LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cám ơn
chân thành nhất đến các thầy giáo, cô giáo giảng dạy trong ngành Quản trị
Dịch vụ Du lịch và Lữ hành của Khoa Du lịch - Đại học Huế đã hết lòng
giảng dạy, trang bị kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập tại
trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Th.s Đặng Quốc Tuấn người đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ, động viên em trong suốt
quá trình làm khóa luận này.
Em cũng xin chân thành cám ơn đến các cô, chú, anh, chị, đặc biệt em
xin chân thành cảm ơn Th.s Phạm Thị Dung phòng Thuyết minh – Hướng
dẫn tại Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế, đã tạo điều kiện cho em thực
tập, điều tra, thu thập số liệu, tài liệu phục vụ cho viêc nghiên cứu đề tài
khóa luận.
Xin cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình, giúp đỡ, động viên của toàn thể bạn
bè, người thân trong suốt quá trình làm khóa luận này.
Mặc dù đã có những cố gắng song khóa luận không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Kính mong quý thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể bạn bè
góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn.
Sinh viên:
Lương Thị Mẫn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và
kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài
nghiên cứu khoa học nào.
Ngày … tháng … năm 2016
Sinh viên thực hiện
Lương Thị Mẫn
UNESCO
Cultural Organization ): Tổ chức Giáo dục, Khoa
học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
LDLVN
Luật du lịch Việt Nam
VHTT&DL
Văn hóa thể thao và du lịch
UBND
Ủy ban nhân dân
ICOMOS
Hội đồng quốc tế các di chỉ và di tích
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
SVTH: Lương Thị Mẫn
4
Nói đến Việt Nam không thể không nhắc đến Huế - thành phố của những khu di
tích lịch sử nổi tiếng, của những lễ hội truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc. Thừa
Thiên Huế là một vùng đất văn hiến, có bề dày lịch sử, văn hóa đặc sắc với Huế là
cố đô duy nhất ở Việt Nam còn bảo lưu được khá nguyên vẹn tổng thể kiến trúc
nghệ thuật cung đình, với hệ thống thành quách, cung điện, miếu đường, đền đài,
lăng tẩm. Đặc biệt, là hai di sản được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Chính
vì vậy mà Huế trở thành thành phố du lịch của miền Trung, nơi thu hút hàng triệu
lượt khách du lịch đến tham quan mỗi năm.
Quần thể di tích Cố đô Huế thu hút được nhiều khách tham quan cũng như nhà
nghiên cứu phát triển về du lịch, hệ thống di tích rất phong phú và đa dạng về kiểu
dáng, qui mô, kiến trúc. Mặc dầu số lượng khách tham quan mỗi di tích là rất lớn,
việc khai thác hầu như đều đặn mỗi ngày nhưng việc đầu tư, nâng cấp, bảo tồn tại
mỗi điểm di tích thì vẫn chưa được quan tâm cụ thể. Đa số khách đến tham quan lần
đầu và tỷ lệ khách quay lại vần còn khá ít. Những nguyên nhân chính dẫn đến tình
trạng này là hoạt động du lịch còn thiếu tính chuyên nghiệp, chưa đa dạng, các dịch
vụ bổ sung chưa phong phú đáp ứng nhu cầu của khách tham quan du lịch. Hạn chế
lớn nhất của ngành du lịch Tỉnh Thừa Thiên Huế là công tác tiếp thị, quảng bá du
lịch chưa thật sự hiệu quả. Mặt khác, du lịch ngày càng phát triển, khách du lịch
ngày càng có nhiều sự lựa chọn hơn do vậy họ cũng trở nên khắt khe hơn trong việc
lựa chọn loại hình du lịch phù hợp.
SVTH: Lương Thị Mẫn
6
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của khách nội địa đối với Đại Nội
Huế
-
Đối tượng điều tra: Khách du lịch nội địa khi đến tham quan hoặc sử dụng các
chương trình du lịch có đến tham quan Đại Nội trong thời gian ở Huế.
