BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
===
===
NGHIÊM THỊ PHƯƠNG LAN
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ DÒNG,
GIỐNG LÚA THUẦN CHO CÁC TỈNH PHÍA BẮC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
===
===
NGHIÊM THỊ PHƯƠNG LAN
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ DÒNG,
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thị Trâm đã
tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin cảm ơn tập thể cán bộ phòng Công nghệ lúa lai đã tạo điều kiện,
giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sau đại học, Khoa
Nông học, bộ môn Di truyền và chọn giống cây trồng – Học viện Nông nghiệp
Việt Nam đã quan tâm giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá
trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của nhiều đồng nghiệp, bạn
bè, cùng với sự động viên khuyến khích của gia đình trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2015
Tác giả
Nghiêm Thị Phương Lan
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
4 Ý nghĩa của thực tiễn của đề tài
3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa gạo trên thế giới
4
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
4
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo tại Việt Nam
7
1.2 Những nghiên cứu về cây lúa
9
1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới
9
1.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
2.4 Phương pháp nghiên cứu
26
2.4.1 Bố trí thí nghiệm:
26
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
28
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
36
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
38
3.1 Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển giai đoạn mạ.
38
3.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng
61
3.10 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
62
3.10.1 Các yếu tố cấu thành năng suất
62
3.10.2 Năng suất
65
3.11 Một số chỉ tiêu về chất lượng gạo vụ mùa 2014
69
3.12 Giới thiệu một số dòng giống có triển vọng
73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
74
1 Kết luận
74
ĐBSH
Đồng bằng sông Hồng
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
đ/c
đối chứng
FAO
Tổ chức nông lương thế giới
KD 18
Giống lúa Khang dân 18
M
Mùa
NN$PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NSC
TB
Trung bình
TD
Thon dài
TT 800
Thiên trường 800
X
Xuân
USDA
Bộ nông nghiệp Mỹ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
TT bảng
Một số đặc điểm mạ của các dòng, giống khi cấy ở vụ Xuân 2015
39
3.3
Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các dòng, giống ở vụ
Mùa 2014
3.4
41
Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các dòng, giống ở vụ
Xuân 2015
43
3.5
Một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống thí nghiệm.
46
3.6
Tốc độ ra lá của các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm trong vụ
Mùa 2014
3.7
Xuân 2015
3.12
56
Một số đặc điểm nông sinh học của các dòng, giống tham gia thí
nghiệm vụ mùa 2014 và xuân 2015
3.13
58
Mức độ nhiễm sâu bệnh của các dòng, giống lúa thí nghiệm trong
vụ mùa 2014 và xuân 2015
3.14
60
Phản ứng của các dòng với một số chủng Xanthomonas oryzea gây
bệnh bạc lá lúa trong lây nhiễm nhân tạo(vụ mùa 2014)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
61
Page vii
3.20
Chất lượng cơm của các dòng, giống thí nghiệm vụ Mùa 2014
72
3.21
Một số đặc điểm cơ bản của các dòng, giống được chọn so với đ/c
73
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực quan trọng trên thế giới. Một
nửa dân số trên thế giới lấy lúa gạo làm lương thực chính, đặc biệt là các quốc
gia ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới như Châu Phi, Châu Mỹ la tinh và Châu Á.
Nhu cầu về lương thực không ngừng tăng lên, trong khi diện tích canh tác đang
có xu hướng bị thu hẹp. Đây là thách thức lớn đối với vấn đề an ninh lương thực
toàn cầu.
Việt Nam có nghề trồng lúa từ hàng ngàn năm nay, người Việt Nam coi
sản xuất lúa gạo là chiến lược hết sức quan trọng để đảm bảo an ninh lương thực
quốc gia. Từ một nước thiếu lương thực triền miên trong những năm trước 1989,
sau đó đến nay nông nghiệp nước ta không chỉ sản xuất đủ lương thực đáp ứng
nghiệp chế biến xuất khẩu và người sản xuất. Trên cơ sở đó, công ty kinh doanh
lúa gạo chịu trách nhiệm về thương hiệu của công ty (Bộ NN&PTNT, 2013).
