Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư theo mùa vụ của lao động nông thôn huyện trực ninh, tỉnh nam định - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục viết tắt

vi

Danh mục bảng

vii

Danh mục sơ đồ

viii

Danh mục đồ thị

ix

PHẦN I MỞ ĐẦU


Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

3

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

4

2.1

4

Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm, phân loại di cư

4

2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư

10


3.1

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

26

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

26

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

31

3.2

36

Phương pháp nghiên cứu

iv


3.2.1 Khung phân tích của đề tài

36

3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu

38


4.1.1 Tình hình di cư mùa vụ của lao động nông thôn huyện Trực Ninh

43

4.1.2 Thực trạng lao động nông thôn di cư

44

4.2

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư của người lao động nông thôn
trên địa bàn huyện Trực Ninh

58

4.2.1 Tính chọn lọc di cư của hộ gia đình

59

4.2.2 Lực đẩy trong quá trình ra quyết định di cư

64

4.2.3 Lực hút trong quá trình ra quyết định di cư

70

4.3



5.1

Kết luận

93

5.2

Kiến nghị

95

5.2.1 Đối với Nhà nước

95

5.2.2 Đối với các cấp chính quyền, quản lý dân cư địa phương

95

5.3.3 Đối với lao động di cư và người dân

95

TÀI LIỆU THAM KHẢO

97

PHỤ LỤC


GTSX

: Giá trị sản xuất

HTX

: Hợp tác xã

LĐDC

: Lao động di cư

LĐNN

: Lao động nông nghiệp

NTTS

: Nuôi trồng thủy sản

SL

: Số lượng

SXNN

: Sản xuất nông nghiệp

TTCN - XD


3.1

Tình hình sử dụng đất của huyện Trực Ninh

28

3.2

Biến động dân số huyện Trực Ninh

32

3.3

Tình hình lao động của huyện Trực Ninh

33

3.4

Giá trị sản xuất của một số ngành kinh tế trên địa bàn huyện Trực Ninh

35

4.1

Đặc trưng của hộ điều tra

45


4.7

Đặc điểm của lao động nông thôn di cư phân theo độ tuổi

61

4.8

Tình trạng sức khỏe của lao động nông thôn di cư theo giới tính

63

4.9

Tình trạng việc làm của lao động nông thôn trước khi di cư

67

4.10

Thu nhập bình quân/tháng của lao động nông thôn di cư

71

4.11

Mối quan hệ giữa thu nhập/tháng với công việc của người di cư

72


82

vii


DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ

Tên sơ đồ

Trang

3.1

Bản đồ huyện Trực Ninh

26

3.2

Khung phân tích của đề tài

37

3.3

Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư theo mùa vụ

40


Hình thức nhà ở của lao động nông thôn di cư

55

4.4

Hành vi tiếp cận dịch vụ sức khỏe trong lần đau ốm gần nhất

55

4.5

Dự định di cư của lao động nông thôn di cư

57

4.6

Lý do di cư của lao động nông thôn di cư

65

4.7

Thời gian lao động nông thôn di cư đi di cư trong một năm

66

4.8

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã dẫn tới những biến đổi mạnh
mẽ làm thay đổi bộ mặt của nông thôn và đô thị Việt Nam. Sự phát triển kinh tế
ở cả nông thôn và thành thị trong những năm gần đây không những đã thúc đẩy
sự phát triển ở nông thôn Việt Nam mà còn đặt ra nhiều vấn đề và thách thức.
Năng suất nông nghiệp tăng cao trong thời gian qua, một mặt giúp đảm bảo an
