo lại có mặt rất sớm ở Việt Nam, để lại dấu ấn sâu đậm trong
đời sống tinh thần, đạo đức của nhân dân ta. Hiện nay, mặc dù Nho giáo
không còn cơ sở kinh tế - xã hội để tồn tại, song với tư cách là một học thuyết
về chính trị- xã hội và đạo đức được tiềm ẩn trong văn hoá truyền thống dân
tộc, những tàn dư của nó vẫn còn ảnh hưởng nhất định, cả tích cực lẫn tiêu
cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta, qua đó ảnh hưởng đến xây
dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5.
Xác định đúng thực trạng ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo, đề
xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của nó đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân
khu 5 là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, không chỉ đáp ứng yêu cầu
2
3
Nho giáo là triết lý về “thiên mệnh” và “nhân sinh” được thể hiện một cách sâu sắc.
“Thiên mệnh” luôn được gắn chặt với “nhân sinh”, cái vĩ đại của “nhân sinh”
được thăng hoa vào “thiên mệnh”, làm cho “thiên mệnh” và “nhân sinh” hoà
hợp, quyện vào nhau thành một thể thống nhất, tuy bình thường nhưng vĩ đại,
tuy thực tế nhưng lại rất cao xa [01,tr26].
Tư tưởng triết học Nho giáo thể hiện trên các phương diện cơ bản sau
đây:
Tư tưởng về thế giới quan:
Nho giáo cho trời đất và vạn vật là nhất thể, lưu hành khắp vũ trụ, theo cái
lẽ tương đối, tương điều hoà mà sinh sinh hoá hoá. Trong vũ trụ luôn có cái lý
vô hình, linh diệu là Thái cực. Con người không thể biết rõ chân tính và chân
tướng của thiên lý (lẽ trời), song qua sự biến hoá của vạn vật mà biết được
thiên lý với hai thể khác nhau là động và tĩnh. Động là dương, tĩnh là âm.
Dương lên đến cực độ lại biến ra âm, âm lên đến cực độ lại biến ra dương, hai
thể ấy luôn gắn bó với nhau, tác động, chuyển hoá lẫn nhau mà sinh ra trời đất,
vạn vật.
Khởi điểm của tạo hoá là do âm và dương biến hoá, đạo của trời đất cũng
khởi đầu từ sự biến hoá ấy, bởi vì “Dịch hữu thái cực, thị sinh lưỡng nghi,
lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái”: đạo Dịch có Thái cực, Thái
cực sinh ra hai nghi, hai nghi sinh ra bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ
(Dịch: Hệ từ thượng). Dịch là biến đổi, trong trời đất không có cái gì là bất biến.
Nguồn gốc của sự biến đổi là do động và tĩnh, cứng và mềm, tức là âm và dương
tương tác lẫn nhau, như Nho giáo đã đúc kết “Cương nhu tương thôi nhi sinh
biến hoá”: cứng mềm đun đẩy nhau mà sinh ra biến hoá (Dịch: Hệ từ thượng).
Đạo của trời đất (thiên lý) có khởi đầu rất đơn giản nhưng càng biến đổi thì càng
phức tạp. Vạn vật sinh sinh, hoá hoá vô cùng vô tận, song căn nguyên của nó
cũng bởi do âm dương tương tác lẫn nhau mà thôi. Do đó, hiểu được lẽ âm
5
quan niệm “Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi
vật túc dĩ hoà nghĩa, trinh cố túc dĩ cán sự”: quân tử có nhân là đủ làm cho
người trưởng thành, hội các cái tốt đẹp là đủ làm cho hợp lễ, lợi cho vạn vật là
đủ làm hoà cái nghĩa, biết cái trinh chính mà cố giữ là đủ làm gốc cho mọi sự
(Dịch: Văn ngôn truyện). Vì thế, nhân là đầu mối của thiện, là chủ sự sinh của
trời đất.