SVTH: Lương Thị Mẫn
7
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
3.2. Phạm vi nghiên cứu
-
Đề tài được khảo sát tại Quần thể di tích cố đô Huế mà trọng điểm là Đại Nội Huế
-
Đề tài chỉ tập trung phân tích tình hình phát triển, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
đến sự lựa chọn của khách nội địa tại Đại Nội Huế
-
Bước 1: Thiết kế bảng hỏi dựa vào việc khảo sát về du lịch văn hóa trước đây.
Nghiên cứu được tiến hành khảo sát đối với khách du lịch nội địa nên ngôn ngữ sử
dụng trong bảng hỏi chỉ sử dụng tiếng Việt. Nội dung bảng hỏi gồm 3 phần chính
như sau:
Phần 1: Thông tin chuyến đi
SVTH: Lương Thị Mẫn
8
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
Phần này bao gồm các nội dung cụ thể như sau:
- Lần thứ mấy đến Huế
- Số ngày lưu trú tại Huế
- Mục đích chuyến đi
- Số ngày lưu trú
- Lần thứ mấy đến Đại Nội Huế
- Thông tin có được
-Hình thức tổ chức chuyến đi
Phần 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm tham quan Đại Nội
Huế
Phần 3: Thông tin cá nhân
- Giới tính
- Tuổi
9
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
4.2. Phương pháp phân tích xử lý số liệu
Sau khi thu thập, tiến hành chọn lọc, xử lý, phân tích để đưa ra những thông tin phù
hợp cần thiết để nghiên cứu.
-
Sử dụng phương pháp thống kê phân tích bằng phần mềm xử lý số liệu SPSS 20.0:
-
Thống kê tần suất (Frequency), phần trăm (Percent), trung bình (Mean). Phương
pháp phân tích phương sai ANOVA để xác định sự khác biệt trong cách đánh giá về
các tiêu chí khác nhau đối với các nhóm du khách khác nhau về độ tuổi, quốc tịch,
nghề nghiệp.
Sử dụng thang đo Likert để đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng
đến quyết định lựa chọn điểm đến theo thang đo Likert với các mức độ từ 1. Rất
không đồng ý cho đến 5. Rất đồng ý.
-
Kiểm định independent samples T Test.
SVTH: Lương Thị Mẫn
10
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
trong đánh giá giữa các nhóm khách theo các yếu tố về: độ tuổi và nghề nghiệp.
Giả thuyết kiểm định:
H0: Không có sự khác biệt trong đánh giá giữa các nhóm du khách khác nhau.
H1: Có sự khác biệt trong đánh giá giữa các nhóm du khách khác nhau.
Nếu: Sig.
0.1: Chấp nhận giả thuyết H0
Sig. < 0.1: Chấp nhận giả thuyết H1
Kiểm định Independent - Sample T - Test: Phân tích sự khác biệt trong đánh
giá của các nhóm du khách có giới tính khác nhau.
Kiểm định sự đồng nhất phương sai Levene’s:
Giả thuyết kiểm định:
H0: Phương sai 2 nhóm đồng nhất
H1: Phương sai 2 nhóm không đồng nhất
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
-
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
Nêu ra các hạn chế từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thu
hút khách du lịch đến với điểm tham quan này.
6. Kết cấu đề tài
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần này trình bày lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi
và phương pháp nghiên cứu. Tóm tắt bố cục của đề tài.
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của khách du
lịch nội địa đối với điểm tham quan Đại Nội Huế.
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút khách du lịch nội địa đến
Đại Nội Huế.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Do hạn chế về thời gian, kiến thức và kinh nghiệm thực tế của bản thân nên đề tài
không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến
của quý thầy cô và các bạn.
SVTH: Lương Thị Mẫn
12
- Theo tổ chức Du lịch thế giới – Liên hiệp quốc UNWTO (2008): “Du lịch
(tourism) là hành động rời khỏi nơi cư trú để đi đến một nơi khác, một môi trường
khác trong một thời gian ngắn nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá, vui chơi, giải trí,
nghỉ dưỡng. Du lịch bao gồm mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú
trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích
nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác
nữa trong thời gian liên tục nhưng không vượt quá một năm, ở bên ngoài môi
trường sống định cư, ngoại trừ mục đích thu lợi nhuận”.
