BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI
KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
HOÀNG THỊ ANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2007
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Dự Báo Giá Xuất Khẩu
Cao Su Tự Nhiên Việt Nam” do Hoàng Thị Anh, sinh viên khóa 2005 – 2009, nghành
Kinh Tế Nông Lâm, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _______________
Thái Anh Hòa
Giáo viên hướng dẫn
______________________________
Ngày
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo
tháng
hiện đề tài này.
Cảm ơn sự hỗ trợ về mặt vật chất lẫn tinh thần của gia đình, cảm ơn sự giúp đỡ
của bạn bè trong suốt thời gian qua là những nền tảng và động lực to lớn để em hoàn
thành luận văn này.
Tuy nhiên, do thời gian thực hiện đề tài có hạn cộng với trình độ hiểu biết và
tầm nhìn chưa rộng, dẫn đến nhiều nhận xét con mang tính chủ quan. Vì thế, luận văn
này chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các
bạn.
Thành phố Hồ CHí Minh, ngày tháng năm 2009
HOÀNG THỊ ANH
NỘI DUNG TÓM TẮT
HOÀNG THỊ ANH. Tháng bảy 2009. “ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỀ
DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”
HOANG THI ANH. July 2009. “Using ARIMA model to Forecast price of
rice at SONG CUU LONG”
Từ công việc thu thập số liệu giá lúa gạo của khu vực đồng bằng sông Cửu Long tại
trang web của Hiệp hội nông dân Việt Nam, khóa luận sử dụng phương pháp mô hình
hồi quy và mô hình Arima với công cụ Eview và Excel để tiến hành dự báo giá lúa gạo
tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong những tháng tới. Từ đó, xác định đường
khuynh hướng giá trong tương lai. Dự báo lúa gạo khu vực đồng bằng sông Cửu Long
trong tương lai sẽ tăng do nhu cầu gạo trên thế giới đang tăng, ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế làm cho nền kinh tế các nước gặp khó khăn, nhu cầu gạo chất
lượng loại thường và trung bình như ở đồng bằng sông Cửu Long tăng lên ở nhiều
nước. Vì vậy, nông dân và các công ty xuất khẩu lúa gạo hoàn toàn yên tâm về giá lúa
gạo trong thời gian sắp tới, yên tâm đầu tư vào lúa gạo. Ngành lúa gạo đồng bằng sông
Cửu Long cần đầu tư nhiều hơn nữa về kỹ thuật, chủng loại giống tốt hơn, chủng loại
sản phẩm và thị trường kinh doanh một cách hợp lý tăng cường xâm nhập vào các thị
03
1.2.1. Mục tiêu
03
1.2.2. Ý nghĩa đề tài
03
1.3. Phạm vi nghiên cứu
04
1.4. Cấu trúc của khóa luận
04
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN
06
2.1. Đặc điểm tổng quát của ngành lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long
06
2.1.1. Lịch sử ngành lúa gạo Việt Nam và lịch sử trồng lúa
khu vực đồng bằng sông Cửu Long
2.1.2. Thu hoạch
19
3.1.1. Thị trường, hiệu quả của thị trường và cơ chế
hình thành giá cả sản phẩm nông nghiệp
19
3.1.2. Dự báo và tính chất của dự báo
20
3.1.3. Chức năng, vai trò và các nguyên tắc của dự báo
20
v
3.1.4. Các nguyên tắc dự báo
21
3.2. Cung cầu và giá cả thị trường
21
3.2.1. Cung về sản phẩm lúa gạo
21
34
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
35
4.1. Hiện trạng sản xuất, tiêu thụ và thị trường
35
lúa gạo đồng bằng Sông Cửu Long
4.2. Tình hình xuất khẩu
38
4.3. Dự báo giá lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long
42
4.3.1. Thị trường lúa tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
44
4.3.2. Thị trường gạo xuất khẩu
51
4.4. Thảo luận
73
5.2.3. Về quản lý ngành sản xuất, dự trữ và tiêu thụ lúa gạo
74
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diện tích gieo trồng lúa qua các năm (từ 1990 – 2007)
15
Bảng 3.1. Quy Tắc Kiểm Định
29
Bảng 3.2. Các Loại Mô Hình
32
Bảng 4.1. Cán Cân Xuất Nhập Khẩu Của Việt Nam Thời Kỳ 1989 – 1999
39
Bảng 4.2: Tỷ trọng xuất khẩu gạo qua các châu lục qua 17