Nho giáo cho rằng, Trời là chủ thể của vũ trụ, có ý chí lớn để khiến sự
biến hoá trong thế gian cho hợp lẽ điều hoà. Cái ý chí ấy được gọi là “Thiên
mệnh” hay “Đế mệnh”. Một khi Trời đã định thì con người không thể cưỡng
lại được, vì thế “Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã”: không biết mệnh trời thì
không đáng là người quân tử (Luận ngữ: Nghiêu viết, XX). Thành hay bại của
công việc, thịnh hay suy của thế cục đều do mệnh Trời. Một khi đã biết mệnh
Trời thì phải làm cho phải đạo và phải “Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu
nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh”: trên không oán trời, dưới không trách người, cứ bình
dị mà đợi mệnh (Trung dung). Tuy nhiên, khi lưu hành theo Thiên lý, bao giờ
con người cũng thể hiện năng lực của mình, hành động một cách sáng suốt,
không nhu nhược hay an bài đợi mệnh, con người phải tự thân phấn đấu liên
tục theo quan niệm “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức”: việc hành
động của trời rất mạnh, người quân tử phải theo mà tự cường không nghỉ
(Dịch: Tượng, thượng truyện) [22,tr55-57].
Nho giáo xem quỷ thần là khí thiêng của trời đất, tuy con người không thể
nhìn thấy, nghe thấy, nhưng quỷ thần vẫn luôn ở quanh họ. “Dương dương hồ
như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu”: quỷ thần dường như ở trên đầu, bên trái
bên phải ta (Trung dung). Do vậy, con người phải tỏ thái độ “Tế thần như thần
tại”: tế thần như có thần ở đó (Luận ngữ: Bát dật, III). Tế quỷ thần là lấy sự tận
thành để tỏ lòng tôn kính chứ không phải để cầu phúc cho riêng mình. Con
người ở đời cứ theo lẽ phải mà làm thì sẽ được quỷ thần chứng giám, hà tất
phải nay cầu mai nguyện. Những việc mà chính nhân quân tử làm đã bao hàm sự
7
Những nội dung trên cho thấy, Trời đất và quỷ thần có vai trò quan trọng
trong thế giới quan Nho giáo, vừa duy vật, vừa duy tâm, vừa vô thần, vừa hữu
thần, song yếu tố duy tâm nổi trội hơn. Thời gian càng về sau thế giới quan
Nho giáo càng đậm nét duy tâm thần bí do được bổ sung những tư tưởng triết
học của Phật giáo và Đạo giáo.
Tư tưởng về nhân sinh quan:
Mục đích chủ yếu của Nho giáo là “tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương
Văn Võ”, đề cao “lễ nhạc” và “nhân nghĩa”, chủ xướng đạo “trung thứ” và
đạo “trung dung”, chủ trương thi hành “đức trị” và “nhân chính”, coi trọng
giáo dục luân lý cũng như sự tu tâm, dưỡng tính cho con người, nên nhân sinh
quan Nho giáo thể hiện khá rõ nét và giữ vị trí trung tâm trong học thuyết này.
Nổi bật trong nhân sinh quan Nho giáo là triết thuyết về đạo lý làm người
sao cho phù hợp với tôn ti trật tự trong xã hội phong kiến. Do quan niệm bản
chất tâm lý, đạo đức của con người là “nhân”, nên Nho giáo coi “nhân” là
xuất phát điểm, là yếu tố cốt lõi tạo nên các phạm trù khác, liên quan chặt chẽ
với nhau. Trong đó, ba phạm trù “nhân”, “lễ” và “chính danh” có ý nghĩa
quan trọng nhất, tạo nên một triết lý nhân sinh có bản sắc hết sức độc đáo.
Theo Nho giáo, “nhân” là chuẩn mực đạo đức hoàn thiện nhất nên luôn
đề cao “đức nhân”, bản thể hoá “đạo nhân”. Các chuẩn mực đạo đức khác
như: lễ, nghĩa, trí, tín, trung, hiếu… đều là biểu hiện của “nhân”. “Nhân” mang
tính nhân loại, đại biểu cho con người, để con người tự giác phân biệt với cầm
thú. Do vậy, Nho giáo không chỉ yêu cầu con người đối với đồng loại của
mình phải có nhân ái, mà còn phải đạt đến Thiên đức. Điều này chứng tỏ nhân
sinh quan Nho giáo luôn gắn chặt với thế giới quan [15,tr19-20]. Nho giáo
còn quan niệm, tuy thực hiện “nhân ái” là việc riêng của mỗi người, nhưng do
con người sống trong xã hội, nên “nhân ái” luôn được thực hiện trong mối
quan hệ giữa người với người, qua đó mà thể hiện “nhân đức”. Vì thế, đạo
chúng, tín tắc nhân nhiệm yên, mẫn tắc hữu công, huệ tắc túc dĩ sử nhân”: làm
được năm điều trong thiên hạ là nhân, đó là cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Cung thì
không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì được tin cậy, mẫn thì có
9
công lao, huệ thì khiến được người (Luận ngữ: Dương hoá, XVII). Như vậy,
“nhân” là kết tinh cao nhất trong triết lý nhân sinh, là cơ sở lý luận cho đường lối
“đức trị” của Nho giáo.
