Giải pháp phát triển du lịch văn hoá tâm linh ở huyện sóc sơn – thành phố hà nội - Pdf 41

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục bảng, hình

viii

Danh mục hộp

xi

Phần I. MỞ ĐẦU

1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu


2.1.1 Các khái niệm cơ bản

4

2.1.2 Các loại hình du lịch gắn với du lịch văn hóa tâm linh

6

2.1.3 Đặc điểm của du lịch văn hóa tâm linh

7

2.1.4 Nội dung nghiên cứu của phát triển du lịch văn hóa tâm linh

14

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch văn hóa tâm linh

18

2.2 Cơ sở thực tiễn

23

2.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa tâm linh ở một số nước
trên thế giới

23



36

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

36

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

37

3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin

37

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

40

Phần IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

41

4.1 Thực trạng phát triển du lịch văn hóa tâm linh huyện Sóc Sơn

41

4.1.1 Tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh của huyện Sóc Sơn

41

4.2.2 Lượng khách du lịch

73

4.2.3 Tua, tuyến du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn huyện Sóc Sơn

76

4.2.4 Chất lượng dịch vụ du lịch

78

4.2.5 Hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch

79

v


4.2.6 Nguồn kinh phí cho phát triển du lịch văn hoá tâm linh

81

4.4 Định hướng và các giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững ở
huyện Sóc Sơn

84

4.4.1 Định hướng phát triển du lịch văn hóa tâm linh huyện Sóc Sơn



TÀI LIỆU THAM KHẢO

100

PHỤ LỤC

99

vi


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CSVCKT

: Cơ sở vật chất kỹ thuật

CSLT

: Cơ sở lưu trú

ĐVT

: Đơn vị tính



: Hoạt động

HĐKD


UNESCO

: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên Hợp Quốc

WTO

: Tổ chức thương mại thế giới

vii


DANH MỤC BẢNG
Số bảng

Tên bảng

Trang

3.1

Tình hình dân số lao động huyện Sóc Sơn năm 2014

34

3.2

Tổng giá trị sản xuất một số ngành

35


4.4

Kết quả đánh giá của khách du lịch văn hóa tâm linh về chất lượng
hạ tầng dịch vụ du lịch tại huyện Sóc Sơn

4.5

58

Kết quả đánh giá của khách du lịch văn hóa tâm linh về giá dịch vụ
du lịch tại huyện Sóc Sơn

59

4.6

Nguồn nhân lực du lịch trên địa bàn huyện

61

4.7

Kết quả đánh giá của khách du lịch văn hóa tâm linh về sự phục vụ
của lao động du lịch ở huyện Sóc Sơn

63

4.8


tâm linh ở huyện Sóc Sơn

72

Tình hình khách du lịch đến huyện Sóc Sơn

74

viii


4.14

Chương trình các tour du lịch tâm linh

4.15

Bảng đánh giá của du khách về chất lượng dịch vụ du lịch tại huyện
Sóc Sơn

4.16

78

Nguồn thông tin du khách biết đến điểm du lịch văn hóa tâm linh
huyện Sóc Sơn năm 2014

