MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục chữ viết tắt
vii
Danh mục bảng
viii
Danh mục hình
x
MỞ ĐẦU
1
1
1.1.1 Tình hình áp dụng máy cấy trong sản xuất lúa ở Ngoài nước
4
1.1.2 Tình hình áp dụng máy cấy trong sản xuất lúa ở trong nước.
9
1.2 Kết quả nghiên cứu về sản xuất mạ khay trong và ngoài nước.
13
1.2.1 Các phương pháp gieo, cấy lúa ở Việt Nam
13
1.2.2 Kết quả nghiên cứu về sản xuất mạ khay trên thế giới.
15
1.2.3 Kết quả nghiên cứu về sản xuất mạ khay ở Việt Nam
18
1.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến năng suất lúa.
20
1.3.1 Kết quả nghiên cứu về mật độ cấy lúa trên thế giới.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
30
2.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp
30
2.3.2 Bố trí thí nghiệm.
30
2.3.3 Chăm sóc thí nghiệm
34
2.3.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
35
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu.
37
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
39
3.1 Đánh giá thực trạng áp dụng cơ giới hóa các khâu sản xuất lúa trong
3.2.3 Ảnh hưởng của bổ sung đạm, lân kết hợp đến sinh trưởng của mạ khay.
55
3.2.4 Ảnh hưởng của việc bổ sung dinh dưỡng tro bếp, lân và kali vào
bùn mương đến sinh trưởng của mạ khay.
64
3.3 Ảnh hưởng số dảnh cấy/ khóm của phương thức cấy máy đến sinh
trưởng và năng suất lúa xuân
69
3.3.1 Ảnh hưởng số dảnh cấy/ khóm của phương thức cấy máy đến chỉ
tiêu sinh trưởng
69
3.3.2 Ảnh hưởng số dảnh cấy/ khóm của phương thức cấy máy đến chỉ
tiêu sinh lý
72
3.3.3 Ảnh hưởng số dảnh cấy/ khóm của phương thức cấy máy đến các
chỉ tiêu năng suất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
78
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CS
Cộng sự
CT
Công thức
KLTLCK
Khối lượng tích lũy chất khô
MC
Máy cấy
NN & PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NSLT
Năng suất lý thuyết
NSTT
Năng suất thực thu
Ngày sau gieo
TT
Thứ tự
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Tốc độ sử dụng máy cấy lúa ở Nhật Bản
5
1.2
Mức độ cơ giới hóa khâu cấy lúa ở Nhật Bản
5
3.2
Điều kiện thời tiết khí hậu thí nghiệm
40
3.3
Diện tích một số loại cây trồng chính
42
3.4
Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Thường Tín
43
3.5
Hiện trạng áp dụng cơ giới hóa khâu sản xuất lúa huyện Thường Tín
44
3.6
Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến chiều cao cây mạ
47
3.12b Ảnh hưởng tương tác của đạm và lân đến chiều cao mạ khay
57
3.13a Ảnh hưởng riêng rẽ của đạm, lân đến số lượng rễ mạ khay
58
3.13b Ảnh hưởng tương tác của đạm và lân đến số lượng rễ mạ
59
3.14a Ảnh hưởng riêng rẽ của đạm, lân đến chiều dài rễ mạ khay
60
3.14b Ảnh hưởng tương tác của đạm và lân đến chiều dài rễ
61
3.15a Ảnh hưởng riêng rẽ của đạm đến TGHT lá mạ khay
63
3.15b Ảnh hưởng tương tác của đạm và lân đến TGHT lá mạ khay
64
3.16 Ảnh hưởng của tro bếp, lân, kali đến chiều cao cây
73
3.21b Ảnh hưởng của số dảnh cấy/ khóm đến chỉ số diện tích lá
73
3.22a Ảnh hưởng của nơi làm thí nghiệm đến khối lượng chất khô
75
3.22b Ảnh hưởng của số dảnh cấy/ khóm đến khối lượng chất khô
77
3.23a Ảnh hưởng của nơi làm thí nghiệm đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất
79
3.23b Ảnh hưởng của số dảnh cấy/ khóm đến các yếu tốcấu thành năng
suất và năng suất
3.24 Hoạch toán hiệu quả kinh tế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
80
85
Page ix
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
10
Page x
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề:
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực chính của nước
ta và nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước Châu Á, nó có vai trò rất quan
trọng trong sản xuất nông nghiệp, khoảng 40% dân số trên thế giới sống bằng lúa
gạo, sử dụng lúa gạo làm nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/2
khẩu phần thức ăn hàng ngày. Lúa gạo có ảnh hưởng tới ít nhất 65% dân số thế giới
tập trung tại các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, do vậy chúng có vai trò
quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội.