ninh lương thực cho đất nước, mặt khác tạo ra sự dôi dư lao động ở nông thôn.
Cùng với việc quy hoạch các khu công nghiệp, đô thị hóa, quá trình tích tụ ruộng
đất ở nông thôn dẫn đến đất canh tác ở khu vực nông thôn bị thu hẹp. Thiếu việc
làm đối với lao động nông thôn đã và đang trở thành vấn đề lớn vì khả năng tạo
việc làm cho lao động nông thôn còn rất hạn chế. Tất cả các nhân tố này cùng với
khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn đã sinh ra các dòng di cư từ
nông thôn ra thành thị. Vì vậy, di dân trở thành một thành tố không thể thiếu
được trong đời sống nông thôn Việt Nam.
Trước những khó khăn thách thức về kinh tế - xã hội hiện nay, sản xuất
kinh doanh đình đốn, thu nhập bấp bênh và giảm sút, tác giả Đặng Nguyên Anh
(2012) đã khẳng định di dân mùa vụ trở thành phương thức được người dân nông
thôn lựa chọn. Mô hình di dân “ly hương – bất ly nông” trong đó lao động nông
nghiệp dư thừa ra khỏi làng quê tìm việc nhưng không từ bỏ đất lúa. Hộ gia đình
ở quê vẫn giữ ruộng, thực hiện các nghĩa vụ và đăng ký nhân khẩu tạm vắng khi
cần thiết cho người ra đi. Lao động “bất ly hương” quay về tham gia vào các hoạt
động nông nghiệp mùa vụ, lễ hội hoặc giỗ tết truyền thống. Khi về thăm nhà hỗ
trợ tiền mặt cho gia đình, người thân ở quê.
Loại hình di dân này tuy đã có từ lâu trong nền sản xuất nông nghiệp
truyền thống ở nước ta, song vẫn tiếp tục tồn tại và trở nên phổ biến trong giai
đoạn phát triển hiện nay. Đây là loại hình di dân phù hợp với nhu cầu của phần
lớn lao động nông thôn, đồng thời góp phần vào sự phát triển đồng đều giữa

1



2


- Đề xuất định hướng một số giải pháp nhằm ổn định cuộc sống của lao động
di cư đối với việc phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng lao động nông thôn di cư tại địa bàn huyện Trực Ninh như
thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định di cư mùa vụ của lao động
nông thôn tại địa bàn huyện Trực Ninh?
- Ảnh hưởng của di cư theo mùa vụ đến cộng đồng địa phương như thế nào?
- Những giải pháp nào nhằm ổn định cuộc sống của lao động di cư đối với
việc phát triển kinh tế, xã hội huyện Trực Ninh?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lao động nông thôn trên địa bàn huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến di cư mùa vụ của lao động nông thôn
huyện Trực Ninh.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư của
lao động nông thôn trên địa bàn các huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Về thời gian
- Thông tin thứ cấp được thu thập và nghiên cứu trong khoảng thời gian từ
2012 – 2014.
- Thông tin sơ cấp được điều tra nghiên cứu trong năm 2015.
- Thời gian thực hiện đề tài: Đề tài được tiến hành từ tháng 8/2014-8/2015
Phạm vi nội dung
Đề tài nghiên cứu tình hình di cư theo mùa vụ, các yếu tố ảnh hưởng đến
quyết định di cư của lao động nông thôn và ảnh hưởng của di cư đến cộng đồng địa

toàn bộ số người nằm trong độ tuổi quy định. Tuổi lao động quy định là đủ 1560 tuổi đối với nam và đủ 15- 55 tuổi đối với nữ. Ngoài ra do quá trình sản xuất,
nhất là sản xuất nông nghiệp những người không nằm trong độ tuổi quy định
nhưng vẫn có khả năng tham gia lao động thì vẫn được coi là bộ phận của nguồn

