Giải pháp phát triển du lịch văn hoá nhân văn ở huyện can lộc tỉnh hà tĩnh - Pdf 31

Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************

VÕ TRƯỜNG THÀNH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VĂN HOÁ NHÂN VĂN Ở HUYỆN
CAN LỘC - TỈNH HÀ TĨNH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học

Hà Nội – 2010

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 1

Khoá luận tốt nghiệp


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học

KHOA: NGỮ VĂN
** **************

nhất tới các thầy, cô giáo đã giúp tác giả hoàn thành khoá luận này.

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2010
Tác giả khoá luận

Võ Trường Thành

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 3

Khoá luận tốt nghiệp


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khoá luận này
là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Minh
Đức.
Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác
giả khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong
khoá luận này.

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2010
Tác giả khoá luận

Võ Trường Thành



TS

Tiến sĩ

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 5

Khoá luận tốt nghiệp


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học
MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................

1

2. Lịch sử vấn đề ....................................................................................

2

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu..........................................................

3

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..........................................................


1.1.2. Khái niệm du lịch ..........................................................................

11

1.1.2.1. Khái niệm du lịch văn hoá .............................................

13

1.1.2.2. Khái niệm du lịch văn hoá nhân văn ...............................

14

1.1.3. Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch ...........................................

14

1.1.3.1. Ảnh hưởng của văn hoá đến du lịch ...............................

14

1.1.3.2. Ảnh hưởng của du lịch đến văn hoá..................................

16

1.2. Cơ sơ thực tiễn của việc nghiên cứu du lịch văn hoá nhân văn ở huyện
Can Lộc - Hà Tĩnh................................................................................

17



2.1.1. Di tích lịch sử - cách mạng. .........................................................

21

2.1.1. Khái niệm di tích lịch sử - cách mạng ..........................................

21

2.1.1.2. Các di tích lịch sử- cách mạng ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh

22

a. Ngã ba Đồng Lộc .............................................................

22

b. Bến đò ThượngTrụ ...........................................................

26

c. Ngã ba Nghèn ....................................................................

28

d. Làng văn hoá130 ..............................................................

28

2.1.2. Lễ hội truyền thống ở Can Lộc - Hà Tĩnh .................................


a. Đền Tam Lang ...................................................................

37

b. Đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung ........................................

40

c. Đền thờ Nguyễn Huy Oánh ..............................................

41

d. Đền thờ Nguyễn Huy Tự ..................................................

41

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 7

Khoá luận tốt nghiệp


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học

2.1.4. Các làn điệu dân ca truyền thống .............................................

43


47

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ NHÂN
VĂN Ở CAN LỘC - HÀ TĨNH ............................................................

49

3.1. Giải pháp phát triển du lịch văn hoá nhân văn
ở Can Lộc - Hà Tĩnh ...........................................................................

49

3.1.1. Giải pháp tuyên truyền giáo dục, quảng bá ...............................

49

3.1.1.1. Giải pháp tuyên truyền giáo dục đối với thế hệ trẻ ...........

49

a. Giáo dục từ gia đình, dòng họ ...............................................

4?

b. Giáo dục nhà trường ............................................................

53

c. Hoạt động của huyện đoàn Can Lộc ....................................


K32G - Việt Nam Học

3.1.2.1. Đối với cán bộ phụ trách, quản lý du lịch ....................

56

3.1.2.2. Đối với cán bộ lãnh đạo địa phương ...............................

57

3.1.2.3. Thu hút nguồn nhân lực trẻ, đào tạo truyết minh viên
tại điểm ....................................................................................................

58

3.1.3. Giải pháp đầu tư, quy hoạch và xã hội hoá công tác bảo tồn ...

60

3.1.3.1. Giải pháp đầu tư và xã hội hoá công tác bảo tồn ............

60

3.1.3.2. Chính sách quy hoạch .......................................................

61

3.1.4. Một số giải pháp khác .................................................................

63


67

2. Kiến nghị ............................................................................................

68

TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................

