BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
********** NGUYỄN BẢO QUỲNH
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐỀN
QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NHÀ CUNG CẤP
NGUYÊN PHỤ LIỆU CỦA CÁC CÔNG TY MAY MẶC TẠI
KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
**********
NGUYỄN BẢO QUỲNH
phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực. Kết
quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn
nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
trước đây.
TP.HCM, ngày 10 tháng 09 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Bảo Quỳnh MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
2.4.1. Lí do lựa chọn mô hình nghiên cứu 20
2.4.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu 21
2.4.3. Các khái niệm liên quan 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 26
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1. Quy trình nghiên cứu 27
3.2. Nghiên cứu sơ bộ định tính 28
3.2.1. Mẫu nghiên cứu định tính 28
3.2.2. Trình tự tiến hành nghiên cứu 28
3.2.3. Kêt quả nghiên cứu sơ bộ 29
3.3. Lập bảng câu hỏi 31
3.4. Nghiên cứu chính thức định lượng 32
3.4.1 Thiết kế mẫu 32
3.4.2. Thu thập dữ liệu 32
3.4.3. Phân tích dữ liệu 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 36 CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1. Thống kê mẫu nghiên cứu 37
4.1.1. Mẫu dữ liệu nghiên cứu 37
4.1.2. Thống kê mô tả biến định tính 37
4.2. Phân tích thang đo 38
4.2.1. Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn NCC 38
4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 41
4.2.3. Thang đo yếu tố quyết định lựa chọn NCC 44
4.3. Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 48
4.4. Phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính 48
4.4.1. Xác định biến độc lập, biến phụ thuộc 48
4.4.2. Phân tích tương quan 49
PHỤ LỤC 1: DÀN BÀI PHỎNG VẤN SÂU
PHỤ LỤC 1B: KẾT QUẢ PHỎNG VẤN SÂU
PHỤ LỤC 2: BẢNG CÂU HỎI CHÍNH THỨC
PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH DOANH NGHIỆP THAM GIA PHỎNG VẤN SÂU
PHỤ LỤC 4: DANH SÁCH DOANH NGHIỆP THAM GIA PHỎNG VẤN
PHỤ LỤC 5: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SPSS
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Những giai đoạn chủ yếu của quá trình mua sắm công nghiệp
Bảng 2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp, Dickson
Bảng 2.3. Bảng tóm tắt các tiêu chuẩn đánh giá nhà cung cấp được quan tâm nhiều
nhất từ 14 bài nghiên cứu
Bảng 3.1. Thang đo của biến “Chi phí mua hàng”
Bảng 3.2. Thang đo của biến “Chất lượng sản phẩm”
Bảng 3.3. Thang đo của biến “Phân phối tin cậy”
Bảng 3.4. Thang đo của biến “Dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật”
Bảng 3.5. Thang đo của biến “Hợp tác và liên kết”
Bảng 3.6. Thang đo của biến “Tình hình tài chính”
Bảng 3.7. Thang đo của biến “Quyết định lựa chọn nhà cung cấp”
Bảng 4.1. Bảng mã hóa dữ liệu để chạy SPSS
Bảng 4.2. Phân tích Cronbach alpha của các biến độc lập
Hình 2.1. Mô hình cứu nghiên cứu của Shin-Chan Ting & Danny I.Cho
Hình 2.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu đề tài
Hình 4.1. Biểu đồ phân tán phần dư và giá trị dự đoán quyết định lựa chọn NCC
Hình 4.2. Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CMT: cut-make-trim (gia công thuần túy)
FOB: free on board
NCC: nhà cung cấp
GTTB: giá trị trung bình
ODM: original design manufacturing (nhà sản xuất với thiết kế gốc)
OEM: original equipment manufacturing (nhà sản xuất thiết bị gốc)
TPP: Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định Đối tác
Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương)
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
tế Việt Nam. Sự phát triển của ngành dệt may chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, thị
trường đầu ra, đầu vào, môi trường thể chế pháp luật. Trong đó yếu tố nguyên phụ liệu
đầu vào có ý nghĩa quyết định.
Hiện tại, ngành may mặc Việt Nam có nguồn nguyên phụ liệu nhập từ nước ngoài
chiếm đến trên 70%. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh nói riêng
và sự phát triển của ngành may mặc Việt Nam nói chung. Chính phủ Việt Nam luôn
quan tâm chú trọng đến phát triển sản xuất nói chung và ngành may mặc nói riêng. Tuy
vậy, cùng với xu hướng hội nhập quốc tế và sự đào thải nghiệt ngã của cơ chế thị
trường, trong giai đoạn hiện nay các doanh nghiệp ngành may đang gặp phải những
vấn đề những khó khăn, thách thức và ngày càng trở nên bức xúc, chi phí đầu vào tăng
cao, không chủ động, giảm sức cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc
tế.