- Theo quan điểm của Millvà Morrison (1982):“Du lịch là một hoạt động xảy ra
khi con người vượt qua biên giới một nước, hay ranh giới một vùng, một khu vực
nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu trú tại đó ít nhất 24 giờ nhưng không
quá một năm”
SVTH: Lương Thị Mẫn
13
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
- Theo khoản 1, điều 4, Luật Du lịch Việt Nam định nghĩa: “Du lịch là hoạt động
của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu
tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định”.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc định nghĩa về
khái niệm du lịch, song có thể hiểu một cách khái quát về du lịch như sau: “Du lịch
là sự di chuyển của con người ra khỏi nơi cư trú của mình nhằm đáp ứng những
-
Du lịch nghỉ ngơi, giải trí: Là loại hình du lịch phục vụ cho nhu cầu nghỉ ngơi, giải
trí cho du khách sau những ngày làm việc vất vả.
SVTH: Lương Thị Mẫn
14
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
-
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
Du lịch văn hoá: Là loại hình du lịch nhằm mục đích nâng cao hiểu biết cho cá nhân
về mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa cùng phong tục, tập quán
của đất nước du lịch. Du lịch văn hóa gồm 2 loại:
Du lịch văn hóa với mục đích cụ thể: Khách du lịch thuộc thể loại này thường đi với
mục đích định sẵn, thường là cán bộ khoa học, sinh viên và các chuyên gia.
Du lịch văn hóa với mục đích tổng hợp: Bao gồm đông đảo những người đi du lịch
với mong muốn mở mang kiến thức về thế giới và thỏa mãn những tò mò của mình.
-
thuận lợi cho loại hình này là vào mùa hè (mùa nóng) tình trạng ô nhiễm biển hiện
nay do sự quá tải lượng khách không có bảo vệ chặt chẽ đang được báo động ở Việt
Nam. Tuy nhiên hoạt động thể thao biển ở Việt Nam chưa được phát triển nhiều,
chẳng hạn như lướt ván trên biển, nhảy dù trên không, …
-
Du lịch núi: Ngoài du lịch nghỉ dưỡng, địa hình núi còn thuận lợi cho việc phát
triển tham quan, cắm trại, mạo hiểm, … Du lịch núi thu hút nhiều đối tượng du
SVTH: Lương Thị Mẫn
15
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
khách khác nhau, chẳng hạn nhưngười cao tuổi thích nghỉ dưỡng, giới trẻ thích cắm
trại, tham gia thể thao mạo hiểm,…)
-
Du lịch đô thị: Đây là loại hìnhdu lịch đến các thành phố lớn, trung tâm hành chính
nổi tiếng với những kiến trúc mang tầm cỡ quốc gia hoặc quốc tế, đặc biệt cả những
khu thương mại lớn phục vụ cho việc chiêm ngưỡng và mua sắm.
d. Căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng
Việc phân loại du lịch theo phương tiện giao thông bao gồm các loại sau:
nhiều tàu du lịch với đầy đủ tiện nghi như phòng ăn, phòng ngủ, bar, bể bơi, sân thể
thao, ...đảm bảo phục vụ khách du lịch với nhiều loại hình dịch vụ đa dạng.
e. Căn cứ vào phương tiện lưu trú được sử dụng
Có nhiều loại hình lưu trú trong du lịch, theo đó du lịch được phân thành các
loại tương ứng như sau:
-
Du lịch nghỉ ở khách sạn (Hotel): Khách sạn là cơ sở lưu trú có đầy đủ tiện nghi
phục vụ các nhu cầu khác nhau của du khách từ ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi, giải trí,
…Khách sạn được phân thứ hạng tùy theo mức độ sang trọng của cơ sở vật chất,
SVTH: Lương Thị Mẫn
16
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
trang thiết bị, trình độ nhân viên, …
-
Du lịch nghỉ ở Motel: Là hình thức du lịch nghỉ ngơi ở những khách sạn bên lề trên
những chặng đường dài dành cho khách du lịch đi bằng ô tô.