So với nghề trồng lúa ở các nước châu Á, nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch
sử lâu đời nhất. Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam... cây
lúa đã có mặt từ 3000 - 2000 năm trước công nguyên, cùng với sự phát triển của
khoa học kỹ thuật cũng như những chính sách đổi mới trong quản lý nông nghiệp,
nghề trồng lúa nước ở nước ta cũng có nhiều thay đổi. Từ một nước thiếu lương
thực trầm trọng trong những năm chiến tranh, đến nay nền nông nghiệp của nước ta
đã không chỉ sản xuất đủ lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn
xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới, đưa Việt Nam trở thành nước xuất
khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới sau Thái Lan.
Tuy nhiên, do dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hoá phát triển mạnh, thêm
vào đó là sự biến đổi khí hậu, diện tích đất bị sa mạc hóa, đất nhiễm mặn tăng…
làm diện tích đất trồng lúa ngày càng thu hẹp nên vấn đề lương thực vẫn là yêu cầu
cấp bách phải quan tâm trong những năm trước mắt và lâu dài. Để đảm bảo nhu cầu
lương thực trong nước và xuất khẩu cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật như:
giúp mạ sinh trưởng tốt, góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất mạ khay trong khâu
cơ giới hóa nghề trồng lúa. Bên cạnh đó việc xác định mật độ (số dảnh) cấy lúa
bằng máy hợp lý cũng là một biện pháp kỹ thuật quan trọng; mật độ cấy hợp lý sẽ
tạo nên cấu trúc quần thể tốt, góp phần nâng cao hiệu suất quang hợp, khai thác tối
ưu lượng bức xạ mặt trời và dinh dưỡng trong đất nhằm phát huy tối đa tiềm năng
sinh trưởng quần thể ruộng lúa, nâng cao năng suất trên đơn vị diện tích.
Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
bổ sung dinh dưỡng tới sinh trưởng mạ khay và mật độ cấy lúa bằng máy đến
sinh trưởng, năng suất lúa xuân tại Thường Tín, Hà Nội” .
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Xác định loại phân, lượng phân bón bổ sung phù hợp cho mạ khay và số dảnh/
khóm cấy bằng máy phù hợp cho sảnxuất lúa xuân tại huyện Thường Tín, góp phần
hoàn thiện qui trình áp dụng máy cấy trong sản xuất lúa.
2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được thực trạng áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa tại huyện
Thường Tín.
- Đánh giá ảnh hưởng bổ sung phân bón đến sinh trưởng của mạ khay.
-Đánh giá ảnh hưởng số dảnh/ khóm của phương thức sử dụng mạ khay cấy
máy đến sinh trưởng, năng suất lúa xuân tại huyện Thường Tín.
2.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho việc nghiên cứu tiếp theo về công nghệ sản xuất mạ khay và mật độ cấy
lúa bằng máy ở nước ta.
* Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để phổ biến quy
Nhật ra đời. Nguyên tắc của máy cấy mạ thảm là gắp xén thảm mạ ra từng miếng
nhỏ rồi rúi xuống bùn ruộng. Do mật độ gieo mống được đều trên khay, cây mạ
mọc thẳng đứng, cứng cây, đanh rảnh nên chất lượng cấy đều, mạ không bị tổn
thương và năng suất máy cao. Năm 1971 Nhật Bản sản xuất hàng loạt máy cấy cung
cấp cho thị trường (có 2 loại là máy cấy người lái lội ruộng và máy cấy người ngồi
lái). Năm 1972 đã có 11 loại máy cấy được thông qua Sở nghiên cứu máy nông
nghiệp giám định công nhận.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Trong quá trình phát triển cơ giới hoá đồng bộ sản xuất lúa ở Nhật Bản.
khâu cấy lúa là khâu phát triển sau cùng nhưng lại là khâu có tốc độ phát triển
nhanh nhất.