năm qua (từ 1989-2005)
Bảng 4.10: So sánh các chỉ tiêu đánh giá mô hình dự báo gạo nguyên liệu loại I 54
Bảng 4.11. Bảng dự báo của gạo nguyên liệu loại I
55
Bảng 4.12. Dữ liệu giá gạo 5% tấm xuất khẩu
58
Bảng 4.13 : So sánh các chỉ tiêu đánh giá (CTĐG) mô hình dự báo gạo
5% tấm xuất khẩu
59
Bảng 4.14: Bảng dữ liệu dự báo giá gạo 5% tấm
60
Bảng 4.15: Bảng dữ liệu về giá gạo 15% tấm
62
Bảng 4.16 : So sánh các chỉ tiêu đánh giá (CTĐG) mô hình
dự báo gạo 15% tấm xuất khẩu
Bảng 4.17: Bảng dự báo giá gạo 15% tấm
63
63
61
Hình 4.7. Đồ thị dự báo giá gạo 15% tấm
viii
DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang
Phụ lục 1. Dự báo giá lúa đồng bằng sông Cửu Long
77
Phụ lục 2. Dự báo giá gạo nguyên liệu loại I
81
Phụ lục 3. Dự báo giá gạo 5% tấm xuất khẩu
85
Phụ lục 4. Dự báo giá gạo 15% tấm xuất khẩu
88
ix
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
11,8 triệu tấn, đến năm 2006 đạt tương ứng đã lên tới 7,3 triệu héc-ta; 47,7 tạ/héc-ta và
35,8 triệu tấn. Xu hướng giảm diện tích gieo trồng lúa cả nước liên tục trong các năm
tiếp theo với quy mô và tốc độ khác nhau, chủ yếu theo hướng giảm diện tích gieo cấy
lúa vụ 3 và vụ mùa năng suất thấp, chuyển một phần đất lúa năng suất thấp, đất khô
hạn chuyển sang trồng màu, đất trũng và đất ven biển chuyển sang nuôi trồng thủy sản,
chủ yếu ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đất lúa ven đô thị năng
suất thấp chuyển sang trồng rau, hoa, cây ăn quả điển hình là ở các tỉnh đồng bằng
sông Hồng (ĐBSH): các tỉnh Nam Trung Bộ chuyển dịch cơ cấu từ ba vụ lúa ngắn
ngày sang hai vụ lúa trung ngày cho tổng sản lượng ổn định và cao hơn sản xuất ba vụ
lúa ngắn ngày.
Xét tình hình giá lúa gạo thì luôn luôn trong tình trạng trôi nổi bấp bênh, giá cả
lúa gạo thường thấp ở khâu thu mua của người nông dân, thêm vào đó việc sản xuất
theo phong trào cũng là một yếu điểm lớn gây thiệt hại cho người nông dân. Ngành
nông nghiệp thực sự cần một cơ quan có thể dự báo giá lúa gạo cho người nông dân
hoặc định hướng cho việc phát triển cây trồng vật nuôi ở từng địa phương, vùng miền
của tổ quốc để giúp người nông dân thoát khỏi vòng luẩn quẩn, không định hướng
được việc nuôi trồng của mình. Tuy nhiên tại Việt Nam chưa thực sự có cơ quan nào
đứng ra làm việc đó, việc dự báo chỉ là một số đánh giá, nhận định chủ quan của một
số chuyên gia trong lĩnh vực xuất khẩu lúa gạo hoặc các chuyên gia nhận định về kinh
tế.
Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long là hai vựa lúa lớn nhất cả
nước, đặc biệt là đồng bằng Sông Cửu Long với diện tích trồng lúa lớn và tăng trong
một số năm gần đây là vựa lúa chuyên cung cấp lúa gạo xuất khẩu trong nước. Vì
chuyên canh nông nghiệp là chính nên người nông dân chủ yếu sống từ nguồn thu của
các loại cây nông nghiệp. Do đặc tính giá cả hàng nông sản chịu rủi ro cao, việc biến
động giá lúa gạo sẽ ảnh hưởng rất lớn tới người nông dân. Đặc biệt trong vài năm gần
đây giá lúa gạo biến động mạnh ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tới người dân trồng
lúa. Sự tác động khi giá cả lúa gạo biến động có cả tích cực và tiêu cực theo những
2
triển ngành nông nghiệp tại khu vự đồng bằng Sông Cửu Long
3
Đối với các công ty, doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo có cái nhìn chung về tình
hình sản xuất, tiêu thụ và giá cả lúa gạo khu vực đồng bằng Sông Cửu Long để có
chiến lược hợp lý trong sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả và tăng khả năng
cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp thu mua hoặc bán lẻ mặt hàng lúa gạo có cái nhìn
tổng quan về tình hình chung sự biến động giá lúa gạo, hiệu quả sản xuất nông nghiệp
tìm được định hướng phát triển ngành hàng bán lẻ của mình.