70

PHỤ LỤC

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 9

Khoá luận tốt nghiệp


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Thời đại ngày nay, trên phạm vi toàn cầu, du lịch ngày càng trở thành nhu
cầu tất yếu của mỗi con người ở mọi quốc gia, mọi vùng lãnh thổ. Ở nước ta, sau
những năm đổi mới, hoạt động du lịch có điều kiện phát triển mạnh, nhất là các
điểm di tích nổi tiếng, các di sản văn hoá truyền thống. Du lịch ngày càng trở
thành một ngày kinh tế quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước.

ta không thể không xét đến mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, môi trường và bao
hàm lên tất cả là văn hoá. Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch là mối quan hệ
trọng yếu nhằm làm cho du lịch có thể phát triển bền vững trong thời đại toàn
cầu hoá.
Là cử nhân Việt Nam học, người con của quê hương Can Lộc anh hùng,
chúng tôi tự nhận thấy rằng, phát triển du lịch văn hoá còn là điều kiện để khơi
dậy bản sắc văn hoá quê hương, phát huy bản lĩnh văn hoá dân tộc trong công
cuộc hội nhập. Phát triển du lịch còn là điều kiện để giao lưu văn hoá, tìm được
“cái hay, cái đẹp” của văn hoá toàn cầu để tự soi mình, phát huy, giữ gìn truyền
thống văn hoá dân tộc.
Ngoài ra, đề tài còn là một góc nhìn nhỏ đối với những ai quan tâm đến
vùng đất Can Lộc - quê tôi.
2. Lịch sử vấn đề
Từ xưa, Can Lộc đã nổi tiếng trong cả nước với “Hồng sơn văn phái”, với
những dòng họ nổi tiếng như Nguyễn Huy, Nguyễn Đức, Hà... Những nhà nho,
văn thân như Nguyễn Thiếp, Lê Hữu Trác, Nguyễn Nghiễm... cũng đã có những
cảm xúc sâu lắng về vùng đất Can Lộc. Nhưng dưới trình độ phát triển của
phương thức sản xuất và ý thức hệ phong kiến, hoạt động du lịch ở Can Lộc chỉ
được thực hiện bởi những chuyến du ngoạn của các văn thân, ẩn sỉ, của các vua
chúa, bên cạnh đó, “du lịch tinh thần” của người dân cũng được phát triển.
Qua thời kỳ đô hộ của thực dân, dưới thời bao cấp - Hợp tác xã, người ta
đã biến đình, đền thành kho bãi. Những giá trị văn hoá vật thể được lưu giữ hàng
nghìn năm đã biến thành tro tàn, thành chỗ vui chơi của trẻ thơ. Chỉ khi công
cuộc đổi mới, hội nhập được thực hiện, yêu cầu về bản lĩnh văn hoá của dân tộc

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 11

Khoá luận tốt nghiệp



Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 12

Khoá luận tốt nghiệp


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học

+ Quảng bá hình ảnh quê hương đến bạn bè trong nước cũng như khắp
năm châu.
+ Nâng cao nhận thức của người dân địa trong việc khai thác, bảo tồn,
phát huy những giá trị văn hoá đặc trưng của địa phương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn du lịch văn hoá nhân văn ở huyện
Can Lộc - Hà Tĩnh.
+ Tìm hiểu hệ thống các di tích lịch sử - văn hoá, lễ hội truyền thống, hệ
thống đình, đền, các phong tục tập quán, những sinh hoạt văn hoá dân gian tiêu
biểu trên địa bàn huyện Can Lộc - Hà Tĩnh.
+ Nghiên cứu, đánh giá sự hình thành, phát triển và thực trạng của các khu
di tích lịch sử - văn hoá, lễ hội truyền thống, hệ thống đình đền, các diễn xướng
dân gian, ý nghĩa và vai trò của nó trong tâm thức của người dân địa phương.
+ Xây dựng các giải pháp trong việc phát triển du lịch văn hoá ở Can Lộc
- Hà Tĩnh.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tiềm năng và thực trạng du lịch văn hoá
nhân văn ở huyện Can Lộc- Hà Tĩnh, cụ thể là các di tích lịch sử- văn hoá; lễ hội
truyền thống; hệ thống đình, đền; các loại hình dân ca và diễn xướng dân gian.
4.2. Phạm vi nghiên cứu