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), thương mại lúa gạo toàn
cầu tăng 2,4% hàng năm từ 2007 đến 2016. Đến năm 2016 thương mại lúa gạo
toàn cầu đạt mức 35 triệu tấn, tăng gần 25% so với mức năm 2002. Trong những
năm tới gạo trắng, hạt dài sẽ được nhập khẩu bởi nhiều nước Đông Nam Á,
Trung Đông, các nước Châu Mỹ La Tinh…và dự tính chiếm khoảng 75% thị
trường lúa gạo toàn cầu. Gạo hạt ngắn và hạt trung bình dự kiến tăng 10-12%
thương mại toàn cầu với các nước nhập khẩu chủ yếu là Nhật bản, Hàn Quốc,
Đài Loan…
Những thành tựu đạt được trong chọn tạo giống thời gian qua có thể coi
là tiến bộ đột phá lớn góp phần nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng lúa gạo ở thị
trường nội địa cũng như xuất khẩu. Ở miền bắc Việt Nam, sản xuất lúa gạo là một
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
nghề truyền thống đã có từ lâu đời. Nhưng việc sử dụng giống lúa đạt tiêu chuẩn để
phục vụ cho sản xuất của người dân còn gặp nhiều hạn chế. Để đáp ứng yêu cầu nói
trên ngoài việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tốt thì việc nghiên cứu,
chọn tạo các giống lúa mới sinh trưởng, phát triển, chống chịu sâu bệnh và cho năng
suất cao thích ứng với điều kiện của vùng để thay thế những giống lúa cũ đã bị thoái
hóa đang là một vấn đề cần sự quan tâm và đầu tư thỏa đáng.
Để góp phần giải quyết những vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu tuyển chọn một số dòng, giống lúa thuần cho các tỉnh phía Bắc
Việt Nam”.
2. Mục đích của đề tài
Tuyển chọn được dòng, giống lúa thuần có năng suất cao, chất lượng tốt,
TGST phù hợp cho vụ Xuân và vụ Mùa ở miền Bắc Việt Nam do viện Nghiên
do áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào trong sản xuất nông
nghiệp nên năng suất của Châu Âu (6,00 tấn/ha) lại cao hơn so với Châu Á (4,61
tấn/ha) là 1,39 tấn/ha.
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở các châu lục trên thế giới năm 2013
Khu vực
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(triệu ha)
(tấn/ha)
(triệu tấn)
Thế giới
164,7
4,53
745,7
Châu Á
146,5
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Diện tích trồng lúa trên thế giới không ngừng tăng qua các năm qua. Năng
suất không ngừng được cải thiện. Năm 1960, năng suất lúa bình quân trên thế
giới là 1,04 tấn/ha (IRRI, CIAT,WARDA,1997). Từ sau cuộc cách mạng xanh
của thế giới 1965 – 1970, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp làm cho năng suất luôn được cải thiện, bảng 1.1 cho thấy đến năm 2013
năng suất lúa bình quân trên toàn thế giới đạt 4,53 tấn/ha.
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo của một số nước
trên thế giới năm 2013
Diện tích (tr.ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (tr.tấn)
Ấn Độ
42,40
3,72
157,80
Việt Nam
7,75
3,00
3,09
9,29
Argentina
0,24
6,67
1,57
Myanma
8,15
3,45
28,08
Trung Quốc
30,40
6,72
205,94
Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực phát triển lúa lai và người dân
nước này có tinh thần lao động cần cù, có trình độ thâm canh cao (ICARD,
2003). Nhật Bản là nước có trình độ khoa học kỹ thuật cao, đầu tư lớn (Nguyễn
Hữu Hồng, 1990) nên năng suất lúa của họ cao nhất trong bảng 1.2.
Theo dự báo của Ban Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA,
2009), trong giai đoạn 2007-2017, các nước sản xuất gạo ở châu Á sẽ tiếp tục là
nguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới, bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ.
Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa
tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới. Một số nước khác cũng sẽ đóng góp giúp
tăng sản lượng gạo thế giới như: Ấn Độ, Bangladesh, Philippines. Sản lượng gạo
thế giới 2013-2014 giảm xuống khoảng 494 triệu tấn, nhưng vẫn tăng khoảng 1%
so với 2012-2013 do triển vọng vụ mùa xấu đi ở Trung Quốc và Ấn Độ. Dự báo
tiêu thụ gạo toàn cầu 2013-2014 sẽ đạt 489 triệu tấn, tăng khoảng 2,6% hoặc 12
triệu tấn so với năm trước (Lin, 2011).