4


lao động, tuy nhiên do khả năng lao động của họ hạn chế nên họ được coi là lao
động phụ. Những người không thuộc lực lượng lao động bao gồm các đối tượng
từ đủ 15 – 60 tuổi đang đi học, làm nội trợ, không có nhu cầu làm việc, những
người mất khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật.
Về mặt chất lượng, chất lượng lao động chính là sức lao động của bản
thân người lao động thể hiện ở sức khỏe, trình độ lành nghề, trình độ văn hóa,
nhận thức hiểu biết khoa học kĩ thuật và trình độ kinh tế tổ chức.
Lao động nông thôn là toàn bộ hoạt động lao động sản xuất tạo ra sản
phẩm của những người sống ở nông thôn. Do đó, lao động nông thôn bao gồm
lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ nông
thôn. Cơ cấu lao động làm nông nghiệp chiếm đến 90% lao động nông thôn do
đó mà đặc điểm của nguồn lao động nông thôn cũng tương đồng với đặc điểm
của lao động trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn lao động ở nông thôn có những
đặc điểm riêng so với các ngành sản xuất vật chất khác.
Thứ nhất, lao động nông thôn mang tính thời vụ cao. Sản xuất nông
nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các quy luật sinh học và
điều kiện tự nhiên của từng vùng (khí hậu, đất đai…). Do đó, quá trình sản xuất
mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều. Chính vì tính chất này
đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trở nên phức tạp hơn.
Thứ hai, lao động nông thôn có xu hướng giảm về số lượng do xu hướng
di chuyển lao động nông thôn từ nông nghiệp sang một số ngành sản xuất dịch vụ
khác như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Thứ ba, lao động trong nông nghiệp nông thôn nhìn chung có trình độ văn

phải mọi sự di chuyển của con người đều được coi là di cư, do đó khó có thể đưa
ra được một khái niệm thống nhất về di cư (Đặng Nguyên Anh, 2003).
Theo nghĩa rộng, di cư là sự chuyển dịch bất kì của con người trong
một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm
thời hay vĩnh viễn. Với khái niệm này di cư đồng nhất với sự di động dân cư.
Theo nghĩa hẹp, di cư là sự chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến
một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một không
gian, thời gian nhất định. Với khái niệm này đã khẳng định mối liên hệ giữa việc
di chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới.

6


Theo Henry S.Shryock (1971), di dân là một hình thức di chuyển về địa lý
hay không gian kèm theo sự thay đổi thường xuyên giữa các đơn vị hành chính.
Theo ông những thay đổi nơi ở tạm thời, không mang tính lâu dài như thăm
viếng, du lịch, buôn bán làm ăn, kể cả qua lại biên giới, không nên phân loại là
di dân. Theo Henry di dân còn phải gắn liền với các quan hệ xã hội của người
di chuyển.
Theo Ủy ban thường vụ Quốc hội, di cư là sự dịch chuyển dân cư trong
nước (từ nông thôn ra thành thị hoặc ngược lại từ vùng này sang vùng khác) và
từ nước này sang nước khác. Di cư là biểu hiện rõ rệt của sự phát triển không
đồng đều giữa các vùng, miền, lãnh thổ. Song nó cũng phản ánh sự phát triển
chậm chạp hơn hay sự lạc hậu về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng này so
với vùng khác, miền này so với miền khác. Đây là một xu hướng ít nhiều có tính
phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà cũng ở nhiều quốc gia khác trong khu vực và
trên thế giới.
Theo Uỷ ban thường vụ Quốc hội (2003) đã định nghĩa, di cư là sự di
chuyển của người dân từ chỗ này sang chỗ khác, nghĩa là từ một huyện, tỉnh,
nước này sang huyện, tỉnh, nước khác trong một năm hoặc hơn.