Nho giáo cho rằng, để thi hành đường lối “đức trị” thì phải thi hành “lễ”;
bởi vì, “nhân” được biểu hiện trước hết thông qua “lễ”, “lễ” là phương tiện để
đạt tới điều “nhân” và là căn nguyên quan trọng tạo nên sự ổn định của xã
hội. Nhờ có lễ mà hành vi của con người luôn có chừng mực, lúc nào cũng
phù hợp với đạo trung. “Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ, dũng nhi
vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo”: cung kính mà không có lễ thì phiền
phức, cẩn thận mà không có lễ thì sợ hãi, dũng mà không có lễ thì loạn, trực
mà không có lễ thì vội vã (Luận ngữ: Thái bá, XIII). Vì thế, Nho giáo yêu cầu
“Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động”: Không trông
điều trái lễ, không nghe điều trái lễ, không nói điều trái lễ, không làm điều trái
lễ (Luận ngữ: Nhan Uyên, XII). Hơn nữa, trong xã hội mỗi người đều có một
chức năng, địa vị nhất định, trong mối quan hệ nhất định, với một “danh” cụ
thể, muốn thực hiện đúng “lễ” thì một mặt phải nắm được “lễ”, mặt khác phải
xác định đúng vị trí và danh phận của mình (“chính danh”), bởi lẽ, “Chính giả
chính giã, tử suất dĩ chính, thục cảm bất chính”: chính trị là làm mọi việc cho
ngay thẳng, bề trên mà lấy ngay thẳng để khiến thì ai dám không ngay thẳng
(Luận ngữ: Nhan Uyên, XII), hơn nữa “Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành, kỳ
thân bất chính, tuy lệnh bất tòng”: mình ngay chính thì không sai khiến người
ta cũng làm, mình không ngay chính thì tuy có sai khiến cũng không ai theo
(Luận ngữ: Tử Lộ, XIII). Vả lại, muốn chính danh thì phải lấy “lễ” làm chuẩn
mực và phải hành động sao cho tương xứng giữa “thực” với “danh”. Danh thực tương xứng vừa là điều kiện, vừa là kết quả của việc thực hiện đúng “lễ”.
chỉ là phụng dưỡng, mà trước hết là phải có thái độ thành kính. Như vậy, để
thực hiện tốt “trung”, “hiếu” phải trên cơ sở hai chiều: vua có nhân thì tôi mới
trung, cha có từ thì con mới có hiếu, bề trên có rộng rãi thì bề dưới mới kính
trọng.
11
Là học thuyết mang đậm màu sắc đạo đức, mục đích của Nho giáo là
muốn mỗi người đều trở thành một người quân tử (quân: cai trị, quân tử: người
cai trị), nối gót theo thánh nhân để đạt đến đỉnh cao của nhân luân. Theo Nho
giáo, muốn thành quân tử thì trước hết phải “tu thân” để đạt ba yếu tố: “đạt
đạo” thông qua ứng xử “trung dung”, “đạt đức” thông qua hành vi chuẩn
mực và “đạt trí” thông qua học tập. “Tu thân” xong phải “tề gia, trị quốc, bình
thiên hạ” theo phương châm: “đức trị” - người cầm quyền phải nêu gương, cảm
hoá người dưới bằng đạo đức, “lễ trị” - người cầm quyền cai trị bằng cách duy
trì các chuẩn mực mà con người phải tuân theo, “văn trị” - người cầm quyền
phải coi trọng văn hiến để thu phục nhân tâm. Do đó, Nho giáo luôn phê phán
các phương pháp trị nước theo tư tưởng “pháp trị”, “khiêm ái”, “vô vi” và cho
rằng, để thuận đạo trời và hợp lòng người thì nhà cầm quyền phải thi hành “nhân
chính” với tinh thần cốt lõi là “trọng nhân”, “trọng dân”, dùng nhân nghĩa để trị
nước, người cầm quyền phải theo ý dân để định ra đường lối theo tinh thần
“Dân chi sở hiếu, hiếu chi; dân chi sở ố, ố chi. Thử chi vị dân chi phụ mẫu”:
phải thích cái thích của dân, phải ghét cái ghét của dân. Thế mới là cha mẹ dân.