4.17

77

Số biểu đồ
4.1

Tên biểu đồ

Trang

Số lượng nhà hàng, quán ăn trên địa bàn huyện Sóc Sơn qua 3 năm
2012-2014

4.2

54

Số lượng các cửa hàng lưu niệm trên địa bàn huyện Sóc Sơn qua 3
năm 2012-2014

4.3

55

Phân loại khách du lịch văn hóa tâm linh huyện Sóc Sơn theo
nguồn khách

75

x


DANH MỤC HỘP


4.5

Hiện tại các hệ thống nước sạch phục vụ du khách đang được triển
khai xây dựng

70

xi


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khi cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao về vật chất
lẫn tinh thần thì nhu cầu tham quan, du lịch, nghỉ ngơi sau những ngày làm việc
căng thẳng càng được nhiều người quan tâm hơn. Đã có nhiều loại hình du lịch ra
đời nhằm đáp ứng cho du khách như: du lịch văn hóa, du lịch mạo hiểm, du lịch
biển, … Trong đó, có thể nói loại hình du lịch văn hóa tâm linh đang là một xu
hướng phát triển mới mà các công ty lữ hành đang hướng đến để phục vụ nhu cầu
tham quan, chiêm bái, hành hương của khách du lịch. Khi đời sống vật chất ngày
càng được nâng cao, xã hội càng hiện đại thì con người ta lại càng có nhu cầu nâng
cao hơn nữa đời sống tinh thần. Cho nên sự phát triển của du lịch văn hóa tâm linh
trong tương lai không xa là nhu cầu tất yếu, nhất là đối với quốc gia có nền văn hóa
Phật giáo như Việt Nam (Nguyễn Thị Khánh Lý, 2014).
Mặt khác, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, điều đó đã
đánh dấu một bước ngoặt trên con đường chủ động hội nhập quốc tế, phát triển kinh
tế đất nước. Gia nhập WTO mang đến những cơ hội mới nhưng cũng không ít những
thách thức cho nền kinh tế nước ta. Ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du
lịch các địa phương sẽ phải đối mặt với những thách thức rất lớn từ hội nhập kinh tế

1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Sóc Sơn,
phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch văn hóa tâm linh từ đó đề xuất các giải
pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch văn hóa tâm linh của huyện Sóc Sơn, thành
phố Hà Nội trong thời kỳ tới.
1.2 2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch
văn hóa tâm linh.
- Đánh giá thực trạng phát triển văn hóa du lịch văn hóa tâm linh và phân
tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội;

2


- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch tâm linh tại huyện Sóc Sơn
trong thời gian tới
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3 1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn, thực trạng và những yếu tố ảnh
hưởng cũng như giải pháp liên quan đến phát triển du lịch văn hóa tâm linh
Các chủ thể liên quan đến phát triển du lịch tâm linh như: Cơ quan quản lý
Nhà nước về du lịch, các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, cộng đồng dân cư địa
phương và khách du lịch văn hóa tâm linh.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch văn hóa tâm linh ở huyện Sóc Sơn
trong những năm gần đây, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch tâm linh từ
đó đánh giá và đưa ra những giải pháp cơ bản để phát triển du lịch văn hóa tâm linh
bền vững ở Sóc Sơn trong những năm tới.

trong các chuyến đi.
Để xem xét du lịch một cách toàn diện thì cần phải cân nhắc tất cả các chủ
thể tham gia vào hoạt động du lịch mới có thể khái niệm và hiểu được bản chất của
du lịch một cách đầy đủ: Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố
trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch,
cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch (Nguyễn Như Ý, 2009).
Từ những phân tích trên, tôi cho rằng “Du lịch là sự kết hợp các hiện tượng và
các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các cơ sở kinh
doanh hàng hoá-dịch vụ du lịch, dân cư sở tại và chính quyền địa phương nơi đón
khách du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách trong một thời gian nhất định,
đồng thời thoả mãn mục đích của các chủ thể khác tham gia vào mối quan hệ đó”.

4


2.1.1.2 Khái niệm về văn hóa
Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Nó
là toàn bộ cuộc sống; cả vật chất, tinh thần của từng cộng đồng người. Như vậy, có
thể khẳng định: tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa. Riêng ở
nước ta, cũng có khá nhiều quan niệm về văn hóa:
- Trong giáo trình "Cơ sở văn hóa Việt Nam", Trần Ngọc Thêm (1997) đã định
nghĩa về văn hóa như sau: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự
tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình".
- Năm 2002, UNESCO cho rằng: "Văn hóa nên được xem là tập hợp các đặc
trưng tâm linh, vật chất, trí tuệ và cảm xúc riêng biệt của xã hội hay một nhóm
người trong xã hội, và ngoài văn học và nghệ thuật, nó bao gồm lối sống, cách
chung sống, hệ giá trị, truyền thống và đức tin".
- Khái niệm văn hóa của nhà nhân học Robert Lowie trong "không gian văn hóa
nguyên thủy" được xuất bản năm 2008 do dịch giả Vũ Xuân Ba và Ngô Đình Lâm dịch:

sức sống cho nền văn hóa đa dân tộc.
2.1.2 Các loại hình du lịch gắn với du lịch văn hóa tâm linh
Hoạt động du lịch rất đa dạng và phong phú. Tùy thuộc vào tiêu thức mà du
lịch được phân ra làm nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình du lịch có đặc điểm,
đặc trưng riêng (Lê Thanh Thuỷ, 2014).
- Du lịch văn hóa là hoạt động diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn và
ngày càng thu hút nhiều khách du lịch bởi tính đa dạng, phong phú, độc đáo cũng như
tính truyền thống, địa phương của nó. Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản
phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng...
- Du lịch tâm linh là loại hình thu hút những người có mối quan tâm chủ yếu là
tìm hiểu văn hóa, giá trị truyền thống, thăm viếng bằng tâm trạng, trái tim, nuôi
dưỡng và mở rộng sự hiểu biết hướng về cái thiện, hòa hợp với thiên nhiên, đồng
loại, chúng sinh (Nguyễn Thị Khánh Lý, 2014).
- Du lịch tự nhiên: là hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường tự
nhiên. Là loại hình hấp dẫn những người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời,
thích thưởng thức phong cảnh đẹp và đời sống thực vật hoang dã (Nguyễn Quyết
Thắng, 2012).

6


- Du lịch làng xã: khai thác tài nguyên du lịch trong lĩnh vực nông thôn nhằm
tăng lợi ích cho khu vực nông thôn.
- Du lịch giải trí nảy sinh từ nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn để phục hồi thể lực và
tinh thần của con người.
- Du lịch chuyên đề liên quan đến một nhóm nhỏ thường có chung mối quan
tâm đặc biệt đến vấn đề đó.
- Du lịch dân tộc đặc trưng hóa cho những người quay trở về quê cha đất tổ để
tìm hiểu lịch sử, nguồn gốc quê hương, dòng dõi gia đình hoặc tìm kiếm khôi phục
những truyền thống văn hóa bản địa (Lê Thanh Thuỷ, 2014).

thời (Thích Đạt Đạo, 2010).
Du lịch văn hóa tâm linh là loại hình thu hút những người có mối quan tâm
chủ yếu là tìm hiểu văn hóa, giá trị truyền thống, thăm viếng bằng tâm trạng, trái
tim, nuôi dưỡng và mở rộng sự hiểu biết hướng về cái thiện, hòa hợp với thiên
nhiên, đồng loại, chúng sinh. Nâng cao được giá trị tâm hồn, hiểu rõ hơn về tâm
linh, cụ thể với phật giáo chúng ta là hiểu hơn về chân lý giải thoát, giá trị chân thực
của cuộc sống hiện tại (Thích Đạt Đạo, 2010).
Du lịch văn hóa tâm linh là một khái niệm rộng và bao gồm du lịch tôn giáo
và tín ngưỡng. Du lịch văn hóa tâm linh không chỉ gồm du lịch tôn giáo mà còn
hàm chứa cả tìm hiểu những phong tục tập quán truyền thống, những tín ngưỡng
dân gian. Không ít người đã nhầm lẫn giữa 2 khái niệm này do không phân biệt
được chính xác tín ngưỡng và tôn giáo:
- Tín ngưỡng: do dân gian sáng lập (không có người sáng lập cụ thể), không
có nơi thờ tự, được lưu truyền trong dân gian, không có hệ thống kinh sách rõ ràng
(Nguyễn Đức Thịnh, 2001).
- Tôn giáo: có người sáng lập cụ thể, có nơi thờ tự, có hệ thống chặt chẽ
thống nhất, có hệ thống kinh sách ghi chép lại (Nguyễn Phạm Hùng, 1999).
2.1.3.2 Đặc điểm của du lịch văn hóa tâm linh
a. Đặc điểm
- Du lịch văn hóa tâm linh gắn với tôn giáo và đức tin và ở Việt Nam, trong
đó Phật giáo có số lượng lớn nhất (chiếm tới 90%) cùng tồn tại với các tôn giáo
khác như Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo...Triết lý phương đông, đức tin, giáo