nơi đến. Di dân từ một quốc gia này sang một quốc gia khác, vượt qua ranh giới
chính trị gọi là hình thức di dân quốc tế, còn di dân nội địa liên quan đến sự
chuyển đổi nơi cư trú nằm trong phạm vi của một quốc gia.
Di cư quốc tế bao gồm di cư hợp pháp, di cư bất hợp pháp, chảy máu chất
xám, cư trú tị nạn, buôn bán người qua biên giới.
Di cư nội địa bao gồm di cư nông thôn - đô thị, di cư nông thôn - nông
thôn, di cư đô thị - nông thôn, di cư đô thị - đô thị.
Việt Nam là một trong những nước có nguồn lao động dồi dào. Do vậy
nên nguồn lao động di cư quốc tế khá cao. Bên cạnh đó di dân nội địa cũng diễn
ra thường xuyên, liên tục đặc biệt là hình thức di cư từ nông thôn ra thành thị.
Theo độ dài thời gian cư trú là sự phân biệt di dân theo độ dài thời gian
của người lao động tại nơi đến. Theo độ dài thời gian cư trú bao gồm di cư lâu
dài, di cư tạm thời, di cư mùa vụ.
Di cư lâu dài bao gồm người di chuyển đến nơi mới với mục đích sinh
sống lâu dài, trong đó phần lớn những người di cư là do chuyển công tác, thanh
niên tìm cơ hội việc làm mới lập nghiệp và tách gia đình. Những người này
thường không quay trở về quê hương cũ sinh sống.

8


Di cư tạm thời là sự thay đổi nơi ở gốc không lâu dài và khả năng quay trở
lại là tương đối chắc chắn. Kiểu di cư này bao gồm các hình thức di chuyển làm
việc theo thời vụ và di dân con lắc.
Di cư mùa vụ là hình thái đặc thù của di dân tạm thời. "Mùa vụ" không
nhất thiết gắn với mùa thu hoạch mà có thể là mùa xây dựng hoặc mùa du lịch,
mùa lễ hội loại hình này phụ thuộc vào đặc trưng của từng vùng. Nhưng đây
cũng là nhân tố làm cho việc quản lý trật tự trị an trên địa bàn các thành phố rất
khó khăn (Đặng Nguyên Anh, 2012). Di dân mùa vụ diễn ra trong kỳ nông nhàn,
hướng di chuyển chủ yếu là nông thôn - thành thị. Thời gian chiếm đến 2/3 số

những chủ nhỏ hoặc cá thể, tiểu chủ. Những người chủ này thường không đăng
ký sản xuất kinh doanh và không đăng ký chính thức tuyển dụng lao động.
Những người lao động tại khu vực phi chính thức, thường không ký hợp đồng lao
động, nên thường không được hưởng các chế độ như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế, không có chế độ nghỉ lễ và chủ nhật. Họ thường là những người gặp nhiều
rủi ro trong cuộc sống như: dễ bị lạm dụng tình dục (đối với phụ nữ), bị đối xử
không công bằng. Họ thường phải sống trong những ngôi nhà thiếu tiện nghi sinh
hoạt. Nhiều nơi hình thức di dân này còn được gọi dưới cái tên “di dân trôi nổi”.
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư
Hiện tượng lao động từ nông thôn ra các đô thị tìm việc là do nhiều yếu tố
tự nhiên, kinh tế và xã hội ảnh hưởng. Nó là kết quả ảnh hưởng của “lực đẩy” từ
các vùng nông thôn nghèo như: dư thừa lao động, thiếu đất canh tác, đời sống
thấp kém, cùng các ảnh hưởng của “lực hút” từ khu đô thị có các điều kiện hoạt
động kinh tế và sinh hoạt hấp dẫn hơn, có cơ hội tìm kiếm việc làm và thu nhập
cao hơn ở nông thôn (Everetts Lee, 1966). Dưới đây phân tích những nhân tố
chính tạo nên các “lực đẩy” và “lực hút” này.
Nhóm yếu tố “đẩy”, nhóm yếu tố xuất phát từ nơi xuất cư người lao động
nông thôn họ phải đi di cư, tìm kiếm việc làm ở các thành phố lớn bởi ở quê sản
xuất nông nghiệp bấp bênh, không ổn định, thu nhập thấp, diện tích đất canh tác
thì ngày càng thu hẹp lại, các khoản chi phí cho sinh hoạt hàng ngày, việc học
hành của con cái, sức khỏe của cha, mẹ già, những nguyên nhân trên đã thúc
đẩy, buộc họ phải rời bỏ quê hương, đi làm ăn xa để kiếm thêm thu nhập trang
trải cuộc sống, khi công việc ngày càng hiếm, đồng tiền kiếm được ngày một
khó khăn.