-
một số nước như: Mỹ, Anh, Pháp, …
-
Du lịch dài ngày: Là loại hình dư lịch thường được tổ chức vào các kỳ nghỉ phép
trong năm hoặc nghỉ đông, nghỉ hè. Loại hình này thường kéo dài vài tuần.
h. Căn cứ vào thành phần xã hội của du khách
Dựa vào thành phần xã hội của du khách du lịch được chia thành 2 loại như sau:
-
Du lịch cao cấp: Dành cho những người có khả năng thanh toán cao với những dịch
vụ có chất lượng đặc biệt, mức giá cao và thường đem lại hiệu quả kinh tế cao cho
doanh nghiệp kinh doanh du lịch.
-
Du lịch đại chúng (Mass Tourism): Dành cho những người có khả năng thanh toán
hạn chế, sử dụng các dịch vụ có chất lượng trung bình.
SVTH: Lương Thị Mẫn
17
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
bao gồm cả các hoạt động ở nơi đến.
-
Chuyến đi và lưu trú xảy ra bên ngoài nơi cư trú và làm việc thường xuyên, do đó du
lịch làm nảy sinh những hoạt động của cư dân sinh sống và làm việc ở đây.
-
Sự di chuyển tới nơi đến mang tính chất tạm thời, sau đó quay trở về.
-
Chuyến đi với nhiều mục đích song không với mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc
làm tại nơi viếng thăm.
1.1.1.4. Đặc điểm của du lịch
Theo báo cáo của tổ chức du lịch thế giới UNWTO (2008) thì du lịch có
những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, du lịch có tính nhạy cảm, gồm nhiều bộ phận tạo thành nên trong
quá trình cung cấp dịch vụ đối với du khách, nhà cung ứng cần bố trí chính xác về
thời gian, có kếhoạch chi tiết chu đáo về nội dung các hoạt động, cần phải kết hợp
một cách hữu cơ chặt chẽ giữa các khâu. Mặc khác, các yếu tố như thiên nhiên,
chính trị, kinh tế, xã hội đều có ảnh hưởng đến du lịch. Thảm họa chiến tranh, động
đất, khủng bố, sa sút kinh tế đều gây ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển du lịch.
Thứhai, du lịch mang tính đa nghành cao. Tính đa nghành được thể hiện qua
SVTH: Lương Thị Mẫn
18
Thứ sáu, du lịch mang tính chi phí và tổng hợp cao. Mục đích của khách du
lịch là hưởng thụ các sản phẩm du lịch, do vậy họ sẵn sàng trả những khoản chi phí
trong chuyến đi của mình về các khoản dịch vụ như: ăn uống, ngủ nghỉ, đi lại và
nhiều chi phí khác nhằm thực hiện mục đích vui chơi, giải trí, tham quan. Về tính
tổng hợp, sản phẩm du lịch là sản phẩm tổng hợp được biểu hiện bằng nhiều loại
hình dịch vụ. Phạm vi hoạt động của nghành kinh tếdu lịch bao gồm các khách sạn,
giao thông, nhà hàng, dịch vụ bán đồ lưu niệm. Ngoài ra còn có bộ phận sản xuất tư
SVTH: Lương Thị Mẫn
19
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
liệu phi vật chất như văn hóa, giáo dục, tôn giáo, hải quan, tài chính, bưu điện.
1.1.2. Khách du lịch
1.1.2.1. Khái niệm
Theo điều 10, chương I, Luật du lịch Việt Nam (2006): “Khách du lịch là
người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành
nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.
Theo tổ chức du lịch thế giới UNWTO (2008)du khách có những đặc trưng sau:
-
Là người đi khỏi nơi cư trú của mình.
SVTH: Lương Thị Mẫn
20
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: THS. ĐẶNG QUỐC TUẤN
ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt
Nam ra nước ngoài du lịch”.
♦ Khách du lịch nội địa
Theo tổ chức UNWTO (2008) đã đưa ra nhận định về khách nội địa như sau:
“Khách du lịch nội địa là những người cư trú trong nước, không kể quốc tịch, thăm
viếng một nơi khác nơi cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất 24 giờ
cho một mục đích nào đó ngoài mục đích hành nghề kiếm tiền tại nơi viếng thăm”.