Đối với người nông dân các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long có cái nhìn đúng
đắn về tầm quan trọng của hoạt động sản xuất nông nghiệp, và nắm được sơ lược về
tình hình giá thị trường để đưa ra một kế hoạch sản xuất phù hợp, nâng cao hiệu quả
sản xuất và chất lượng lúa gạo.
1.3. Phạm vi nghiên cứu
Nguyên nhân ảnh hưởng đến cung cầu lúa gạo và một số nguyên nhân chính
gây ra biến động giá lúa gạo các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2005-2009.
Tìm hiểu diễn biến giá lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn
2005-2009
1.4. Cấu trúc của khóa luận:
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
Chương mở đầu giới thiệu tổng quát lý do chọn lựa đề tài, mục tiêu nghiên cứu,
phạm vi nghiên cứu và tổng quan về cấu trúc luận văn.
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN
Chương tổng quan sẽ giới thiệu đặc điểm tổng quát của nghành lúa gạo đồng
bằng Sông Cửu Long, bao gồm lịch sử hình thành cây lúa và đặc điểm sinh học của
nó. Một mặt sẽ khái quát sơ lược về tình hình giá cả biến động trong thời gian ta dự
báo gia lúa 2007-2009.
Long
Sản xuất lúa gạo đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế
nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Khoảng 80% trong tổng số 11 triệu hộ nông dân
có tham gia sản xuất lúa gạo và chủ yếu dựa vào phương thức canh tác thủ công truyền
thống.
Trong hơn ba thập kỷ qua nhờ có sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nên Việt
Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất lúa gạo, không những đáp ứng đủ
nhu cầu tiêu dùng trong nước mà hàng năm còn xuất khẩu được 3-4 triệu tấn gạo. Hiện
nay năng suất lúa bình quân của cả nước đã khá cao đạt khoảng 4,5 tấn/ha, song giữa
các vùng sinh thái khác nhau trong nước lại có sự chênh lệch đáng kể về năng suất lúa.
Lượng gạo tham gia vào các kênh lưu thông chủ yếu phụ thuộc vào hai nguồn cung
cấp chính đó là Đồng Bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng .
Các hoạt động chế biến và lưu thông lúa gạo tuy đã có những bước phát triển
đáng kể song vẫn đang còn nhiều trở ngại cần phải phấn đấu vượt qua. Ngành chế biến
xay xát lúa gạo chủ yếu là các cơ sở chế biến quy mô nhỏ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng
nội địa và chỉ có một số ít các nhà máy xay xát gạo qui mô lớn phục vụ cho thị trường
xuất khẩu. Nếu như trước kia cơ chế "kế hoạch hoá tập trung" là trở ngại lớn nhất cho
phát triển sản xuất lúa gạo, thì ngày nay trong cơ chế mới lại nổi lên những lực cản lớn
khác cho các bước phát triển tiếp theo, đó là nền kinh tế vẫn đang còn thiếu vắng một
môi trường phát triển thuận lợi về phương diện thể chế và cơ sở hạ tầng.
a. Các hệ thống canh tác lúa
Khí hậu là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hệ thống canh tác và năng suất lúa.