Bảng 1.1: Tốc độ sử dụng máy cấy lúa ở Nhật Bản
Năm
Số lượng máy cấy sử
dụng (chiếc)
Năm
Số lượng máy cấy sử
dụng (chiếc)
1970
33.000
435.000
1980
1.983.000
1975
740.000
1981
1.865.000
(Theo: Lê Sỹ Hùng, Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước, 2005)
Máy cấy lúa mạ thảm có nhiều loại: 2 hàng, 4 hàng người lái lội ruộng; máy
4 hàng , 6 hàng, 8 hàng người ngồi lái. Xu hướng máy cấy 2 hàng ngày càng giảm
và máy cấy 6, 8 hàng ngày càng tăng; máy cấy mạ non và máy cấy mạ trung. Máy
cấy mạ thảm bắt đầu nghiên cứu từ năm 1960, sau 8 năm nghiên cứu đến năm 1968
chiếc máy đầu tiên ra đời, sau 18 năm chuyển giao ứng dụng đến năm 1986 đã được
nông dân chấp nhận rộng rãi, với hơn một triệu chiếc cơ giới hoá làm mạ và cấy
máy đạt 80% tổng diện tích lúa. Sau đó số lượng máy cấy tiếp tục tăng để hoàn
thành cơ giới hóa làm mạ non và cấy lúa vào năm 1990(Lê Sỹ Hùng, 2005)
Bảng 1.2: Mức độ cơ giới hóa khâu cấy lúa ở Nhật Bản
Năm
Tỷ lệ cấy lúa bằng máy (%)
Chi phí cấy lúa (giờ/ha)
1970
Việc cơ giới hoá sản xuất mạ thảm và cấy lúa ở Nhật Bản luôn đi song song,
hiện nay ở Nhật Bản có khoảng 16 hãng chế tạo máy cấy, trong đó có những hãng
lớn như ISeiki, Kubuta, Yamara, Honda, Misubishi với gần 60 kiểu loại khác nhau.
Sản lượng máy cấy hàng năm hiện nay gần 100 nghìn chiếc, (Lê Sỹ Hùng, 2005).
Bảng 1.3: Sản lượng máy cấy qua các năm của Nhật Bản
Năm
Sản lượng
máy cấy
1990
1991
1992
1993
1994
91.000
87.000
81.000
85.000
86.000
(Theo: Lê Sỹ Hùng, Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước, 2005)
Số lượng máy cấy
121
11.061
42.138
138.405
271.051
Diện tích cấy máy
218
66.334
270.000
1.041.000
922.000
Tỷ lệ DT cấy máy (%)
0,2
5,4
Sản suất tại
cấy được sử
Nhập khẩu
Đài Loan
Tổng
dụng
1982
1472
4100
5572
45605
1983
25
847
4872
61410
1987
567
2233
2800
64210
1988
382
1894
2276
66486
1989
1040
1650
2290
79048
1993
1345
437
1782
80830
(Theo: Lê Sỹ Hùng, Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước, 2005)
Tại Trung Quốc, lúa được coi là cây lương thực chính. Năm 2004 tổng diện
tích trồng lúa của Trung Quốc là 29,4 triệu ha (đứng hàng thứ 2 thế giới) và sản
lượng lúa là hơn 200 triệu tấn (đứng đầu thế giới) được trồng hầu hết ở các tỉnh từ
phía Bắc xuống phía Nam. Đến nay Trung Quốc đã cơ giới hoá được hơn 1 triệu
ha, chiếm hơn 3% tổng diện tích trồng lúa và có trên 900.000 máy cấy lúa (Lê Sỹ
Hùng, 2005).
Các tỉnh phía bắc chỉ cấy một vụ lúa một năm do rét đậm về mùa đông, ở đây
ruộng rộng, người ít, bình quân 1,5- 4,5 ha/ hộ nên rất thuận tiện cho việc cơ giới hoá cấy
lúa. Tuy các tỉnh phía Bắc chỉ chiếm 10% tổng diện tích trồng lúa của Trung Quốc
nhưng tỉ lệ cơ giới hoá cấy lúa lại rất cao như tỉnh Cát Lâm tỉ lệ cấy máy là: 32,8% , tỉnh
Nội Mông tỉ lệ cấy máy là 34,8%. Các tỉnh ở phía Nam là vựa lúa chính của Trung Quốc
có thể trồng lúa được 2 vụ do mùa đông ít rét hơn nhưng ruộng đất ở đây ít và manh mún
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Công cụ cơ giớii nông nghiệp
nghi biên soạn sách, phổ biến rộng
ng rãi cho thanh niên và
nông dân miền Bắc họcc tập,
t làm theo(Nguyễn Đức Bản, 2014).