-
Đối với nước Mỹ: Khách du lịch nội địa là những người đi đến một nơi cách nơi ở
thường xuyên của họ ít nhất là 50 dặm với những mục đích khác nhau ngoài việc đi
làm hằng ngày.
-
Đối với nước Pháp: Du khách nội địa là những người rời khỏi nơi cư trú của mình
tối thiểu là 24 giờ và nhiều nhất là 4 tháng với một hoặc một số mục đích: giải trí,
sức khoẻ, công tác và hội họp dưới mọi hình thức.
Minh, Nhật ký trong tù, Tr.431].
Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và
phát minh ra. Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ
Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống
con người. Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô
cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà
có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con
người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình
cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới
từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng
và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” . Theo định nghĩa này thì
văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư
tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc.
Riêng Nguyễn Đức Từ Chi xem văn hóa từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất là góc
độ hẹp, mà ông gọi là “góc nhìn báo chí”: văn hóa sẽ là kiến thức của con người và
xã hội. Nhưng, ông không mặn mà với cách hiểu này vì hiểu như thế thì người nông
dân cày ruộng giỏi nhưng không biết chữ vẫn bị xem là “không có văn hóa” do tiêu
chuẩn văn hóa ở đây là tiêu chuẩn kiến thức sách vở. Còn góc nhìn thứ hai là “góc
nhìn dân tộc học”: văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống cả vật chất, xã hội, tinh
thần của từng cộng đồng ; và văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau
nếu nó được hình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống
khác nhau.
Văn hóa là khái niệm rất rộng. Theo Trần Ngọc Thêm, “văn hóa là hệ thống
hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá
trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên
và xã hội của mình.”
1.2.2. khái niệm du lịch văn hóa
Theo tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): "Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động
của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các
làm giàu thêm thông qua sự tiếp xúc, tiếp biến, giao lưu, lan tỏa, tiếp nhận và hội tụ
tinh hoa văn hóa các dân tộc. Du lịch văn hóa không chỉ đem đến lợi ích về kinh tế
mà còn góp phần giáo dục tình yêu tổ quốc, thúc đẩy tích cực sự phát triển xã hội.
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự
tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Những yếu tố thu hút khách du lịch đến với loại hình này chủ yếu là các bản sắc văn
hóa, nét đặc trưng khác biệt của nền văn hóa đó ví dụ như những lễ hội truyền
thống, những phong tục tín ngưỡng, tôn giáo, lối sống, lịch sử, nghệ thuật, kiến
trúc… hình thành nên nền văn hóa của người dân nơi mà khách du lịch đến thăm
quan. Khách du lịch tìm đến du lịch văn hóa để thu nhập thông tin mới, tìm hiểu
vàtrải nghiệm những nền văn hóa khác nhau mọi nơi trên thế giới. Do vậy, du lịch
văn hóa không chỉ đơn thuần là du lịch mà còn gắn liền với các loại hình văn hóa
của địa phương nơi có hoạt động du lịch đang diễn ra.
1.2.3. Phân loại du lịch văn hóa
- Du lịch văn hóa - lịch sử, gồm tất cả những chuyến du lịch thăm lại những khu di
tích lịch sử của vùng, thăm những ngôi nhà của các anh hùng lịch sử dân tộc, tham
quan nơi làm việc của các vĩ nhân...
- Du lịch văn hóa di sản, là sản phẩm lấy những giá trị văn hóa, lịch sử có trong di
sản để cho khách thưởng thức. Một đất nước được vinh danh nhiều di sản, nó là
“tấm giấy thông hành” về trình độ và bề dày văn hóa – văn minh của dân tộc đó.
- Du lịch văn hóa cảm xúc, là những sản phẩm khai thác các đặc tính thẩm mỹ phi
vật thể thông qua các giác quan như: màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hương vị, tiếng
SVTH: Lương Thị Mẫn
24
K46 Hướng Dẫn Du Lịch
sinh hoạt bình thường của người dân địa phương, so sánh với với cuộc sống của
chính vùng dân cư nơi khách du lịch sinh sống. Di sản văn hóa bao gồm hai loại
chính là di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể.
SVTH: Lương Thị Mẫn
25
K46 Hướng Dẫn Du Lịch