Việt Nam có ba vùng khí hậu cơ bản. Miền Bắc là khí hậu cận nhiệt đới có mùa đông
hanh khô và mùa hè ẩm ướt. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và miền
Đông của Đông Nam Bộ là điển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao và
mưa nhiều. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long và miền Tây của Đông Nam Bộ có hai
mùa khô và mùa mưa rõ rệt, nhưng nhiệt độ cao hơn miền Bắc. Vì vậy, nông dân ở
phía Nam có thể trồng ba vụ lúa trong một năm, trong khi đó miền Bắc chỉ có thể
tế 70% hạt giống sản xuất vẫn chưa được cung ứng theo tiêu chuẩn quốc gia. Do đó
muốn đảm bảo lượng giống lúa xác nhận phải tổ chức lại sản xuất theo hướng: “Xã hội
hóa sản xuất lúa giống” ở Nam Bộ. Vào trước những năm 2000, tỷ lệ sử dụng giống
xác nhận của người dân chỉ đạt dưới 10%, nhưng đến năm 2006 - 2007 đã tăng đến 25
- 27% ở các tỉnh Nam bộ. Và trong 2 năm gần đây, tình hình sử dụng giống lúa càng
được để ý nhiều hơn, ý thức của người dân đã có những bước chuyển đáng kể về sử
dụng giống xác nhận. Tuy vậy, so với nhiều nước tiên tiến trong khu vực, mức độ sử
dụng giống xác nhận ở các tỉnh Nam bộ vẫn còn thấp. Vì vậy bước đầu tiên là làm cho
người sản xuất phải thay đổi tư duy về giống cây trồng. Người dân có ý thức càng cao
về vai trò quan trọng của giống cây trồng thì càng có động lực để thúc đẩy công tác
sản xuất giống, kích cầu cung ứng giống và do đó hệ thống giống từ khâu nghiên cứu,
sản xuất và lưu thông giống mới có điều kiện phát triển. Với vai trò chủ đạo của Nhà
nước mà trực tiếp là Bộ NN-PTNT lâu nay đã đề ra nhiều chủ trương chính sách từ
khâu nghiên cứu giống, khảo nghiệm và công nhận giống cây trồng. Các khâu kiểm
tra, kiểm định giống từ cấp trung ương đến địa phương. Đặc biệt trong sản xuất giống,
Bộ NN-PTNT đã quy định các cấp nhân giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng và
cấp xác nhận. Bên cạnh đó để tạo điều kiện trong công tác lưu giữ bảo tồn, khai thác
nguồn gen và giống cây trồng địa phương; chọn tạo giống cây trồng mới. . Trong thực
tế, dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học, các dự án bảo tồn và phát triển đa dạng
sinh học cộng đồng ở ĐBSCL, nhiều nông dân đã được tập huấn kỹ năng lai tạo và
chọn lọc giống lúa.
c. Tình hình sản xuất giống
Hiện nay có “mạng lưới” sản xuất giống ở các địa phương, từ tổ giống đến
HTX. Các tổ chức này nhiều nơi còn mang tính tự phát, vì vậy cần củng cố, nâng chất
lượng hoạt động của các tổ nhân giống lúa cũ, thành lập thêm các tổ nhân giống lúa
mới, đặt dưới sự quản lý của HTX nông nghiệp. Hoặc các tổ nhân giống này đặt dưới
sự hướng dẫn của câu lạc bộ nhân giống, câu lạc bộ khuyến nông ở những nơi chưa có
8
thuật... Các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo, giống lúa phải vào cuộc ngay từ những
9
bước ban đầu: Quy hoạch cơ cấu giống, hỗ trợ giống cho nông dân, đầu tư kỹ thuật sản
xuất lúa giống, dự án cụ thể dưới sự giám sát của các tổ chức nhà nước và được hỗ trợ
về mặt kỹ thuật từ phía các nhà khoa học. Để liên kết “giữa các nhà” thật bền vững
phải dựa vào những cơ chế liên kết theo kinh tế thị trường và phải có sự hỗ trợ, giám
sát của Nhà nước.
So với Thái Lan trong sản xuất lúa gạo, Việt Nam có ưu thế về năng suất, sản
lượng, giá thành nhưng lại yếu thế về chất lượng lúa gạo. Nếu vấn đề “xã hội hóa sản
xuất và sử dụng giống xác nhận” thành công thì trong cuộc cạnh tranh trên thị trường
gạo quốc tế, Việt Nam sẽ có những bước đột phá ở thị trường gạo chất lượng cao.
2.1.2. Thu hoạch
Tình hình thu hoạch của đồng bằng Sông Cửu Long cũng là một vấn đề cần
được quan tâm. Do chịu ảnh hưởng của nước thủy triều nên thu hoạch thường gặp khó
khăn đặc biệt trong hai vụ hè thu và vụ mùa. Đây là thời điểm mà mùa mưa hoặc mùa
nước lũ nên nhiều khi nông dân bị mất trắng do nước tràn đầy đồng, thu hoạch không
kịp là mất mùa hoặc năng suất kém. Thêm vào đó do tình hình kho dự trữ lúa gạo
không tốt hoặc xuống cấp hay kho dự trữ ko có nên lúa vào các vụ này thường bị hư
hại nhiều, ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và gây thiệt hại nhiều về
kinh tế. Thời vụ thu hoạch chính là vụ Lúa đông xuân do vụ này điều kiện thiên nhiên
thuận lợi cho cả sản xuất nên thường thu hoạch vụ này có năng suất cao hơn.
