BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN ĐỨC BẢN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN ĐỨC BẢN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
cô giáo nhà trường, bạn bè và người thân. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
và sâu sắc tới Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mậu Dũng người thầy đã tận tình
hướng dẫn, truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức và kinh nghiệm, giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND xã Ngũ Hùng, UBND xã Đoàn Tùng và
UBND xã Tứ Cường đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình
thu thập các tài liệu liên quan và quá trình thu thập số liệu của luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu cùng các thầy giáo, cô giáo Học
viện Nông nghiệp Việt nam đã trang bị các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành
luận văn này.
Sau cùng, tôi xin gửi đến những người thân trong gia đình, bạn học đã
chia sẻ niềm vui và giúp đỡ tôi khi có khó khăn, chăm sóc và động viên tôi để
hoàn thành tốt luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Bản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
4
2.1 Cơ sở lý luận về chính sách tín dụng đối với hộ nghèo
4
2.1.1 Một số khái niệm
4
40
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
42
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
42
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
42
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
44
3.1.3 Cơ cấu kinh tế chung của huyện Thanh Miện
47
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
3.1.4 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
49
54
4.1.1 Khái quát về tình hình đói nghèo ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
54
Dương
4.1.2 Kết quả cho hộ nghèo vay vốn tín dụng ở huyện Thanh Miện
55
4.2 Đánh giá tình hình thực thi chính sách tín dụng đối với hộ nghèo ở
huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
62
4.2.1 Khái quát chung tình hình các hộ điều tra:
62
4.2.2 Tình hình thực thi chính sách tín dụng đối với hộ nghèo ở các hộ điều tra
63
4.2.3 Đánh giá công tác thu hồi nợ vốn
82
4.2.4 Phân tích ảnh hưởng tình hình thực thi chính sách tín dụng đối với
hộ nghèo ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
111
PHỤ LỤC
113
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BNN&PTNT
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
CBTD
Cán bộ tín dụng
CTXH
Chính trị xã hội
CSTD
Chính sách tín dụng
Học sinh sinh viên
MTTQ
Mặt trận tổ quốc
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TD
Tín dụng
TDNH
Tín dụng ngân hàng
TCTK
Tổng cục thống kê
LĐTB&XH
LĐNN
NHCSXH
Lao động thương binh và xã hội
Lao động nước ngoài
Ngân hàng chính sách xã hội
45
3.2
Tình hình dân số và lao động của huyện 3 năm 2012-2014
47
3.3
Kết quả phát triển kinh tế huyện Thanh Miện
48
4.1
Số hộ nghèo của huyện Thanh Miện qua các năm 2012- 2014
55
4.2
Tình hình nguồn vốn cho vay đối với hộ nghèo 2012 - 2014
57
4.3
Tình hình dư nợ cho vay đối với hộ nghèo thời kỳ 2012 – 2014
62
4.9
Tình hình thực thi chính sách tín dụng đối với hộ nghèo ở các hộ
điều tra
4.10
63
Kết quả điều tra về công tác tuyên truyền chính sách trên địa bàn
huyện Thanh Miện
65
4.11
Đánh giá tình hình thực hiện công tác tuyên truyền
66
4.12
Kết quả công tác xác định hộ nghèo và đối tượng được nhận chính
sách hỗ trợ
4.13
4.18
Ý kiến của hộ dân về công tác kiểm tra giám sát vay vốn
81
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
4.19
Ý kiến đánh giá của hộ dân về công tác thu hồi nợ vốn
83
4.20
Tình hình thu hồi nợ vay và nợ quá hạn thời kỳ 2012– 2014
83
4.21
Trình độ CBTD ngân hàng chính sách huyện Thanh Miện năm
2010-2014
85
56
4.2
Phân bố đối tượng theo nhóm tuổi
62
4.3
Quy trình cho vay hộ nghèo của NH CSXH huyện Thanh Miện
73
DANH MỤC HÌNH
Số hình
3.1
Tên hình
Bản đồ địa chính huyện Thanh Miện năm 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Trang
42
Page ix
PHẦN I
Page 1
huyện có 18 xã và 01 thị trấn, dân số đông, lao động nông nghiệp nhàn dỗi, tỷ lệ hộ
nghèo còn tương đối cao chiếm 5,5%. Hoạt động tín dụng, đặc biệt là tín dụng cho
hộ nghèo đã góp phần không nhỏ cho công cuộc xoá đói giảm nghèo. Trong đó
Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) là một tổ chức tín dụng chính thống có vai
trò quan trọng đặc biệt trong toàn bộ hệ thống tín dụng phục vụ công cuộc xoá đói
giảm nghèo. Mặc dù đã và đang nỗ lực rất lớn, cơ chế ngày càng hoàn thiện hơn, thủ
tục vay vốn ngày càng thông thoáng, đơn giản để người nghèo tiếp cận với đồng vốn
dễ dàng hơn, tuy nhiên, còn có nhiều vấn đề nảy sinh cả từ phía người cho vay và
người đi vay như cho vay không đúng đối tượng; mức vốn vay, thời hạn cho vay
còn hạn chế và chưa phù hợp với từng đối tượng, từng mục đích, hiệu quả sử dụng
vốn vay thấp và đặc biệt một vấn đề nảy sinh là việc quản lý vốn cho hộ nghèo vay
chưa thực sự hiệu quả (Ngân hàng chính sách Việt Nam, 2014).