Đồng thời phải “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”: lo
trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” (Đại học).
Như vậy, từ “nhân” đến “nhân trị” trong nhân sinh quan Nho giáo đã thể
hiện đường lối trị nước của học thuyết này. Nho giáo đã xây dựng nên một
khuôn mẫu tư tưởng lý luận khá đặc sắc về an bang trị quốc, đó là chủ nghĩa
“đức trị”. Trong đó luân lý và chính trị có sự liên quan mật thiết, luân lý là nền
tảng của chính trị, chính trị là tiếp tục của luân lý. Theo Nho giáo, một khi cá
vạn vật dục yên”: trung là gốc lớn của thiên hạ, hoà là cái đạo của thiên hạ.
Đạt trung hoà thì trời đất định vị, vạn vật hoá dục (Trung dung). Trung là gốc
của trời đất, người bẩm thụ cái tính của trời nên đương nhiên là người có
trung. “Duy hoàng thượng đế, giáng trung vu hạ dân, nhược hữu hằng tính”:
Hoàng thượng đế giáng cái trung xuống cho hạ dân, dân có cái trung ấy như
13
có tính thường (Kinh Thư: Thang cáo). Vì thế, Nho giáo yêu cầu hành vi của
con người phải thích hợp, không bất cập, không thái quá, đây cũng là đặc
điểm cơ bản của phương pháp luận triết học Nho giáo.
Cũng theo Nho giáo, muốn “trung hành” ắt phải có “thời trung” (biến hoá).
“Trung dung” tuy là chính đạo và là định lý của thiên hạ nhưng nó không nhất
thành bất biến. Nó cũng hài hoà theo từng thời điểm, không ngừng tuỳ thời
mà tiến cho hợp lý. Tư tưởng “thời trung” còn có ý nghĩa “thông quyền đạt
biến”, yêu cầu con người vận dụng vào cuộc sống phải linh hoạt, không máy
móc, giáo điều. Trong đối nhân xử thế, một mặt phải tuân thủ sự vừa phải,
không thái quá và bất cập, mặt khác hy vọng với những sự khác biệt, thậm chí
đối lập mà có được sự hài hoà tương hỗ “hoà mà bất đồng”. Như vậy, đạo
“trung dung” của Nho giáo nhằm đem lại sự hài hoà giữa mình với người, giữa
người với trời đất, tạo nên sự quán thông giữa con người với tự nhiên [15,tr8587].
Mặt khác, từ quan niệm xem “hiếu đễ” là xuất phát điểm của “nhân ái” và
của quan hệ hài hoà, dựa trên lập luận “một người làm con trong gia đình mà
không có hiếu thì ra ngoài xã hội không thể trở thành một người bạn tốt và
càng không thể là một bề tôi trung được”, nên Nho giáo cho rằng, tiêu chuẩn
phải, trái của trung dung là “lễ”, nguyên tắc thực thi của nó là lấy “lễ” để tiết
chế “trung” và lấy “trung” để giữ “lễ”. “Trung dung” là phương pháp, “hài
hoà” là biểu hiện, “nhân” và “lễ” là nội dung. Vì thế, Nho giáo yêu cầu “Đệ tử
nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu
dư lực, tắc dĩ học văn”: mỗi người trong gia đình trước hết phải hiếu kính với
“Bất phẫn bất khải, bất phỉ bất phát. Cử nhất ngung bất dĩ tam ngung phản,
tắc bất phục giã”: nếu không ham hiểu biết thì không dạy cho, không nói ra
được thì không bày cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra
được ba góc kia thì không dạy nữa (Luận ngữ: Thuật nhi, VII).