Khoá luận tốt nghiệp


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CUẢ VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH
VĂN HOÁ NHÂN VĂN Ở HUYÊN CAN LỘC - HÀ TĨNH
1.1. Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu du lịch văn hoá nhân văn ở Can Lộc Hà Tĩnh
1.1.1. Khái niệm văn hoá
Văn hoá xuất hiện cùng với loài người, là sản phẩm do con người sáng tạo
ra. Văn hoá là khái niệm mở, có tính xã hội và tính lịch sử. Cùng với quá trình
phát triển của xã hội, khái niệm văn hoá luôn được bổ sung và mở rộng. Vì vậy,
từ lâu từ văn hoá đã được các nhà nghiên cứu cả Phương Tây và Phương Đông
quan tâm.
Ở Phương Tây, từ văn hoá (Culture trong tiếng Pháp, tiếng Anh, Kultur
trong tiếng Đức..) vốn có nghĩa là trồng trọt, vun xới ngoài đồng (Cultus agri),
sau chuyển thành trồng trọt tinh thần (Cultu sanimi).
Từ văn hoá được sử dụng đầu tiên ở Đức vào giữa thế kỷ XVII bởi nhà
luật học Pufedorf, với tư cách là một thuật ngữ khoa học. Ông cho rằng, văn hoá
là tất cả những gì đối lập với tự nhiên. Sau Pufedorf, nhà triết học Hender cho
rằng “văn hoá là sự hình thành lần thứ hai của con người”. Ông nói, lần thứ nhất
con người hình thành như một thực thể xã hội, tức là văn hoá theo nghĩa toàn
vẹn của từ này. Đây là quan điểm tiêu biểu nhất của thế kỷ XX, nó có ý nghĩa to
lớn đánh dấu việc con người bằng văn hoá đã vạch ra đường ranh giới tách ra
khỏi hình thức tồn tại khác của vật chất, tách con người ra khỏi động vật. Nó

nhiều quan điểm khác nhau về văn hoá.
Ở Phương Đông, khái niệm văn hoá cũng được bổ sung theo tiến trình lịch
sử. Ở Trung Quốc, từ văn hóa mang tính khái quát hoá cao. Họ dùng hai chữ
văn hoá vốn được ghép bởi hai từ: Văn trị (cai trị bằng văn) và giáo hoá (giáo
dục để biến đổi). Mà văn thì thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, Tuân Tử - học trò
của Khổng Tử đã giải thích: văn là nguỵ. Chữ nguỵ ngày nay đã chuyển nghĩa là
giả, dối, giặc (Đào Duy Anh). Nguyên uỷ của nó là cái do con người làm ra
không phải là cái tự nhiên. Vì vậy, chữ nguỵ được ghi theo ý gồm (nhân =

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 16

Khoá luận tốt nghiệp


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học

người) và (vi = làm). Sau này chính K.Marx đã gọi “văn hoá là thiên nhiên thứ
hai” tức là thiên nhiên được con người “nhân hoá” được con người sáng tạo ra
theo quy luật của cái đẹp. Từ văn hoá cổ xuất hiện sớm nhất trong Chu dịch với
câu: “Quan ư nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ”. Sau này Khổng Đỉnh Đạt đời
Đường đã giải thích câu đó là: thánh nhân quan sát nhân văn, lấy thư, thi, lễ nhạc
làm phép tắc, và dùng nó để giáo hoá mà làm cho thiên hạ được khai hoá. Và đó
là quy luật trị quốc của người Hán “văn vũ chi trị”. Về sau trên cơ sở cái nghĩa
của văn hoá, người ta mở rộng nghĩa dần theo ngoại diên của nó. Cố Viêm Vũ
thời Minh Thanh cho rằng có thể xác và tâm hồn một con người cho đến gia
đình, nhà nước, thiên hạ, tất cả mọi quy chế, âm thanh, hình tượng không có cái
gì không thuộc về văn hoá, bởi lẽ văn hoá là để dạy cho con người biết “tu thân,
tề gia, bình thiên hạ” và vì thế theo Mạnh Tử thì dạy tốt hơn là cai trị tốt. [5,