8


pháp, những giá trị vật thể và phi vật thể gắn với những thiết chế, công trình tôn
giáo ở Việt Nam là những ngôi chùa, tòa thánh và những công trình văn hóa tôn
giáo gắn với các di tích là đối tượng mục tiêu hướng tới của du lịch văn hóa tâm
linh (Nguyễn Thị Khánh Lý, 2014).

đối với các giá trị của tôn giáo. Con người cảm thấy sự thanh thản, nhẹ nhàng, tâm an
lạc, không chìm theo dục vọng thấp hèn của vật chất, du lịch văn hóa tâm linh mang lại
giá trị của tình yêu thương con người thật sự cho chính bản thân cá nhân đó, đồng thời
mỗi cá nhân lại mang đến sự bình an, an lạc cho những người xung quanh
Với hình thức du lịch văn hóa tâm linh du khách không chỉ để vui chơi thăm
thú mà như đang thực hiện một cuộc hành hương về vùng đất thiêng và tìm kiếm
nơi trú ngụ bình yên, thanh thản cho tâm hồn. Đa số là du khách đến Đền, Chùa,
thắng cảnh, thánh tích để cho tâm hồn con người được thanh tịnh và thoát tục.
Du lịch văn hóa tâm linh là hoạt động du lịch văn hóa tâm linh diễn ra chủ
yếu trong môi trường nhân văn và ngày càng thu hút nhiều khách du lịch bởi tính đa
dạng, phong phú, độc đáo cũng như tính truyền thống, địa phương của nó. Du lịch
văn hóa tâm linh chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những sản phẩm có ý
nghĩa tâm linh. Du khách tham dự các lễ hội truyền thống, các sinh hoạt văn hóa
dân gian, sẽ giúp cho họ có thể học tập, nghiên cứu nâng cao nhận thức và hiểu biết
về truyền thống dân tộc và cả thế giới xung quanh (Đoàn Thị Thuỳ Trang, 2010).
Trong bất cứ một đoàn thể xã hội hay cá nhân con người nào, muốn có một
đời sống ổn định, hạnh phúc thì phải có kết hợp hài hòa hai yếu tố: đó là vật chất và
tinh thần, nếu muốn tinh thần thăng hoa thì cần nâng cao đạo đức, gốc và đời sống
tâm linh. Ngoài việc thúc đẩy kinh tế du lịch, phát triển kinh tế dịch vụ, du lịch văn
hóa tâm linh nếu được phát triển lành mạnh, đúng hướng, xã hội càng phát triển
cuộc sống càng xô bồ, con người càng hướng tới đức tin. Những đức tin lành mạnh
sẽ giúp con người hướng thiện, loại dần cái ác, đem đến sự an lành của hồn người
trong một xã hội đầy biến động và vô thường (Đoàn Thị Thuỳ Trang, 2010).
Du lịch văn hóa tâm linh thường gắn với lịch sử dân tộc, gắn với đức tin và
hướng thiện, loại bỏ yếu tố mê tín dị đoan, loại bỏ những kẻ “buôn thần bán thánh”
đây là ngành du lịch hướng con người đến nhiều điều tốt lành. Du lịch văn hóa tâm
linh là một phạm trù rộng. Tâm linh bao gồm phong tục tập quán, tín ngưỡng của

10


phát triển du lịch văn hóa tâm linh sẽ mang lại cơ hội việc làm, tạo thu nhập, giảm