Theo Nho giáo, việc dạy học có hai phần. Phần công truyền nói về luân
thường đạo lý để dạy cho mọi người. Phần tâm truyền nói về những điều cao
xa, chỉ dạy riêng cho người có tư chất đặc biệt, người học phải tự học để hiểu
15
lấy, người dạy không nhất thiết phải giảng giải nhiều. Hơn nữa, con người ai
cũng có sẵn cái tính giống nhau do trời phú cho, nhưng vì tập nhiễm lâu ngày
nên khác nhau, chỉ có tính của bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là không hề thay
đổi. Thế nhưng, trong xã hội, bậc thượng trí và kẻ hạ ngu luôn là số ít, phần
đông là hạng trung nhân có thể dạy bảo được, nên Nho giáo chủ trương “Hữu
giáo vô loại”: dạy cho tất cả mọi người (Luận ngữ: Vệ Linh công, XV).
Cũng theo Nho giáo, để nâng hiệu quả dạy học thì cả người dạy lẫn người
học đều phải tuân theo chuẩn mực đức độ của thánh hiền. Người dạy phải
luôn tự sửa mình, giữ lấy cái tâm của mình cho chính, vì “mình cong queo thì
không thể nào sửa cho người khác ngay thẳng được”, càng không được xấu
hổ khi học hỏi người dưới, biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, như
thế mới là biết…. Người học phải chuyên tâm, từ chí, khiêm tốn, cầu tiến, cần
mẫn, không tự thoả mãn, phải quan sát nhiều, nghe nhiều, hỏi nhiều, có tư
duy sáng tạo, ôn cũ biết mới, học đi đôi với hành, hành lễ trước rồi mới học
văn. “Tiên học lễ, hậu học văn” là kết luận của Nho giáo rút ra từ quan niệm
đó.
Nho giáo dựa vào các tiêu chí đức hạnh “nhân”, “trí”, “dũng” để phân biệt
quân tử với tiểu nhân, đức hạnh đó phải được biểu hiện bằng sự nhất quán giữa
lời nói và việc làm, bằng sự xác định nguyên do của công việc và bày tỏ thái độ
trong hành động. Trong Luận ngữ chữ “nhân” được đề cập 109 lần, “quân tử”
triều đại phong kiến, để lại dấu ấn không chỉ trong sách vở mà cả trong cuộc
sống của nhiều thế hệ ở các quốc gia phương Đông, trong đó có Việt Nam.
1.1.2 Tính tất yếu ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây
dựng đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quân sự địa phương Quân khu
5
Nho giáo ảnh hưởng đến đời sống xã hội Việt Nam
Từ khi giành được độc lập dân tộc, các vương triều phong kiến Việt Nam
luôn lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng để củng cố chế độ tông pháp và duy
17
trì vương quyền của mình. Trong thời gian các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn
trị vì (từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX), vai trò của Nho giáo đối với xã hội
Việt Nam ngày càng tăng, Nho giáo được tôn là quốc giáo, Nho học được xem
là nội dung cơ bản của nền giáo dục nước nhà. Vai trò của Nho giáo ở Việt
Nam bắt đầu bị suy giảm khi thực dân Pháp bãi bỏ hoàn toàn nền giáo dục
Nho học vào năm 1919 và nó chính thức bị hạ bệ vào năm 1945 cùng với sự
tiêu vong của triều đình nhà Nguyễn.
Đã từng có nhiều ý kiến khác nhau khi đề cập đến vai trò của Nho giáo
trong lịch sử dân tộc ta. Có người cho rằng, do tính chất lạc hậu và bảo thủ
nên Nho giáo Việt Nam đã kìm hãm sự phát triển của đất nước lúc có cơ hội
vào cuối thế kỷ XIX, đến nỗi đất nước ta phải cam chịu thất bại trước sự xâm
lược của đế quốc Pháp. Người khác lại cho rằng, Nho giáo Việt Nam đã giáo
dục con người tư duy theo lối giáo điều, bắt chước. Có người còn khẳng định,
nền quân chủ ở nước ta vừa mang tính ngoại sinh, vừa mang tính lạc hậu, do
vay mượn của “cửa Khổng sân Trình”, nên Việt Nam không có sáng tạo mà
chỉ có vay mượn, chỉ có áp dụng và thích nghi. Những ý kiến trên đây chỉ
đúng phần nào khi xem xét ảnh hưởng bởi mặt tiêu cực của Nho giáo. Xét
một cách tổng thể thì Nho giáo Việt Nam trong một số giai đoạn cũng đã có
vai trò tích cực nhất định như thúc đẩy sự xuất hiện của chế độ phong kiến
giữ chức như sĩ quan công tác ở các Bộ Chỉ huy quân sự (CHQS) tỉnh, các
Ban CHQS huyện và tương đương trên địa bàn QK, phần lớn đã qua đào tạo ở
các nhà trường Quân đội, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu hoạt
động trong lĩnh vực QP,QSĐP, giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức xây dựng
nền quốc phòng toàn dân (QPTD), xây dựng LLVT nhân dân, xây dựng và
tích trữ các tiềm lực quốc phòng, chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhân dân ở
địa phương… Để hoàn thành tốt chức trách được giao, một trong những vấn
đề có tính cấp thiết thường xuyên đặt ra là ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP
Quân khu 5 phải được quan tâm xây dựng, đáp ứng tốt với yêu cầu nhiệm vụ.