của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sinh
ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.[14,
tr184]
GS. Trần Ngọc Thêm : “văn hoá là hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt dộng thực
tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của
mình”[17, tr25]
Trong quá trình học tập, chúng tôi may mắn được sự giảng dạy của GS.
Nguyễn Đức Ninh, thầy đã đưa ra khái niệm văn hoá dễ tiếp cận:
Cấp độ 1: Trong quá trình chinh phục tự nhiên và tổ chức xã hội, những gì
con người học được và sáng tạo ra trong cuộc sống xã hội (ngôn ngữ, lối sống,
phong tục, tập quán) một cách có ý thức tạo nên cuộc sống của con người và
phân biệt con người với giới động vật khác.
Cấp độ 2: Về sau này, văn hoá gắn với từng dân tộc, văn hoá thay đổi theo
lịch sử, địa lý, xã hội trở thành đặc trưng phân biệt dân tộc này với dân tộc khác,
cộng đồng người này với cộng đồng người khác tạo ra sự đa dạng về văn hoá.
UNESCO nhìn nhận văn hoá với ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này: Đó là
một phức thể - tổng thể các đặc trưng - diện mạo về tinh thần, vật chất, trí thức
và tình cảm, khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm, làng, vùng

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 18

Khoá luận tốt nghiệp


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học

miền, quốc gia, xã hội. Văn khoá không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học

hài hoà giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Đến Đại hội VII, Đảng ta
nhấn mạnh “văn hoá vừa là nguồn gốc vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội,
không phát triển kinh tế bằng mọi giá”.
Văn kiện Đại hội lần thứ VII của Đảng nhận định: “văn hoá là thành phần
tất yếu và tiêu chí quan trọng để xác định phẩm chất và giá trị tinh thần dưới chế
độ xã hội chủ nghĩa”, Kinh tế và văn hoá gắn bó hết sức chặt chẽ. Kinh tế không
tự mình phát triển nếu thiếu nền tảng văn hoá và văn hoá không phải là sản phẩm
thụ động của kinh tế. Văn hoá vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát
triển xã hội, lại là nền tảng để phát triển các hình thái ý thức xã hội, trong đó có
kinh tế.
Văn hoá là nhân tố quan trọng cấu thành nền sản xuất tổng hợp, văn hoá
như chất keo kết dính các mối quan hệ kinh tế, chính trị, kinh tế, xã hội.. tạo nên
hình hài, bản sắc mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Văn hoá có khả năng bao quát một
cách trực tiếp đảm bảo tính bền vững của xã hội và không bị trộn lẫn ngay cả khi
hội nhập vào những cộng đồng lớn hơn[6, tr10 - 11].
Văn hoá vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển. Văn hoá là yếu
tố cấu thành nên gương mặt của một con người, bộ mặt của quốc gia, phát triển
văn hoá là yếu tố không thể thiếu trong mục tiêu “xây dựng dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Có thể nói, văn hoá là kho biến ảo thần kỳ, người theo nghiệp thì tìm thấy
ở đây ánh hào quang của trí tuệ, người cầm quyền qua đây mà tổng kết quyền
mưu để giữ chính quyền, người kinh doanh lấy từ đây vô vàn của cải; kẻ mông
muội xin ở đây sợi dây để tự trói mình.
1.1.2. Khái niệm du lịch
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới: Du lịch được hiểu là tổng

Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về
nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân
tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là
tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh
mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ
tại chỗ.
Do đó du lịch có thể được hiểu là:

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 21

Khoá luận tốt nghiệp


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học

Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá
nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại
chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một
số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung
ứng.
Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh
trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi
của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng
cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh [13, tr13 - 14].
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản có ý nghĩa góp phần thúc đẩy
sự phát triển của du lịch. Cho đến nay không ít người, chỉ cho rằng du lịch là một
ngành kinh tế. Do đó mục tiêu quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế.
Điều đó cũng đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi

sử - văn hoá, các làng nghề truyền thống, các lễ hội dân gian, nếp sống, phong
tục, tôn giáo.... Mọi sản phẩm do con người sáng tạo ra đều có tính văn hoá, do
đó du lịch văn hoá nhân văn còn là một hoạt động tham quam, học hỏi, tăng
thêm sự hiểu biết, nhận thức trong suốt hành trình tham quan du lịch của du
khách.
1.1.3. Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá
1.1.3.1. Ảnh hưởng của văn hoá đến du lịch
Du lịch ngày càng trở thành một hiện tượng phổ biến trong đời sống nhân
loại, có thể có nhiều nhân tố tạo nên hiện tượng đó nhưng có lẽ yếu tố hàng đầu
là yếu tố văn hoá. Nhu cầu văn hoá thúc đẩy hoạt động du lịch chỉ xuất hiện khi
mỗi dân tộc và toàn nhân loại có được kho tàng di tích văn hoá đã được tích luỹ,
bảo tồn. Di sản văn hoá giữ vai trò của nguồn tài nguyên vô hạn cho việc sản
xuất hàng hoá dịch vụ du lịch. Du lịch là một ngành công nghiệp không khói
đem lại thu nhập cao và vốn đầu tư không đòi hỏi lớn như các ngành khác. Việt
Nam có một di sản văn hoá lớn và cảnh quan thiên nhiên phong phú, đa dạng,
bất cứ nơi nào trên đất nước ta cũng có di tích lịch sử- văn hoá. Do vậy ngành du
lịch Việt Nam tuy còn non trẻ nhưng đã thu về cho đất nước một nguồn lợi lớn.
Ý thức được vai trò to lớn của du lịch trong phát triển kinh tế, Đại Hội X của

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 23

Khoá luận tốt nghiệp


Võ Trường Thành

K32G - Việt Nam Học

Đảng đã nêu rõ “khuyến khích đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng hoạt
động du lịch, đa dang hoá sản phẩm và các loại hình du lịch”.


K32G - Việt Nam Học

hiện tại làm sống lại lịch sử trong tính hình tượng cụ thể cảm tính, sinh động và
du khách có thể trực tiếp tha dự để thẩm nhận.
Ngành du lịch đang khai thác những giá trị mà văn hoá để lại, có thể nói
văn hoá là nguồn của cải vô tận để hoạt động du lịch khai thác.

1.1.3.2. Ảnh hưởng của du lịch đến văn hoá
Một trong những chức năng của du lịch là giao lưu văn hoá cộng đồng.
Thông qua khách du lịch mà du khách hiểu rõ hơn nền văn hoá mà nơi họ đến.
Khi đi du lịch, du khách luôn muốn được thâm nhập vào các hoạt động văn hoá
của địa phương. Đây chính là mối quan hệ tương tác giữa hai bên, người dân bản
xứ với văn hoá đặc sắc của mình là đối tượng tham quan học hỏi của du khách.
Ảnh hưởng tích cực của du lịch đến văn hoá
- Du lịch đem lại nhiều công việc cho người dân và làm tăng thu nhập cho
cá nhân và xã hội.
- Du lịch đem lại lợi ích cho xã hội và giáo dục.
- Du lịch thúc đẩy tinh thần sáng tạo và đổi mới.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Mặt khác, khách du lịch với cũng mang lại những yếu tố văn hoá mới đến
nơi mà họ đến tham quan, dần hình thành nên những giá trị văn hoá mới. Nhưng
bên cạnh đó, vì mục đích lợi nhuận (nhất là các nươc nghèo), các hoạt động văn
hoá truyền thống được trình diễn một cách thiếu tự nhiên hoặc chuyên nghiệp
hoặc mang ra làm trò cười cho du khách. Như vậy, những giá trị văn hoá đích
thực của một cộng đồng, đáng lý phải được trân trọng lại đem ra làm trò tiêu
khiển, mua vui cho du khách. Giá trị truyền thống bị lu mờ do sự lạm dụng vì
mục đích kinh tế. Cùng với đó là các phong tục lối sống được thay đổi theo mốt
của du khách.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status