2
Trong 7 tháng đầu năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc khoảng
9.700 tỷ đô la Mỹ, tăng hơn 16%, thì nhập khẩu nguyên phụ liệu toàn ngành đã đạt
khoảng 7.700 tỷ đô la Mỹ và tăng trên 18% so với cùng kỳ năm trước. Cân đối giữa
xuất và nhập khẩu của ngành cho thấy, dù xuất khẩu tăng trưởng cao nhưng khoảng
cách giữa nhập và xuất khẩu vẫn khá sít sao, nếu tình trạng bị động về nguyên phụ liệu,
phụ thuộc vào một số thị trường cung cấp chủ lực kéo dài, thì ngành dệt may sẽ dần
đuối sức cạnh tranh. Nguồn nguyên phụ liệu đầu vào trong nước đáp ứng rất thấp
khoảng 30% nhu cầu, tính cả nước Việt Nam có khoảng 2.590 doanh nghiệp may mặc,
doanh nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu khoảng 970, riêng TP.HCM, doanh nghiệp may
mặc khoảng hơn 1.000, sản xuất nguyên phụ liệu khoảng hơn 600 doanh nghiệp, số
lượng các doanh nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu tương đối nhưng chất lượng và tiến
độ giao hàng hiện tại không đáp ứng được sự đòi hỏi của ngành may mặc trong nước,
nhất là may mặc xuất khẩu. Hơn nữa, Việt Nam cùng với 11 quốc gia khu vực châu Á-
Thái Bình Dương hiện đang trong giai đoạn nước rút đàm phán Hiệp định đối tác kinh
tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định thương mại được đánh giá
là tiêu biểu của thế kỷ 21, dự kiến sẽ được ký kết vào cuối năm nay. TPP là cơ hội để
thời gian và điều kiện về tài chính nên tác giả chỉ thu thập thông tin ở tại một số địa
điểm ở TP.HCM.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
Nghiên cứu định tính: thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận ý kiến chuyên gia
để điều chỉnh thang đo, từ đó xây dựng bảng khảo sát phù hợp với từng thang đo để
tiến hành khảo sát.
Nghiên cứu định lượng được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu chính thức với
kỹ thuật thu thập thông tin qua hình thức phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi nhằm
4
mục đích kiểm định lại thang đo lường và mô hình lý thuyết. Thang đo được kiểm định
sơ bộ bằng hệ số tin cây Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và kiểm
định mô hình nghiên cứu bằng phân tích tương quan, phân tích hồi quy tuyến tính
bội,… thông qua phần mềm xử lý thống kê SPSS.
1.5. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu giúp cho ban lãnh đạo của các nhà cung cấp nguyên phụ liệu
may mặc trong nước cũng như các doanh nghiệp cung cấp nguyên phụ liệu có vốn đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam một số cơ sở ban đầu về các nhân tố tác động đến quyết
định lựa chọn nhà cung cấp của các doanh nghiệp may mặc tại thành phố Hồ Chí
Minh.
Một số hàm ý rút ra từ nghiên cứu góp một phần vào việc xây dựng chiến lược và
kế hoạch hành động để thu hút người mua trong giai đoạn sắp tới. Cụ thể là:
Những nhân tố chính tác động vào quyết định lựa chọn nhà cung cấp nguyên phụ
liệu may mặc.
Một số hàm ý cho việc xây dựng các kế hoạch hành động đáp ứng nhu cầu đa
dạng của doanh nghiệp trong ngành may mặc tại thời điểm hiện nay.
Cuối cùng, phương pháp nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu này cũng góp
phần định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo về quyết định lựa chọn nhà cung
cấp, đặc biệt là về phương pháp đo lường, đánh giá các nhân tố. Các nhà cung cấp
6
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Thị trường tổ chức
2.1.1.1. Khái niệm thị trường tổ chức
Thị trường tổ chức bao gồm: thị trường doanh nghiệp mua tư liệu sản xuất (còn
gọi là thị trường doanh nghiệp sản xuất), thị trường người mua bán lại và thị trường
chính quyền [11].