19
Là cán bộ của Đảng, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, nên đạo đức của
đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 trước hết phải là ĐĐCM của cán bộ quân
đội với những chuẩn mực cơ bản như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát:
“Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân”; “Đề cao tính kỷ luật”; “Dũng
cảm trong chiến đấu”; “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; “Yêu thương
đồng chí đồng đội”; “Tinh thần quốc tế trong sáng”… Trong đó chuẩn mực
“Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân” là đặc trưng nổi bật nhất. Mặt
khác, chức năng, nhiệm vụ và tính chất đặc thù trong lĩnh vực công tác
QP,QSĐP ở một trong những địa bàn chiến lược trọng điểm của đất nước cũng
đòi hỏi đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 phải có những chuẩn mực đạo đức
đặc thù, cụ thể là:
Hoạt động trên địa bàn có 44 dân tộc anh em cùng sinh sống, phong tục,
tập quán của từng dân tộc luôn có sự khác biệt, lại phải tham gia giải quyết
nhiều công việc liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ và quyền lợi của nhân dân…,
đòi hỏi cán bộ QSĐP Quân khu 5 không chỉ quán triệt sâu sắc và gương mẫu
chấp hành, mà còn phải thật sự tôn trọng nhân dân, xây dựng tác phong gần
dân, thực sự có thái độ cầu thị trong việc “học dân” để “hiểu dân” một cách
tường tận, nói đi đôi với làm, luôn ý thức nêu gương trước nhân dân và cán bộ
bồi dưỡng, rèn luyện để đạt được các chuẩn mực đạo đức một cách toàn diện
và đồng bộ, không nên coi nhẹ một chuẩn mực nào.
Xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 là hoạt động có
mục đích, có tổ chức hướng tới hoàn thiện các phẩm chất cần thiết, đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ QP,QSĐP trên địa bàn Quân khu. Đó là sự thống nhất biện
chứng thông qua tác động của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ
quan trong quá trình giáo dục, rèn luyện, xây dựng ĐĐCM; là quá trình hoạt
động tự giác của mỗi tổ chức và từng cá nhân nhằm nâng cao nhận thức, củng
cố tình cảm, tăng cường niềm tin, khả năng tự điều chỉnh hành vi, thói quen
đạo đức của cán bộ, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và đáp ứng tốt
với yêu cầu nhiệm vụ được giao.
21
Tiếp cận theo phương pháp hệ thống thì phẩm chất ĐĐCM của đội ngũ
cán bộ Quân đội nói chung, cán bộ QSĐP Quân khu 5 nói riêng, không “nhất
thành bất biến” mà là hệ thống “mở”, luôn có sự kế thừa, lọc bỏ, bổ sung và
phát triển. Hơn nữa, theo quan điểm toàn diện thì trong xây dựng đã bao hàm
cả sự phát triển. Vì thế, xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5
là một dạng vận động đặc biệt, theo xu hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Đó là một quá trình khách
quan, là sự “tự thân vận động” với nguồn gốc, động lực là sự đấu tranh giữa
các mặt đối lập tồn tại trong mỗi cán bộ, trong từng tổ chức, là quá trình mà
trạng thái tiến lên được thông qua các bước “nhảy vọt” để chuyển hoá từ
“lượng” sang “chất” và ngược lại, quá trình đó không phải theo con đường
thẳng tắp hay một chu kỳ khép kín, mà theo con đường “xoáy ốc”, có thể có
bước tụt lùi tạm thời nhưng cái mới sẽ ra đời, chiến thắng cái cũ, có yếu tố
dường như lặp lại cái cũ nhưng ở trình độ cao hơn.