Vì vậy, những kết quả đạt được vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi và kỳ vọng
của Nhà nước và nhân dân, tác động của vốn tín dụng đối với hộ nghèo còn thấp
(Ngân hàng chính sách Việt Nam, 2014).
Từ thực tiễn đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tình hình thực
thi chính sách tín dụng đối với hộ nghèo trên địa bàn huyện Thanh Miện, tỉnh
Hải Dương”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích đánh giá thực trạng, kết quả của việc thực thi chính sách tín
dụng đối với hộ nghèo ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Từ đó, đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao kết quả, hiệu quả thực thi chính sách, tín dụng hộ nghèo
trên địa bàn huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách tín dụng
đối với hộ nghèo.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về chính sách tín dụng đối với hộ nghèo
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Người nghèo
1) Khái niệm và quan niệm về nghèo đói
Cho tới nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về nghèo đói, vì nghèo đói
là một trạng thái có tính động. Nó thay đổi theo không gian và thời gian, xuất
phát điểm căn nguyên của nó là: sự phát triển của sản xuất, mức tăng trưởng kinh
tế, sự tăng lên về nhu cầu của con người, những biến động của xã hội (Ngân hàng
thế giới, 2013).
Uỷ ban kinh tế khu vực Châu á Thái Bình Dương (ESCAP) năm 1993 đã
đưa ra định nghĩa: “Nghèo đói là một tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thoả mãn nhu cầu của con người và đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo
trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
(Bộ Lao động Thương Binh và xã hội, 2005).
Tại hội nghị thượng đỉnh Quốc tế về tín dụng vi mô đã nhận định “Nghèo
đói là nỗi bức xúc của thời đại” và đã đưa ra khái niệm chung về nghèo đói như
sau: Người nghèo đói là những người có mức sống nằm dưới chuẩn mực nghèo
đói của từng quốc gia kể từ dưới lên (Ngân hàng chính sách, 2014).
Ngân hàng phát triển Châu á đã đưa ra khái niệm nghèo đói tuyệt đối và
nghèo đói tương đối như sau:
Nghèo đói tuyệt đối là hiện tượng xảy ra khi mức thu nhập hay tiêu dùng
của một người hay của một hộ gia đình giảm xuống mức thấp hơn giới hạn nghèo
giúp họ. Quan điểm này đứng trên nhìn xuống, coi thường người nghèo, đưa tay
cứu giúp họ, không tin tưởng ở họ, hạn chế việc khai thác tiềm năng của họ
(Ngân hàng Thế giới, 2013).
Hai là, người nghèo đói cũng là con người, cũng được sinh ra như những
người khác, chẳng qua họ không có cơ hội để làm được những điều mà người khá
giả làm được. Đói nghèo đã cướp đi quyền con người, do đó nếu tạo ra được cơ
hội cho họ để họ vượt qua đói nghèo thì họ có thể làm được những điều mà người
khác làm được (Ngân hàng thế giới, 2013).
Quan điểm này tôn trọng người nghèo, đặt niềm tin vào họ nên đã giúp họ
phát huy khả năng vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước (Ngân hàng thế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
giới, 2013).
Như vậy, nghèo có thể xảy ra với một người nào đó khi những người này
không có cơ hội, điều kiện làm ăn như những người khác hoặc có điều kiện
nhưng họ gặp rủi ro trong quá trình làm ăn dẫn đến mất vốn, tài sản nên xảy ra
tình trạng nghèo đói.
2) Hộ cận nghèo
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000
đồng đến 520.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu
nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng (Chính phủ,
2011).
Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách
an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác (Ngân hàng thế giới, 2013).
Chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hay chi tiêu, được qui đổi thành tiền, xuất
phát từ quan niệm là để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản tối thiểu, mỗi người cần
phải có một khoản thu nhập/chi tiêu ở mức độ tối thiểu để thỏa mãn các nhu cầu
dụng được các cơ hội có lợi từ bên ngoài (Nguyễn Văn Định, 2008).
Thứ tư, các hộ gia đình nghèo có xu hướng là hộ đông người với tỷ lệ
người ăn theo cao. Các hộ gia đình đông con và ít lao động đa phần là nghèo.