Thị trường doanh nghiệp sản xuất
Thị trường doanh nghiệp sản xuất bao gồm những người mua hàng hóa và dịch
vụ nhằm sản xuất ra những sản phẩm và dịch vụ khác để bán, cho thuê hoặc cung cấp
cho những người khác. Họ là các doanh nghiệp sản xuất từ nhiều loại hình như sản
xuất - chế biến, xây dựng, giao thông vận tải, truyền thông, ngân hàng, tài chính, bảo
hiểm, dịch vụ, nông lâm ngư nghiệp, khai khoáng và các ngành phục vụ công cộng.
Thị trường doanh nghiệp sản xuất là thị trường tổ chức lớn nhất và đa dạng nhất.
Thị trường người mua bán lại
Thị trường người bán lại (reseller market) bao gồm tất cả những người mua sản
phẩm và dịch vụ nhằm mục đích bán lại hoặc cho cho những người khác thuê để kiếm
lời, hay để để phục vụ cho các nghiệp vụ của họ.
Nếu các doanh nghiệp trong thị trường sản xuất mua tư liệu sản xuất để sản xuất
ra những ích dụng về vật phẩm, thì những người bán lại sản xuất ra ích dụng về thời
gian, nơi chốn và sở hữu. Trong vai trò là những đại diện mua cho các khách hàng của
mình, những người bán lại mua và sở hữu các loại sản phẩm để bán lại, ngoại trừ một
số ít sản phẩm các nhà sản xuất bán trực tiếp cho khách hàng.
Thị trường chính quyền
Thị trường chính quyền (Government market) bao gồm các tổ chức chính quyền
8
Trong tiến trình mua của khách hàng tổ chức, người mua và người bán thường
phụ thuộc khá nhiều vào nhau.
Ngoài ra còn một số đặc điểm khác của khách hàng tổ chức, như xu hướng mua
trực tiếp từ người sản xuất hơn là qua trung gian; xu hướng thuê mướn thay vì mua
ngày càng tăng
Khách hàng tổ chức trong bài nghiên này chủ yếu là các doanh nghiệp kinh
doanh, sản xuất trong nước cũng như xuất khẩu thuộc lĩnh vực may mặc tại khu vực
TP.Hồ Chí Minh.
2.1.2. Quá trình mua của khách hàng tổ chức
Robinson và các cộng sự nghiên cứu đưa ra khung sơ đồ mua hàng của khách
hàng tổ chức như sau:
Bảng 2.1. Những giai đoạn chủ yếu của quá trình mua sắm công nghiệp Tình huống mua Mua phục vụ
nhiệm vụ mới
Mua lặp lại có
thay đổi
Mua lặp lại
không thay đổi
Giai
đoạn
mua
1.Ý thức vấn đề
Có
Không
8.Đánh giá kết quả
thực hiện
Có
Có
Có
9
Nguồn: Robinson, P. J., Faris, C. W., Wind, Y (1967), Industrial Buying and Creative
Marketing, Allyn & Bacon, Inc.
Mua lặp lại không có thay đổi. Mua lặp lại không có thay đổi là một tình huống
mua sắm trong đó bộ phận cung ứng đặt hàng lại theo như thường lệ (ví dụ, văn phòng
phẩm, hóa chất để rời). Người đi mua lựa chọn người cung ứng trong "danh sách đã
được duyệt", có tính đến mức độ thỏa mãn của họ trong những lần mua trước. Những
người cung ứng "được chọn" cố gắng duy trì chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Họ
thường đề nghị sử dụng hệ thống đơn đặt hàng lặp lại tự động để nhân viên cung ứng
không mất thời gian làm thủ tục tái đặt hàng. Những người cung ứng "không được
chọn" thì cố gắng chào một mặt hàng mới hay lợi dụng trường hợp người mua không
hài lòng để họ sẽ xem xét đến việc mua một số lượng nào đó của mình. Những người
cung ứng không được chọn cố gắng giành cho được một đơn đặt hàng nhỏ rồi sau đó
dần dần phấn đấu tăng "tỷ lệ hàng mua" của mình.
Mua lặp lại có thay đổi là tình huống trong đó người mua muốn thay đổi quy cách
sản phẩm, giá cả, yêu cầu giao hàng hay những điều kiện khác. Tình huống mua lặp lại
có thay đổi thường liên quan đến quyết định bổ sung về những người tham gia của cả
hai bên, bên mua và bên bán. Những người cung ứng được chọn trước đây bắt đầu lo
lắng và buộc phải cố gắng giữ khách. Những người cung ứng không được chọn trước
đấy thấy có cơ hội để đưa ra đơn chào hàng có lợi hơn nhằm giành lấy mối làm ăn mới.