Từ cấu trúc của đời sống đạo đức và đòi hỏi của thực tiễn, yêu cầu xây
dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 hiện nay cần tập trung
Những vấn đề có tính quy luật trong sự ảnh hưởng của tư tưởng triết học
Nho giáo đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5
Đội ngũ cán bộ, sỹ quan của Quân đội ta nói chung, cán bộ QSĐP Quân
khu 5 nói riêng, đều được đào tạo trong nền giáo dục mới - nền giáo dục cách
mạng. Quá trình xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 luôn
được sự chỉ đạo của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên,
như phần trên đã đề cập, Nho giáo với tư cách là một học thuyết về chính trị xã hội và đạo đức đang tồn tại khách quan, tiềm ẩn trong các giá trị văn hoá
truyền thống dân tộc, nên tư tưởng triết học của nó vẫn còn ảnh hưởng đến
quá trình xây dựng ĐĐCM của họ. Điều này đã đặt ra một trong những yêu
cầu cấp thiết là phải phủ định biện chứng ảnh hưởng của tư tưởng triết học
Nho giáo đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 hiện
nay.
23
Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây dựng ĐĐCM của đội
ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 là sự tác động, chi phối của thế giới quan, nhân
sinh quan và phương pháp luận nhận thức Nho giáo, gây nên những biến đổi nhất
định, vừa tích cực, vừa tiêu cực đối với nhận thức, tình cảm, niềm tin và hành vi
đạo đức của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5; đồng thời vừa tạo thuận lợi, vừa
gây khó khăn trong quá trình xây dựng ĐĐCM của họ. Đây là sự đấu tranh giải
quyết mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, phản ánh
mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội thông qua kết quả xây
dựng các yếu tố cấu thành đời sống ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân
khu 5.
Tính chất và mức độ ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây
dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 phụ thuộc vào những vấn
đề có tính quy luật sau đây:
Một là, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCM của
đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 phụ thuộc vào chất lượng công tác quản lý,
tự giáo dục của đối tượng. Tự giáo dục là khả năng chủ quan hoá khách quan,
được thể hiện thông qua quá trình tự ý thức, rèn luyện, điều chỉnh hành vi đạo
đức dựa trên niềm tin đạo đức cá nhân và luôn chịu tác động bởi sức mạnh ám
thị của phong tục tập quán, của dư luận xã hội và sự dằn vặt của lương tâm.
Khả năng này có tác dụng như một phương thuốc đề kháng, tạo nên sự miễn
dịch cho đời sống đạo đức của mỗi người, chống lại sự xâm nhập của các yếu
tố phi đạo đức hình thành bởi những ảnh hưởng tiêu cực của các hệ tư tưởng
khác, trong đó có tư tưởng triết học Nho giáo. Mặt khác, một khi phẩm chất
đạo đức cần thiết của cán bộ QSĐP Quân khu 5 được xây dựng đúng mức từ
trước, thì trong hiện tại và tương lai, việc kế thừa, phát triển phẩm chất đạo
đức ấy sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Điều này cho thấy, một khi ĐĐCM của đội
ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 được quan tâm xây dựng thường xuyên, khả
năng tự giáo dục, tự rèn luyện của họ luôn được đề cao, thì những ảnh hưởng
25
tích cực của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây dựng ĐĐCM của họ sẽ được
phát huy, những ảnh hưởng tiêu cực sẽ được hạn chế thấp nhất.
Ba là, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCM của
đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 phụ thuộc vào tính chất môi trường sống,
hoạt động và công tác của họ. Rõ ràng, trong tính hiện thực của nó, phẩm
chất đạo đức của con người là sản phẩm tổng hoà của các quan hệ xã hội. Các
quan hệ xã hội ấy được nảy sinh, biểu hiện và phải được giải quyết trong một
môi trường nhất định, có ý nghĩa quyết định đến nhân cách của mỗi con
người. Nếu như môi trường sống, hoạt động và công tác của đội ngũ cán bộ
QSĐP Quân khu 5 được xây dựng trong sạch, lành mạnh, thì những ảnh
hưởng tích cực của Nho giáo đến xây dựng ĐĐCM của họ sẽ được phát huy,
tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho họ giữ vững và tăng cường các phẩm chất
đạo đức cần thiết. Ngược lại, nếu môi trường ấy không được quan tâm xây
dựng đúng mức, thì những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng triết học Nho