Hình 1.4: Chủ tịch
ch Hồ
H Chí Minh sử dụng máy cấy lúa (tháng 7/1960)
Viện Cơ điệnn nông nghiệp
nghi và công nghệ sau thu hoạch
ch là cơ quan đầu tiên
nghiên cứu các loạii công cụ
c cấy và máy cấy mạ dược từ đầu những
ng nă
năm 1970. Máy
cấy có động cơ cấy mạ dược
dư Đông Fong- 2S của Trung Quốc, đượ
ợc thử nghiệm ở
nhiều nơi ở miền Bắcc nhưng
như cũng không phát triển được do năng suấất cấy thấp, chất
lượng cấy chưa đảm bảo,
o, m
mạ tổn thương và bỏ nhiều khóm cấy.
Tiếpp thu công nghệ
ngh mới của Nhật Bản về máy cấy, Việnn đã
đ khảo nghiệm
máy cấy mạ khay 4 hàng người
ng
lái lội ruộng YP- 40 củaa hãng YANMAR được
của Nhật Bản ở Việt Nam. Phối hợp với Bộ nông nghiệp & PTNT, Viện Cơ điện
nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch, ba Công ty sản xuất máy nông nghiệp của
Nhật Bản KUBOTA, MEIWA, MTTSHUBIHI, xây dựng mô hình trình diễn cơ giới
hoá sản xuất lúa từ năm 1991 - 1993 tại Mỹ Văn- Hải Dương. áp dụng cơ giới hoá
100% các khâu từ làm đất, thu hoạch đến làm sạch trên cánh đồng với quy mô 04 ha,
trong đó có một hệ thống thiết bị đồng bộ sản xuất mạ khay và chống rét cho mạ
khay, máy cấy lúa. Hầu hết các máy móc thiết bị vật tư, kỹ thuật phục vụ cho mô
hình này như phân bón, giống, thuốc bảo vệ thực vật được đưa từ Nhật Bản sang. Kết
quả 3 năm thí nghiệm trình diễn cho thấy: Hệ thống máy móc và thiết bị phát huy
được hiệu quả, chất lượng làm việc tốt, năng suất máy cao, năng suất lúa các vụ đều
tăng so với các khu ruộng của dân xung quanh từ 30- 40%. Nhưng sau đó hệ thống
thiết bị này không phát triển được do giá thành thiết bị máy của Nhật Bản quá đắt so
với thu nhập của người nông dân, quy trình còn tương đối phức tạp so với trình độ và
quy hoạch đồng ruộng ở nông thôn nước ta, (Lê Sỹ Hùng, 2005).
Năm 1998 Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã tiến
hành nghiên cứu hệ thống thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất mạ thảm và cơ giới
hoá cấy lúa thích hợp với điều kiện nước ta.
Trên cơ sở máy cấy mạ thảm 6 hàng PL- 620 của Nhật Bản, Viện đã phục
hồi và cải tiến để thu hẹp khoảng cách hàng cấy từ 30 cm xuống 25 cm và tăng mật
độ cấy lên 40 khóm/m2, mô hình được tiến hành thử nghiệm tại xã Đồng Nguyên,
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Kết quả cho thấy: năng suất lúa cấy máy đều tăng
hơn cấy mạ dược từ 10- 18% (Lê Sỹ Hùng, 2005).