Tại Thái Lan, theo Forssel (2009) chính phủ đã có nhiều chính sách tác
động đối với thị trường lúa gạo nước này để hỗ trợ cho hàng triệu nông dân Thái,
trong đó nổi bật là chương trình trợ giá của chính phủ Thái cho người trồng lúa
vào tháng 11/2011 nhằm đảm bảo người trồng lúa bán được giá cao nhất. Do giá
lúa gạo năm 2012 trên thị trường rất thấp nên lượng thóc mà chính phủ Thái lan
phải mua với giá cao để lưu kho rất lớn. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến khả
năng xuất khẩu gạo của Thái Lan.
Tại Ấn Độ, lúa gạo và lúa mỳ là cây lương thực chính. Trong khoảng 3
thập niên trước, diện tích lúa gạo tại Ấn Độ bị suy giảm nhiều do năng suất kém.
Tuy nhiên, trong vòng 5 năm trở lại đây, chính phủ có nhiều chính sách hỗ trợ
cho phát triển sản xuất và tìm kiếm thị trường cho lúa gạo Ấn Độ như chương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
Theo tổng cục thống kê, tổng diện tích đất nông nghiệp thời điểm 2013 tại
Việt Nam gần 26,37 triệu ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp gần
10,21 triệu ha , đất trồng lúa hơn 4,10 triệu ha (Tổng cục thống kê, 2013).
Trước năm 1945, diện tích trồng lúa ở 2 đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ là
1,8 triệu và 2,7 triệu ha với năng suất bình quân 13 tạ / ha và sản lượng thóc
tương ứng 2,4 - 3,0 triệu tấn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Năm 1945 nước ta đang
phải đối mặt với nạn đói của thế kỉ, khiến hơn 2 triệu người chết vì đói, nhưng
đến nay, bằng mọi nỗ lực Việt Nam đã vươn lên là nước xuất khẩu lúa gạo đứng
thứ hai thế giới sau Thái Lan.
Nhiều năm qua, sản xuất lúa ở Việt Nam đã có những thành tựu đặc biệt ấn
tượng, mà dấu mốc lịch sử là năm 1989, Việt Nam từ một nước thiếu lương thực
lần đầu xuất hiện là nước xuất khẩu gạo với số lượng lên đến 1 triệu tấn kết thúc
tình trạng thiếu lương thực trong một thời kỳ dài trước đó. Sản xuất lúa toàn quốc
được phân bố trên 6 vùng kinh tế cơ bản . Trong đó, 3 vùng lúa quan trọng là
Đồng bằng Sông Hồng (chiếm17,6% sản lượng); khu vực Bắc Trung bộ &
Duyên hải Miền Trung (16,1% sản lượng); và Đồng bằng Sông Cửu Long
(52,8% sản lượng) (Nguyễn Văn Sơn, 2013).