2.2. Tình hình giá lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long thời gian gần đây .
2.2.1. Tình hình giá lúa gạo
Tình hình giá lúa gạo trong những năm gần đây ở khu vực đồng bằng sông Cửu
Long có rất nhiều biến động . Lúa gạo là một thị trường rất nhạy cảm và cũng hay biến
động, và tình hình lúa gạo trong những năm gần đây cũng phụ thuộc rất nhiều vào tình
hình biến động của giá lúa gạo trên thị trường thế giới và cũng chịu nhiều ảnh hưởng
của nhiều nhân tố khác như: dịch bệnh, rầy nâu, giá các yếu tố đầu vào tăng như phân
hết sức phức tạp từ người bán buôn lẻ đến thương lái, doanh nghiệp cung ứng gạo xuất
khẩu cũng gặp khó khăn.
Xuất khẩu gạo đã đang và sẽ ngày càng được nhà nước và các doanh nghiệp
quan tâm. Gạo nước ta đang được thế giới biết đến ngày càng nhiều thông qua việc
chúng ta ngày càng xuất khẩu ra nhiều nước và được thế giới chấp nhận. Đã có rất
nhiều nước đồng ý nhập khẩu gạo của nước ta và với khối lượng ngày càng tăng. Sản
lượng gạo xuất khẩu đã có sợ biến đổi qua các năm. Nếu như năm 2006 chúng ta xuất
khẩu được 5,2 triệu tấn thì đến năm 2007 sản lượng giảm xuống chỉ còn 4,5 triệu tấn,
đến năm 2008 sản lượng xuất khẩu của chúng ta sẽ là 4,68 triệu tấn.
11
Nếu như đầu tháng giêng năm 2008, gạo 5% tấm giá chỉ 355 USD/tấn thì tới
ngày 4/2, mức giá xuất khẩu của loại gạo này đã lên tới 400 USD/tấn, tăng 95-100
USD/tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, đến cuối tháng 4 khi cuộc khủng
hoảng lương thực thế giới lên tới đỉnh cao thì chính phủ đã ban hành lệnh cấm ký thêm
các hợp đồng mới về xuất khẩu gạo cho đến cuối tháng 6 để đảm bảo đủ gạo cho nhu
cầu trong nước. So với 2 tuần trước đó, giá gạo xuất khẩu của nước ta đã tăng thêm
bình quân khoảng 200 USD/tấn. Nguồn cung gạo cho xuất khẩu ở hầu hết các nước
châu Á xuất khẩu gạo đang khan hiếm. Tới tháng 10/2008, giá lúa có xu hướng giảm
nên theo đó giá gạo xuất khẩu cũng có xu hướng giảm theo.
Giá lúa gạo tiếp tục giảm từ tháng 10/2008 đến 12/2008, nhưng đến đầu năm
2009 có xu hướng tăng nhẹ và tiếp tục tăng lên do ảnh hưởng của dịp tết làm giá lúa
gạo có xu hướng tăng, đến tháng 4/2009 gạo lại có xu hướng giảm nhẹ do qua giai
đoạn tết và việc thu hoạch vụ lúa đông xuân có năng suất cao cũng làm ảnh hưởng giá
gạo, có xu hướng giảm nhẹ. Thêm vào đó, giá lúa gạo xu hướng giảm cũng một phần
là do người dân bị hàng xáo thu mua với giá thấp làm giá gạo giảm xuống. Ngoài ra,
giá gạo trong nước giảm, còn do tác động của thị trường gạo thế giới, dưới tác động
của khủng hoảng tài chính kinh tế, các nhà nhập khẩu chỉ mua đủ nhu cầu phân phối
mà ngại mua dự trữ như mọi năm.
nghiệp chuyển sang mua gạo dự trữ và điều này cũng ảnh hưởng đến giá lúa gạo trên
thị trường vì các doanh nghiệp đã hạn chế thu mua hơn trước.
Sự đầu cơ lúa gạo trong nhũng tháng 4 và 5 vừa qua. Đặc biệt là vào những
ngày cuối tháng 4/2008 giá gạo tăng bột biến. Từ đại lý cho đến điểm bán gạo nhỏ lẻ
đều đóng cửa, treo thông báo hết gạo. Tuy nhiên, sau khi thông báo hết gạo, các tiểu
thương đã bán gạo trở lại nhưng giá cao ngất ngưởng.