Trong năm 1998, mỗi bà mẹ trong nhóm nghèo nhất có trung bình 3,5 con, so với
2,1 con trong nhóm giàu nhất (Đỗ Thiên Kính, 2013).
Thứ năm, phần lớn người nghèo thường sống ở các vùng nông thôn, các
vùng xa xôi hẻo lánh dễ bị thiên tai tác động, là những nơi có cơ sở hạ tầng vật
chất tương đối kém phát triển. Do mức thu nhập của họ rất thấp và không ổn
định, họ có khả năng tiết kiệm thấp và khó có thể đương đầu với tình trạng mất
mùa, mất việc làm, thiên tai, suy sụp sức khoẻ và các tai hoạ tiềm năng khác.
4) Tiêu chí để xác định nghèo đói
- Theo quan niệm của thế giới
Việc xác định một công cụ để lượng hoá tỷ lệ nghèo đói, số lượng người
nghèo đói phần nào còn mang tính chủ quan và có nhiều quan điểm khác nhau.
Ngay cả trong một quốc gia cũng có nhiều tiêu chuẩn khác nhau, thậm chí giữa
các vùng cũng có nhiều tiêu chuẩn khác nhau.
Hiện nay trên thế giới người ta thường sử dụng hai thước đo cụ thể để
lượng hoá tỷ lệ nghèo đói. Hầu hết các nghiên cứu dùng số liệu tỷ lệ nghèo đói dựa
trên cơ sở chuẩn thu nhập 1 USD/người/ngày. Một số nghiên cứu khác lại dùng
thay đổi tỷ phần thu nhập của nhóm 20% nghèo nhất trong tổng thu nhập như một
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
thước đo gần đúng để đo sự thay đổi về nghèo đói (Ngân hàng Thế giới 2012).
Vì thế, trong quá trình nghiên cứu nghèo đói tuỳ theo đặc điểm của từng
quốc gia, của từng vùng mà nên sử dụng chuẩn nghèo của quốc gia đó, vùng đó
là thích hợp nhất (Nguyễn Văn Định, 2008).
- Quan điểm của Việt Nam
quan tâm và hỗ trợ về mọi mặt. Hộ cận nghèo là những những hộ ở ngưỡng thoát
nghèo nhưng có khả năng trở lại hộ nghèo, việc phân chia chuẩn hộ nghèo và hộ
cận nghèo nhằm mục tiêu giảm nghèo bền vững và có các chính sách an sinh xã
hội và chính sách kinh tế - xã hội phù hợp với từng đối tượng (Nguyễn Văn
Hưởng, 2013).
2.1.1.2 Tín dụng
1) Tín dụng là gì?
Tín dụng là một ”phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho
vay và người vay. Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao
quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho người đi vay trong một thời gian nhất
định, khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc giá trị
hàng hoá đã vay kèm theo một khoản lãi”(Nguyễn Văn Hưởng, 2013).
Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình
tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời
cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả .
Theo luật các tổ chức tín dụng 2010: Tín dụng là việc thỏa thuận để tổ
chức, cá nhân sử dụng 1 khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng 1 khoản tiền
theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài
chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác
Tín dụng là một hiện tượng kinh tế, nảy sinh trong điều kiện nền sản xuất
hàng hoá. Sự ra đời và phát triển của tín dụng không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu
điều hoà vốn trong xã hội mà còn là một tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
gần đây tín dụng được xem như một công cụ quan trọng trong chiến lược xoá đói
giảm nghèo.
Về bản chất, tín dụng được hiểu là một phạm trù kinh tế hoạt động rất đa
dạng và phong phú, nó thể hiện quan hệ giữa hai mặt: người sở hữu tiền, hàng
hoá cho người khác sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và phải hoàn
trả với một giá trị lớn hơn số vốn ban đầu cho người sở hữu. Phần chênh lệch đó
gọi là lợi tức tín dụng. Sự hoàn trả cả vốn lẫn lãi là đặc trưng bản chất của tín
dụng để có thể phân biệt với các phạm trù kinh tế khác. Cùng với sự phát triển
thì hoạt động tín dụng bao gồm các hoạt động sau: hoạt động huy động vốn và
hoạt động cho vay vốn. Hoạt động huy động vốn: Thông qua hoạt động tín dụng,
các tổ chức tín dụng huy động và tập trung được các khoản vốn tiền tệ tạm thời
nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi chưa có nhu cầu
sử dụng của ngân sách Nhà nước, của các tổ chức, các tầng lớp dân cư trên quy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
mô toàn xã hội. Do đó, các tổ chức tín dụng có được một nguồn vốn tín dụng để
đầu tư cho các ngành kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu tư cho toàn xã hội. Để huy
động triệt để các nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi trong toàn xã hội, các tổ chức tín
dụng có nhiều biện pháp như thông tin, quảng cáo, đa dạng hoá hình thức nhận
tiền gửi, thực hiện lãi suất tiền gửi hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng
khi gửi tiền cũng như khi rút tiền, đảm bảo an toàn tuyệt đối với tiền gửi của
khách hàng, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng (Nguyễn Văn Định, 2008).