Ở Việt Nam máy cấy mới được áp dụng nhiều trong những năm gần đây. Mô
hình mạ khay, máy cấy mới được đưa về ứng dụng trên địa bàn nước ta một thời
gian ngắn đã cho hiệu quả rõ rệt so với phương pháp cấy tay truyền thống. Hiện
nay, tại các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, công nghệ sản xuất mạ khay, sử dụng
máy cấy đã áp dụng như: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Hải
Phòng, Thanh Hóa.Theo số liệu của tổng cục thống kê, năm 2013 tổng diện tích cấy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
tiếp tục có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để nông dân có thể tiếp cận vay vốn. Đề
nghị Sở NN&PTNT, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội hỗ trợ chương trình gieo mạ
khay, cấy lúa bằng máy, đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp trong những năm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
tiếp theo.Năm 2012, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đã xây dựng mô hình trình diễn
mạ khay, máy cấy với diện tích 20 ha tại 4 HTX ở 4 huyện của Hà Nội với loại máy
Kubota 1,5 mã lực, cấy 4 hàng. Năng suất cấy lúa đạt 0,8 - 1 ha/máy/ngày, tương
đương với 25 - 30 lao động. Ngoài ra, phương pháp này giúp tăng năng suất 10% so
với phương pháp truyền thống. Từ kết quả của mùa vụ năm 2011, năm 2012. Vụ
xuân 2013 Trung tâm Khuyến nông Hà Nội tiếp tục hỗ trợ mở rộng thêm 70 ha tại xã
Tân Ước (huyện Thanh Oai), xã Hồng Phong (huyện Chương Mỹ), nâng diện tích lúa
được cấy bằng máy tăng lên 1.500 ha (Hải Hà và Việt Hà, 2013)
Tại thủ đô Hà Nội, cơ giới hoá nông nghiệp đang diễn ra khá sôi động trên
tất cả các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản. Theo số liệu của Sở Nông nghiệp
Thành phố Hà Nội, năm 2013, thành phố đã đầu tư 460 máy làm đất 15 mã lực và
195 máy làm đất 24 mã lực, nâng tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất từ 69,22% lên
85,1%; 78 máy gặt đập liên hợp, đưa tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu thu hoạch lúa từ
7,8% lên 10,1%; 167 máy cấy, nâng tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu cấy lúa từ 0,04%
lên 1,64%… Thành phố phấn đấu đến năm 2016, mục tiêu đưa tỷ lệ cơ giới hóa
trong khâu làm đất của Hà Nội đạt 90%, gieo cấy đạt 20%, gặt đập 30%, phun thuốc
trừ sâu đạt 40%,... với nguồn kinh phí hơn 1.100 tỷ đồng (Tuấn Hưng, 2015).
Thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn,
ngành nông nghiệp đặt ra mục tiêu: Đến năm 2020, mức độ cơ giới hóa khâu làm
đất bình quân cả nước đạt trên 90%, riêng ở đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL đạt
100%; khâu gieo cấy 70%; chăm sóc 70% - 80%; thu hoạch lúa bằng máy đạt 70%,
riêng ĐBSCL 90%. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các loại
hạt bị chết.
- Gieo hàng: Là cách đặt hạt giống thành hàng dọc (hàng sông) với khoảng
cách nhất định, nên kiểm soát được lượng giống gieo. Thí nghiệm của Viện lúa
Đồng bằng sông Cửu Long so sánh giữa lúa gieo hàng và lúa sạ lan đã khẳng định
sự ưu việt hơn hẳn của lúa gieo hàng, mật độ hạt gieo phân bố đều, không khí
thông thoáng, tiếp thu ánh sáng tốt làm cho cây lúa sinh trưởng tốt nên năng suất
lúa tăng (15-20%) tiết kiệm giống (40%), diệt cỏ dễ hơn, do đó hình thức này đang
được ứng dụng rộng rãi ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và các tỉnh miền
Trung, (Lê Sỹ Hùng, 2005).
- Gieo hốc: Là hình thức gieo mà cây lúa mọc thành khóm như lúa cấy, mật
độ hạt phân bốđều, không khí thông thoáng, tiếp thu ánh sáng tốt,tạo điều kiện cho
cây lúa đẻ nhánh. Cây lúa là cây ưa ánh sáng, cường độ ánhsáng lớn sẽ làm tăng
năng suất lúa, nhất là vào giai đoạn từ 30 - 45 ngày cuối của thời kỳsinh trưởng sinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
thực. Nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy trong tháng cuối trước lúc thu hoạch
nếuđược 200 giờ chiếu sáng, trung bình 7 giờ trong ngày thì lúa sẽ cho năng suất
cao. Khigieo hốc khoảng cách hốc và khoảng cách hàng vừa là chỗ để di chuyển,
vừa là nơi đặt công cụ làm cỏ, sục bùn có hiệu quả cho cây lúa phát triển. Hơn nữa
ở những vùng kết hợp nuôi cá, tôm tạo điều kiện cho cá, tôm bơi qua các hàng lúa
tìm thức ăn dễ dàng, đồng thời tác động tốt cho cây lúa sinh trưởng, phát triển, đảm
bảo hiệu quả kinh tế. Hiện nay hình thức này đang được sử dụng ở một số nơi thuộc
khu vực đồng bằng Sông Cửu long.
- Cấy bằng mạ dược: Là phương pháp cấy lúa truyền thống, chi phí sản suất
cao vì phải tốn công nhổ mạ và khó cơ giới hoá.
- Cấy bằng mạ ném: Mạ được gieo vào trong các khay nhựa có các hốc bầu,
khi mạ được 3- 4 lá thì ném ra ruộng cấy. Ưu điểm chính của mạ ném là: Bầu mạ
nhánh nhiều.