Rõ ràng, tốc độ tăng giá lúa gạo đang song hành cùng với tốc độ tăng giá vật tư
đầu vào, chưa kể đến các yếu tố khác làm tăng chi phí sản xuất như thiên tai, lũ lụt;
tiếp cận thị trường qua nhiều khâu trung gian...Ngoài ra, giá xăng dầu cũng ảnh hưởng
đến qua chi phí vận chuyển vật tư, các máy móc vận hành trong sản xuất; chất lượng
gao.
Yếu tố chính sách của chính phủ cũng tác không nhỏ đến giá lúa gạo. Các quy
định, chính sách về đất đai, thủy lợi, tín dụng…
Cung và cầu về lúa gạo cũng như giá lúa gạo của thế giới cũng ảnh hưởng một
phần nào đó đến giá lúa gạo của Việt nam.
13
2.2.3 Vấn đề phát triển cây nông nghiệp
Vấn đề phát triển cây nông nghiệp đang là một vấn đề được chính phủ các nước
quan tâm do vấn đề về an ninh lương thực toàn cầu đang là một vấn đề bức thiết. Hiện
nay, với tốc độ phát triển và bùng nổ của các nghành công nghiệp và dịch vụ, ngành
nông nghiệp đang bị co cụm lại và vấn đề an ninh lương thực đang là một vấn đề bức
thiết được đặt ra. Hiện nay, ở nước ta chính phủ cũng rất quan tâm đến vấn đề phát
triển ngành nông nghiệp đất nước theo chiều hướng hiện đại, tăng cường nghiên cứu
các giống lúa mới loại ngon và cho năng suất cao để đảm bảo việc giảm diện tích sẽ
không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng lương thực hàng năm phục vụ nhu cầu tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu.
Nhằm nâng chất lượng lúa gạo phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, tại Viện lúa
dân tiêu thụ lúa hàng hóa và tăng giá trị của hạt lúa. Một mặt đảm bảo tiêu dùng trong
nước, xuất khẩu và đảm bảo công tác an ninh lương thực cho đất nước khi dân số ngày
càng tăng.
Bảng 2.1: Diện tích gieo trồng lúa qua các năm( từ 1990 – 2007 )
(ĐVT: Nghìn ha)
Năm
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
Tổng số
6042.8
6302.8
6475.3
6559.4
2381.4
1586.1
2631.1
2421.3
1742.4
2601.9
2541.1
1984.2
2478.5
2682.7
1885.2
2531.8
2783.3
2140.6
2438.8
2888.9
2341.2
2423.5
3013.2
2292.8
2360.3
3056.9
2210.8
2225
3033
2293.7
2177.6
3022.9
2320
2109.3
khẩu hàng năm của cả nước, giúp Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu
trên thế giới, chỉ xếp sau Thái Lan. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, biến động về
an ninh lương thực trên thế giới và trong nước, đã buộc chúng ta phải có chiến lược
phát triển nghề trồng lúa một cách hợp lý và bền vững. Mặt khác, theo đánh giá của
nhiều chuyên gia, sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở khu vực này còn chịu tác động bởi các
yếu tố như: Đặc điểm chung của vùng ĐBSCL là phổ biến việc trồng lúa nước 3
vụ/năm; lại chịu ảnh hưởng rất lớn về thời tiết, mưa lũ, chế độ bán nhật triều biển
Đông, địa hình đất đai không đồng đều, sự xâm nhập mặn... ảnh hưởng không nhỏ đến
quá trình trồng lúa và gây thiệt hại nặng cho nông dân. Diện tích trồng lúa hiện nay đã
bị thu hẹp gần 200 nghìn ha, hoặc thời vụ phải xuống giống sớm hoặc chậm hơn so với
dự định. Bên cạnh đó, việc bảo quản và tiêu thụ lúa gạo tại ĐBSCL cũng đã nảy sinh
nhiều vấn đề như giá thành lúa gạo trên thị trường tăng, nhưng nông dân lại không có
lãi, do phải bán qua nhiều trung gian, bị doanh nghiệp trung gian ép giá, hình thức liên
kết tiêu thụ lúa trong nông dân còn yếu, việc tồn trữ lúa trong dân làm tăng chi phí...
Điều đó là vấn đề thực sự khó khăn không chỉ ảnh hưởng đến giá cả do sản lượng lúa
bị dồn nhiều cùng lúc, giá lúa giảm, mà còn làm giảm chất lượng lúa, ảnh hưởng đến
thu nhập của nông dân, và ngay cả đối với doanh nghiệp.
16