Xét theo góc độ hoạt động cho vay của một tổ chức tín dụng đối với một
đối tượng vay thì hoạt động tín dụng là hoạt động cho vay đối với khách hàng.
Hoạt động này được tính từ khi cho vay đến khi thu được tiền vay về, vì vậy sự
vận động của vốn tín dụng trải qua ba giai đoạn.
+ Giai đoạn cho vay: vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hoá được chuyển
từ người cho vay sang người đi vay. Như vậy, khi cho vay, giá trị vốn tín dụng
được chuyển sang người đi vay, đây là đặc điểm cơ bản khác với việc mua bán
hàng hoá thông thường. Bởi vì trong quan hệ mua bán hàng hoá thì giá trị chỉ
thay đổi hình thái tồn tại. Trong việc cho vay, chỉ có một bên nhận được giá trị,
vì cũng chỉ có một bên nhượng giá trị thôi
+ Giai đoạn sử dụng vốn vay: sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng,
người đi vay được sử dụng giá trị đó để thoả mãn mục đích của mình.
Ở giai đoạn này, vốn vay được sử dụng trực tiếp. Tuy nhiên, người đi vay
quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện
đường lối ấy. Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một
mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề
ra. Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó
của Chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách
làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển
toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường.
Cấu phần của chính sách bao gồm: Dự định (intentions) là mong muốn của
chính quyền; Mục tiêu (goals) là dự định được tuyên bố và cụ thể hóa; Đề xuất
(proposals) là các cách thức để đạt được mục tiêu; Các quyết định hay các lựa
chọn (decisions or choices); Hiệu lực của chính sách (effects) (Ngân Hàng thế
giới, 2014).
Chính sách bao gồm chính sách công và chính sách tư. Chính sách tư chỉ
nhằm giải quyết vấn đề nội bộ của một cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Ở đây
chúng ta chỉ nghiên cứu chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
của Chính phủ (trực tiếp hoặc gián tiếp) có ảnh hưởng đến đời sống xã hội, cuộc
sống của người dân (Nguyễn Văn Định, 2008).
Chính sách công là những quy định về ứng xử của Nhà nước với những
hiện tượng nảy sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện dưới những hình
thức khác nhau một cách ổn định, nhằm đạt được mục tiêu định hướng (Nguyễn
Văn Định, 2008).
Chính sách công do Nhà nước ban hành và phải tác động đến đời sống của
cộng đồng, có mục tiêu và ổn định, phải chứa đựng cả muc tiêu và biện pháp chính
trị và đặc biệt là phù hợp với đường lối của Nhà nước (Nguyễn Văn Định, 2008).
Chính sách công có cấu trúc gồm 2 bộ phận:
của cuộc sống (Nguyễn Văn Định, 2008).
3) Các căn cứ để thực thi chính sách
- Nghị quyết Đảng, Nghị quyết, ý kiến kết luận của Bộ Chính trị đưa ra
định hướng chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Để thực hiện các định hướng
này cần phải nghiên cứu và ban hành hàng loạt các chính sách cụ thể có liên quan
như chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế.
- Hiến pháp năm 1992: Hiến pháp đưa ra một số chính sách mang tính
định hướng, như: chính sách dân tộc, đối ngoại, kinh tế, giáo dục, khoa học và
công nghệ.
- Các văn bản quy phạm pháp luật: Luật, pháp lệnh, nghị quyết, lệnh, quyết
định, Nghị định, nghị quyết, thông tư, chỉ thị của các cấp từ TW đến địa phương
- Cam kết quốc tế: Các cam kết trong các điều ước quốc tế song phương,
đa phương mà Việt Nam là thành viên là những chính sách mang tính định hướng
hoặc cụ thể. Việc thực hiện những chính sách này có thể được thực hiện bằng
việc nội luật hoá vào pháp luật Việt Nam hoặc áp dụng trực tiếp.
- Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển ngành: Một số chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành có quy định về định hướng chính
sách hoặc chính sách cụ thể cho phát triển ngành (La Hoàn, 2013).
4) Các bước tổ chức thực thi chính sách
Trong việc thực thi chính sách thì bao gồm các bước cơ bản sau đây:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Đây là bước cần thiết và quan trọng vì tổ chức thực thi chính sách là quá
trình phức tạp, lại diễn ra trong thời gian dài do đó phải có kế hoạch. Kế hoạch
này phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống, các cơ quan
triển khai từ TW đến địa phương đều phải lập kế hoạch bao gồm các bước sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15