11


nghèo, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, hiểu
biết lẫn nhau giữa các dân tộc, tôn giáo, góp phần gìn giữ hòa bình, mở ra nhiều cơ
hội hợp tác, hỗ trợ hiệu quả cho việc tôn vinh, khôi phục và bảo tồn các giá trị văn
hóa truyền thống, các di sản vật thể và phi vật thể của mỗi quốc gia cũng như của
toàn nhân loại.
Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hồ Anh Tuấn nói: “Trên thế giới này, dù chúng ta
khác nhau về màu da, tôn giáo song niềm tin mà chúng ta gửi gắm, tôn thờ đều gặp
nhau ở tinh thần nhân ái, khoan dung và triết lý nhân bản. Chính đặc tính không biên
giới và chung hướng đích đã làm nên sự giao thoa, ngưỡng vọng về tâm linh, nảy nở sự
cảm thông, chia sẻ và nhu cầu tìm hiểu lẫn nhau. Đó vừa là nhu cầu, là cơ hội, là mảnh
đất vô cùng sinh động để du lịch phát triển, loại hình du lịch văn hóa tâm linh vốn luôn
có sẵn tiềm năng” (Tổng cục du lịch, 2001).
Du lịch văn hóa tâm linh đang trở thành xu hướng phổ biến, gắn kết các nền
văn hóa trong thế giới tinh thần.
2.1.3.3 Vai trò, ý nghĩa của du lịch văn hóa tâm linh
Hoạt động du lịch, du lịch văn hóa tâm linh có tác động tích cực đến sự
phát triển của nhiều ngành kinh tế khác nhau như công nghiệp thực phẩm, nông
nghiệp, công nghiệp gỗ, dệt, thủy sản, thủ công mỹ nghệ...ngoài ra du lịch phát
triển còn tác động đến sự phát triển của y tế, văn hóa, thương mại, bưu chính
viễn thông, ngân hàng, giao thông vận tải...góp phần giữ gìn văn hóa truyền
thống của dân tộc, tăng thu nhập quốc dân (Nguyễn Thị Khánh Lý, 2014).
- Phát triển du lịch, du lịch văn hóa tâm linh đã mang lại hiệu quả cho nền
kinh tế quốc gia, đồng thời phát triển du lịch văn hóa tâm linh tạo ra sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự
phát triển của nhiều ngành, nhiều địa phương.

phục vụ các nhu cầu của khách, sản xuất các hàng lưu niệm bán cho khách...thông
qua đó tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương (Đoàn Thị
Thuỳ Trang, 2010).

13


2.1.4 Nội dung nghiên cứu của phát triển du lịch văn hóa tâm linh
2.1.4.1 Tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh
Kinh tế phát triển, cuộc sống người dân ngày một đi lên, cuộc sống của người
dân ngày một tiếp cận gần hơn với nền kinh tế và văn minh của các nước phát triển.
Cho nên nhu cầu tìm đến những thánh tích linh thiêng mầu nhiệm ngày càng có
nhiều người tìm đến để nương tựa tinh thần. Ngành du lịch nắm bắt được nhu cầu
tinh thần này, tiếp thu những kinh nghiệm ngành du lịch của các nước trên thế giới
và phát triển du lịch văn hoá tâm linh, nhưng việc phát triển hầu như vẫn chưa mang
lại kết quả khả quan so với tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh mà chúng ta đang sở
hữu (Đoàn Thị Thuỳ Trang, 2010).
Việt Nam là một đất nước có truyền thống Phật giáo lâu đời, trên 50% dân
số nước ta tin theo đạo Phật và gần 20% người dân có cảm tình với Phật giáo. Đa
phần những thánh tích ở Việt Nam có nguồn gốc từ đạo Phật nếu không có nguồn
gốc từ đạo Phật thì cũng có âm hưởng giáo lý nhà Phật. Do đó phát triển ngành du
lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam thì Phật giáo có một lợi thế rất lớn. Đây là một
dịch vụ mang lại nhiều lợi nhuận cho nước nhà nói chung và cho kinh tế Phật giáo
nói riêng, đồng thời thông qua đây tạo môi trường thuận tiện cho việc truyền bá sự
kính tin Tam Bảo, xây dựng nền tảng đạo đức, giữ gìn những truyền thống và bản
sắc văn hóa của dân tộc (Tổng cục du lịch, 2005).
2.1.4.2 Phát triển hệ thống cơ sở kinh doanh dịch vụ
A, Hệ thống cơ sở lưu trú
Đây là thành phần đặc trưng nhất trong toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ
thuật du lịch. Chúng đáp ứng nhu cầu căn bản nhất của con người (ăn và ngủ) khi