Mua sắm phục vụ nhiệm vụ mới. Mua sắm phục vụ nhiệm vụ mới là tình huống
người mua phải mua một sản phẩm hay dịch vụ lần đầu tiên (ví dụ, xây dựng văn
nghiệp. Để có thể hiểu rõ các nhà phân phối, những người kinh doanh độc lập và nguồn
cung nhập khẩu.
Nhà sản xuất: hầu hết những công ty bán lẻ hay những công ty đại diện độc lập sẽ
mua hàng từ đây. Giá từ nguồn này thường rẻ nhất, nếu không kể các chi phí vận
chuyển.
11
Nhà phân phối: họ được biết đến như những nhà buôn sỉ, những nhà môi giới
hoặc kẻ đầu cơ, những nhà phân phối này mua một lượng hàng hóa lớn từ nhà sản xuất
và lưu kho để sau đó bán lại. Mặc dù giá của họ cao hơn giá các nhà sản xuất, nhưng
họ có thể cung cấp cho các đơn hàng lẻ với nhiều chủng loại khác nhau của nhà sản
xuất. Các doanh nghiệp sẽ có được cước phí vận chuyển thấp hơn và thời gian nhanh
hơn từ những nhà phân phối ở gần họ.
Những người buôn bán độc lập: bao gồm cả các nhà phân phối đơn vị, họ thường
mua thông qua các văn phòng đại diện và các showroom thương mại.
Nguồn nhập khẩu: một vài nhà bán lẻ sẽ mua hàng ở nước ngoài từ các nhà nhập
khẩu, họ hoạt động giống như những nhà buôn bán sỉ nội địa. Hoặc sẽ dựa vào mối
quan hệ của công ty với nguồn cung từ nước ngoài, hay mua hàng thông qua các hợp
đồng cộng tác với nước ngoài.
Do yếu tố đặc trưng của sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp dệt may tại
TP.HCM gia công và xuất khẩu với số lượng lớn, cần nguồn cung nguyên phụ liệu ổn
định về số lượng, chất lượng, thời gian cung ứng, giao hàng, … do đó hầu hết các
doanh nghiệp tại TP.HCM hiện nay đều mua trực tiếp từ các nhà sản xuất hay từ các
nhà phân phối lớn. Vì vậy, có thể xem các nhà cung cấp nguyên phụ liệu cho các doanh
nghiệp may mặc thuộc nhóm thứ nhất: nhà sản xuất hoặc thứ hai: nhà phân phối.
2.1.4. Một vài phương pháp lựa chọn nhà cung cấp
Có một vài phương pháp lựa chọn nhà cung cấp trong lý thuyết nghiên cứu. Một
số tác giả đề nghị mô hình tỉ trọng tuyến tính, trong đó các nhà cung cấp được đánh giá
xếp hạng thông qua các hệ số điểm được cho theo một bảng các tiêu chuẩn đánh giá
được đề nghị.
13
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu số lượng các doanh nghiệp tham gia vào ngành dệt may ở thời
điểm 2012
Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam
2.2.2. Ngành trồng bông và chế biến bông
Diện tích trồng bông năm 2010 là 10,400 ha.
Sản lượng hạt bông thu hoạch năm 2010 là 10,400 tấn.
Sản lượng sợi bông năm 2010 là 3,640 tấn.
Nhu cầu về bông cho sản xuất hàng dệt may
Nhu cầu bông cho sản xuất dệt may trong năm 2011 là 380.000 tấn, nhưng
Việt Nam chỉ có thể cung cấp 40,000 tấn, phần còn lại phải nhập khẩu từ
Châu Phi (72,000 tấn), Ấn Độ (120,000 tấn), Hoa Kỳ (130,000 tấn) và một
số nước khác.
Hiện nay chỉ có 8 nhà máy sản xuất bông đang hoạt động.
2.2.3 Ngành sản xuất sợi/xơ sợi
Số lượng cọc sơi: 4.000.000.
Sản lượng sợi/xơ sợi:
Công suất sản xuất sợi là gần 650,000 tấn/năm, dư thừa so với nhu cầu
trong nước. Vì vậy, 70% các loại sợi sản xuất là để xuất khẩu.
Hiện tại năm 2012 có khoảng 222 doanh nghiệp sản xuất sợi/xơ sợi.
DN may (2590 DN)
DN dệt (629 DN)
DN sản xuất sợi (222 DN)
DN nhuộm (148 DN)
14
2.2.4 Ngành sản xuất vải