10


Đời sống của những hộ nông dân những năm gần đây có khá lên, song còn
một bộ phận dân cư không ít nằm trong diện đói nghèo. Những hộ nghèo, thậm


Sự chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị cũng là một yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến hiện tượng di dân, lao động nông thôn vào đô thị tìm việc
dưới nhiều hình thức khác nhau. Việc giao lưu đi lại trong phạm vi cả nước, giữa
thành thị - nông thôn dễ dàng, nhanh chóng. Do đó thông tin về việc làm đến với
người lao động cần việc ở nông thôn càng nhanh, nhạy hơn.
2.1.3 Ảnh hưởng của di cư lao động
Ảnh hưởng của di cư tới dân số, di cư tác động tới quy mô, cơ cấu dân số
khiến cơ cấu theo tuổi và giới tính có thể thay đổi. Người di cư thường là người
trẻ tuổi (từ 20 - 40 tuổi), không có sự phân biệt về giới tính, cả nam và nữ đều di
cư. Người di cư thường có tình trạng kinh tế xã hội ở mức cao hơn trung bình ở
nơi đi và thấp hơn trung bình ở nơi đến.
Di cư tác động tới tăng trưởng dân số phụ thuộc vào tổng lượng nhập cư
và số nhập cư tích luỹ, tương quan giữa số dân nhập cư so với số dân bản địa, sự
khác biệt về mức sinh giữa các nhóm dân cư này (Đinh Quang Hà, 2008).
Ảnh hưởng của di cư tới các vấn đề kinh tế xã hội, di cư là một hiện tượng
kinh tế xã hội mang tính quy luật, một cấu thành tất yếu của sự phát triển. Nó gây
ra một số ảnh hưởng sau:
Di cư lao động góp phần đa dạng hóa phương thức sinh kế, tạo việc làm,
tăng thu nhập, giảm hộ nghèo. Theo kết quả nghiên cứu trong hội thảo với quỹ
Rosa Luxemburg (CHLB Đức) năm 2010, có 60,39% thừa nhận di cư lao động
đã đạt được mục tiêu đề ra (chủ yếu là giảm nghèo, cải thiện đời sống). Sau một
thời gian trải nghiệm với phương thức sinh kế mới, di cư lao động đã làm cho đời
sống các hộ gia đình có người đi làm ăn xa “tốt hơn” so với trước (54,1%).
Người di cư lao động có mức thu nhập cao hơn: lao động di cư có thu nhập hàng
tháng từ 2 - 4 triệu đồng chiếm 49,5%; < 2 triệu là 43,8%, và > 5 triệu là 4,7%.
Chính vì vậy, có 14,1% người lao động đánh giá mức thu nhập đó “tốt hơn
nhiều” so với ở nhà, 58,7% cho rằng “tốt hơn”.
Di cư lao động đáp ứng nhu cầu lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đa
số DCLĐ trong nước trong độ tuổi từ 18 - 35 (58,3%). Họ là những người năng

cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoặc có song rất yếu kém. Phần lớn là gần các sông hồ,
các bãi rác, nghĩa địa, gầm cầu. Đây cũng là khu vực ít bị kiểm soát, có sức thu
hút đối với người nghèo đô thị cũng như người di dân tự do ra Hà Nội tìm việc
kiếm sống. Chính những điểm này đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý
nhân khẩu, hộ khẩu.