trang thiết bị và trang trí nội thất phải được bố trí hợp lý, tạo được bầu không khí
thoải mái, dễ chịu cho du khách. Ngoài ra các cơ sở này còn là nơi vui chơi giải trí
cho họ, vì vậy chúng còn có thể có hệ thống công trình trang thiết bị phục vụ vui
chơi giải trí như dàn nhạc, sàn khiêu vũ, phòng xem video, trò chơi điện tử…
(Nguyễn Thị Khánh Lý, 2014).
B, Dịch vụ ăn uống và hàng lưu niệm
Dịch vụ ăn uống và quà lưu niệm đóng một vai trò rất lớn đối với việc thu hút
khách du lịch đến với địa điểm du lịch. Ngoài ra dịch vụ này còn giúp quảng bá sản
phẩm du lịch thông qua các món ăn, đồ uống được trưng bày trong tủ kính, được

15


chế biến trình diễn nơi đông người để cho người xem, nếm thử (cảm quan) sẽ tạo ra
những ấn tượng khó quên đối với con người. Như vậy, có thể khẳng định việc tuyên
truyền, quảng cáo và xúc tiến là chiếc cầu nối giữa cung - cầu trong hoạt động kinh
doanh du lịch (Đoàn Thị Thuỳ Trang, 2010).
C, Dịch vụ lữ hành
- Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải: Du lịch gắn với việc di
chuyển con người trên phạm vi nhất định. Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào giao
thông vận tải. Tuy nhiên mạng lưới giao thông tren địa bàn vẫn chưa được quan tâm,
xây dựng, làm mới. Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn đối với du lịch nhưng vẫn
không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vận tải. Thông qua mạng lưới
giao thông thuận tiện, nhanh chóng du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến
trong xã hội, phổ biến trong xã hội (Đoàn Thị Thuỳ Trang, 2010).
Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông và phương tiện giao
thông vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiệm
việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện
mối giao lưu giữa các vùng trong phạm vi cả nước và quốc tế. Trong đời sống hiện
đại nói chung, cũng như ngành du lịch không thể thiếu được các phương tiện thông

di tích của địa phương, giúp cho khách du lịch hiểu được ngọn nguồn của điểm du
lịch, giúp chuyến tham quan của du khách trở lên vô cùng ý nghĩa (Nguyễn Thị
Khánh Lý, 2014).
2.1.4.3 Phát triển nguồn nhân lực cho du lịch văn hóa tâm linh
Nguồn nhân lực du lịch là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu mang
tính quyết định trong tiến trình phát triển du lịch, bởi con người chính là chủ thể của
hoạt động lao động. Sở dĩ nguồn nhân lực trở thành một trong những vấn đề cấp
thiết của du lịch hiện đại là vì khi du lịch ngày càng phát triển thì nhu cầu về nguồn
nhân lực ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng. Du lịch muốn trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn đòi hỏi phải có nguồn nhân lực với chất lượng cao, đặc biệt trong
thời kỳ hội nhập như hiện nay (Đoàn Thị Thuỳ Trang, 2010).
Ngành Du lịch đòi hỏi nguồn nhân lực lớn với nhiều loại trình độ do tính
chất đặc điểm của ngành có mức độ cơ giới hóa thấp và đối tượng phục vụ là
khách hàng với nhu cầu rất đa dạng. Trong kinh doanh du lịch, phần lớn lao
động tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và họ tham gia thực hiện các công việc
nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Chất lượng dịch vụ được cung

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status