Nhật Bản rất chú trọng đến nghiên cứu quy trình công nghệ để sản xuất mạ
tốt. Vì mạ là nguyên nhân chính quyết định chất lượng cấy. Họ đi sâu nghiên cứu
các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý của cây mạ trong khay; các yếu tố ảnh hưởng đến
quá trình sinh trưởng của mạ, tìm ra các giá trị tối ưu của từng yếu tố như tính chất
cơ học, độ pH, độ mùn của đất, giống lúa, khả năng kháng mầm bệnh, và các biện
pháp phòng trừ mầm bệnh, nhiệt độ, độ ẩm không khí, tuổi mạ, mật độ gieo… ở
từng thời kỳ. Từ đó nghiên cứu sản xuất các hệ thống thiết bị sản xuất mạ đáp ứng
được các yêu cầu thích hợp của chúng. Một dây chuyền máy đồng bộ cơ giới hoá
sản xuất mạ tự động từ xử lý hạt giống, nghiền đất, rải đất, gieo mộng, tưới nước, hệ
thống nhà ẩm, khu ruộng nuôi mạ nhanh chóng được các nhà nghiên cứu cho ra đời;
dây chuyền sản xuất mạ 8R 550 do hãng Kubuta sản xuất với 6- 7 công nhân phục
vụ, một giờ có thể sản xuất được 1000 khay mạ, đủ cấy cho 4- 5 ha ruộng . Cũng từ
đây Nhật Bản đã xây dựng các trung tâm sản xuất mạ mang tính chất công nghiệp
chất lượng cao, (Lê Sỹ Hùng, 2005).
Trong điều kiện nông học của Hàn Quốc, sau khi khảo nghiệm và đánh giá
mức độ phù hợp cơ giới hoá làm mạ khay và cấy lúa của Nhật Bản ở đầu những
năm 1970. Các Công ty máy cấy Hàn Quốc nhanh chóng chế tạo dây chuyền tự
động hoá sản xuất mạ và máy cấy phù hợp với điều kiện của của mình và phổ biến
nhanh trong sản xuất. Đến nay, Hàn Quốc cũng đã áp dụng công nghệ cao trong sản
xuất mạ khay máy cấy nhằm giảm chi phí, tăng năng suất lao động, tăng năng suất,
hiệu quả trồng lúa.
Đài Loan và Hàn Quốc là hai nước đi đầu áp dụng công nghệ mạ khay của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
Nhật Bản. Việc sản xuất mạ khay ở Đài Loan chủ yếu từ các Trung tâm sản xuất mạ
khay, trong đó hầu hết các công việc được làm bằng máy và đồng bộ từ khâu ủ mạ,
23
3.486
4.233
0,4
1975
45
8.237
9.885
2,0
1976
83
17.162
20.115
4,0
1977
549
12.430
113.406
25,0
1981
673
149.000
169.546
37,0
1982
842
234.600
215.500
47,0
1983
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Tỷ lệ (%)
Page 17
1986
1.145
315.432
311.524
68,0
Nhờ có các Trung tâm sản xuất mạ, các chủ trang trại cỡ lớn không còn bận
tâm đến khâu sản xuất mạ, lo lắng về thời tiết giá rét. Còn với các hộ nông dân cỡ
nhỏ thì có thêm thời gian để làm các công việc phi nông nghiệp, tăng thêm thu
nhập. Một số nông dân có máy cấy thì mua mạ của các Trung tâm để làm dịch vụ
cung cấp mạ và cấy cho các hộ khác nhờ đó nâng cao được hiệu quả sử dụng của
máy cấy. Ở miền Nam Đài Loan, khí hậu ấm áp thời vụ cấy sớm hơn miền Bắc từ
20- 30 ngày, tiền công lao động rẻ, đồng thời giữa hai miền Nam, Bắc lại có đường
cao tốc hiện đại nên các Trung tâm sản xuất mạ khay cỡ lớn ở miền Nam sau khi
hoàn thành việc sản xuất mạ cho địa phương, có thể làm tiếp đợt mạ nữa để cung
cấp cho miền Bắc, họ chở cả máy cấy và mạ để cấy thuê cho các trang trại miền
Bắc. Do sản xuất mạ kiểu công nghiệp với quy mô lớn có lợi nhuận khá cao nên
giữa các Trung tâm sản xuất mạ có sự canh tranh quyết liệt. Các máy móc thiết bị
và quy trình công nghệ sản xuất mạ luôn được cải tiến và hoàn thiện để tự động hoá,