13


Một bộ phận người di cư gây ra tệ nạn xã hội và mất trật tự tại thành phố
lớn gây khó khăn trong việc quản lý và quy hoạch đô thị. Trong nghiên cứu của
Đinh Quang Hà (2008), di dân tự do tới đô thị còn làm nảy sinh một số vấn đề xã
hội phức tạp mất trật tự an ninh, xung đột giữa người di dân và người địa
phương, nạn cờ bạc, nghiện hút, mại dâm và cả những vụ phạm pháp hình sự ở
địa bàn thành phố. Theo thống kê của công an Thành phố Hà Nội năm 2007 đã
có 2.159 vụ phạm pháp hình sự do dân di cư gây ra, chiếm 30,8% tổng số vụ
phạm pháp hình sự trong toàn Thành phố. Lao động tự do di chuyển vào Hà Nội,
nhất là di cư mùa vụ tìm việc làm và cư trú trong những khoảng thời gian không
xác định, họ thường không đăng ký tạm trú hoặc thường trú, điều này gây ra
những khó khăn nhất định cho việc quản lý nhân khẩu tại đô thị đã gây ra hiện
tượng làm mất trật tự an ninh, nhất là ở nơi công cộng, giao thông đường phố làm
nảy sinh thêm nhiều vấn đề phức tạp cho dân cư đô thị.
2.1.4 Lý thuyết phân tích về vấn đề di cư
2.1.4.1 Lý thuyết của EG. Ravenstein
Lý thuyết EG. Ravenstein ra đời trong những năm 80 của thế kỷ 19. Lý
thuyết này đóng vai trò cho việc phát triến lý thuyết di dân, điều này được phản
ảnh trong tác phẩm “Luật di dân” (EG. Ravenstein,1885). Ravenstein nghiên cứu
các cuộc di chuyền dân cư ở nước Anh và ông nhận thấy sự di dân có mối liên
quan đến quy mô dân số, mật độ và khoảng cách di chuyển. Qua đó Ravenstein
đã đi đến xây dựng những lý thuyết mang tính chất tổng quát hoá, trong đó rất

wu
l us

Trong đó:
Wr là mức lương (năng suất lao động biên) trong lĩnh vực nông nghiệp
nông thôn;
le là tổng số công ăn việc làm có sẵn trong khu vực đô thị, cần được cân
bằng với số lượng công nhân làm việc ở đô thị;
lus là tổng số người đang làm việc, cần tìm việc và thất nghiệp trong khu
vực đô thị;
wu là mức lương trong khu vực đô thị (có thể được thiết lập bởi quy định
mức lương tối thiểu của pháp luật).
Nói cách khác, mức lương kỳ vọng trong nông nghiệp bằng với mức
lương kỳ vọng ở đô thị nhân với số lượng việc làm có sẵn trong đô thị chia cho
tổng số người đang có việc làm và cần tìm việc làm ở đô thị.
Quá trình di cư lao động từ nông thôn ra đô thị sẽ diễn ra nếu:

Wr



16


triển không mong đợi ở khu vực kinh tế phi chính thức, thì hành vi này vẫn được
xem là hợp lý xét về khía cạnh kinh tế vì nó tối đa hóa lợi ích trong các điều kiện
mà mô hình Harris – Todaro giả định.
Vì vậy, xét trên tổng thể để kiểm soát di cư từ nông thôn vào thành thị
trong quá trình đô thị hóa cần giải quyết đồng bộ tất cả các vấn đề trên cả 03 khu
vực kinh tế bao gồm: khu vực kinh tế đô thị chính thức; khu vực kinh tế đô thị
phi chính thức và khu vực nông thôn.
Có hai kết luận cần được quan tâm từ lý thuyết của Harris - Todaro:
Thứ nhất, càng có nhiều cơ hội làm việc ở đô thị thì lượng người di cư đến
càng tăng vì thế tỉ lệ người thất nghiệp càng lớn.
Thứ hai, quyết định di cư trên cơ sở hi vọng có việc làm nơi đô thị phản
ánh một tư tưởng ngụ ý rằng di cư lao động nông thôn là bị mù tương đối, vì thế
những người di cư nông thôn dễ rơi vào nguy cơ thất nghiệp mới.
2.1.4.3 Mô hình lực “hút – đẩy” của Everetts Lee
Trong cuốn sách “Một học thuyết chung về di cư” (Everetts Lee, 1966),
Lee đã tổng kết một số các yếu tố quyết định đến việc di cư của người dân từ
nông thôn ra thành thị. Ông chia thành hai nhóm yếu tố: nhóm yếu tố “đẩy” bao
gồm nghèo đói, sự thiếu thốn các cơ hội kinh tế, thiếu đất, mức sống thấp ở quê
nhà; nhóm yếu tố hút bao gồm sự thịnh vượng, cơ hội, công việc làm ăn, mức
sống cao ở nơi đến. Trong hai nhóm yếu tố này, những yếu tố tiêu cực tác động
mạnh hơn buộc người ta phải rời nơi sinh sống của mình còn các yếu tố tích cực
phản ánh sự hấp dẫn của nơi đến.
Ngoài ra, Lee còn phân tích một số các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc di
dân. Đó là nhận thức, sự thông minh, hiểu biết của người di cư qua kinh nghiệm
bản thân hay qua các kênh thông tin đại chúng, qua bạn bè, họ hàng. Đây là điều
mà các lý thuyết trước đó ít đề cập tới. Việc di cư, theo Lee còn phụ thuộc vào
tính toán và thu nhập mong đợi trong thời gian nhất định hơn là tính toán về khác

tới sẽ tăng tiếp gấp hai lần. Hiện tại, toàn cầu có khoảng trên 200 triệu lao động
di cư và riêng trong nội khối ASEAN cũng có khoảng 15 triệu người. Tại VN,
lao động di cư trong giai đoạn 2004 – 2009 khoảng 6,7 triệu người. Theo nhận

18


định của các nhà nghiên cứu thì lao động di cư trong nước ta vẫn có xu hướng
tiếp tục tăng trong thập kỷ tới.
Malaysia
Sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở Malaysia diễn ra rất nhanh chóng bởi sự
tác động của quá trình CNH - HĐH. Nó khiến làn sóng di cư lao động từ nông
thôn ra thành thị tăng lên mạnh mẽ. Lao động nông nghiệp giảm mạnh từ 60%
năm 1957 xuống còn 12% năm 2005. Để quản lý luồng di cư này Malaysia đưa
ra chính sách nhằm làm giảm khoảng cách giữa nông thôn và thành thị bằng việc
phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, cung cấp các điều kiện tốt hơn cho nông
thôn, đặc biệt chú ý giáo dục và đào tạo.
Chính Phủ Malaysia đưa ra năm nhóm chính sách (bao gồm cả trực tiếp và
gián tiếp) để có thể quản lý lao động di cư. Thứ nhất, phát triển đa dạng sản xuất
nông nghiệp, chuyển từ trồng cao su là chính sang phát triển cọ dầu, cây lương
thực và một số cây ngắn ngày khác. Tăng cường chế biến công nghiệp đảm bảo
liên kết giữa nhà máy chế biến và người trồng nguyên liệu thông qua cơ chế lợi
ích, phát triển bền vững gắn với công nghệ sinh học thân thiện với môi trường.
Thứ hai, đẩy mạnh thực hiện chương trình khai hoang để người dân nông thôn có
đủ điều kiện cần thiết ổn định cuộc sống, không rơi vào bần cùng hoá. Thứ ba,
phát triển các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn, đặc biệt là các hoạt
động truyền thống, cần có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với các nghệ nhân.
Thứ tư, đầu tư cho giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Các trường
học và trường dạy nghề đều nhận được sự hỗ trợ của nhà nước, học sinh nghèo
được miễn học phí và nhận được học bổng của chính phủ. Thứ năm, nhập khẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status