Trong vòng hơn 10 năm tình hình sản xuất lúa ở nước ta có nhiều diễn biến
thay đổi do chiều hướng biến đổi khí hậu toàn cầu và sự thay đổi của thị trường thế
giới. Qua bảng 2.4 cho thấy diện tích trồng lúa cả nước năm 2000 là 7666,3 nghìn
ha, sau đó giảm dần qua các năm do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và hướng sử
dụng đất nông nghiệp. Năm 2008 diện tích và sản lượng đã tăng lên và tới năm
2013 diện tích là 7899,4 nghìn ha, sản lượng là 44076,1 nghìn tấn. Sản lượng lúa
tăng do đã áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất một cách đúng đắn
như sử dụng các giống lúa mới, kỹ thuật bón phân hợp lý, đầu tư thâm canh tốt.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
2002
7504,3
45,9
34.447,2
2003
7452,2
46,4
34.568,8
2004
7445,3
48,6
36.148,9
2005
7329,2
48,9
52,4
38.950,2
2010
7489,4
53,4
40.005,6
2011
7651,4
55,3
42.324,9
2012
7761,2
56,4
43737,8
2013 (Sơ bộ)
Trên thế giới người ta quan tâm đến việc bảo tồn nguồn gen nói chung,và
nguồn gen cây lúa nói riêng từ những thập kỷ trước đây. Ngay từ những năm
1924 Viện nghiên cứu cây trồng Liên Xô (cũ) đã được thành lập, nhiệm vụ chính
là thu nhập và đánh giá bảo tồn nguồn gen cây trồng. Tổ chức Lương thực và
nông nghiệp Thế giới (FAO) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đề ra phương
hướng thúc đẩy việc xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho việc giữ gìn tài
nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích lâu dài của nhân loại. Trong vùng nhiệt
đới và Á nhiệt đới đã hình thành nhiều tổ chức quốc tế, đảm nhận việc thu thập
tập đoàn giống trên thế giới đồng thời cung cấp nguồn gen để cải tạo giống lúa
trồng (Trần Đình Long, 1992; Nguyễn Văn Hoan, Nguyễn Thị Trâm,1995)
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về phương hướng chọn tạo giống lúa.
Dựa trên những kết quả đạt được Khush (1990) đã tổng kết mô hình kiểu cấu trúc
cây lúa mới có năng suất cao là có 3-4 nhánh trên khóm, thời gian sinh trưởng từ
100-130 ngày, thân cứng chống đổ, lá phẳng, dày, xanh đậm, có từ 200-250 hạt
chắc trên bông, hệ thống rễ khỏe, chống chịu nhiều loại sâu bệnh hại, chiều cao
cây từ 90-100cm, tiềm năng năng suất từ 10-13 tấn/ha.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Dựa trên quan hệ kiểu cây và năng suất, Jennings (1997) đã nhấn mạnh
rằng biện pháp chọn giống có thể tiến đến một kiểu cây cải tiến cho vùng nhiệt
đới là những giống chín sớm, chống chịu bệnh đạo ôn, thấp cây, chống đổ.
Theo Yoshida (1979), các giống lúa thấp cây, ngắn ngày là hướng chọn tạo
mới của các nhà chọn tạo giống trên thế giới do có những ưu điểm như các giống
chín sớm có tổng tích ôn thấp, các giống thấp cây có chiều hướng để nhánh nhiều
hơn, những giống chín sớm thường phản ứng với đạm cao, lá đứng thẳng, ngắn,
dày, hẹp và xanh đậm. Những giống chín sớm thường có thân cây thấp và cứng
giúp cây chống đổ tốt.
lúa ở Trung Quốc. Giai đoạn 2007-2015: Tiếp tục chương trình siêu lúa lai với
mục tiêu đạt năng suất 13,5 tấn/ha trên diện rộng, trên diện hẹp tạo ra giống lai
dự kiến có năng suất 15-20 tấn/ha/vụ. Các giống lúa có năng suất cao, phẩm chất
tốt như Thụy Hương 506, Thụy hương 308, Dưu 527, Nhị Ưu 838, …đã nhập
vào Việt Nam (Hồ Đình Hải, 2010a; Lin, 2011).
Thái Lan là nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới, cũng là một trong các
nước đứng đầu thế giới về chất lượng lúa gạo. Từ năm 1950, Thái Lan đã làm
thuần các giống lúa địa phương và đưa vào trong sản xuất các giống lúa cổ truyền.
Ngày nay, tại nước này vẫn đang tiếp tục nghiên cứu và sử dụng rất nhiều giống
lúa chọn tạo từ các giống cổ truyền. Năm 1916, trại thí nghiệm lúa đầu tiên được
thành lập và chương trình lai tạo giống cũng như các công tác nghiên cứu mọi mặt
đã được thiết lập. Các trung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh
và khu vực trong nước với nhiệm vụ chính là tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai
tạo các giống lúa để cung cấp phục vụ cho nông nghiệp nước nhà và xuất khẩu.
Hiện nay, công tác chọn tạo giống lúa là một trong những nhiệm vụ chính của
Phòng Nghiên cứu Phát triển lúa và 27 Trung tâm Nghiên cứu lúa trực thuộc.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Phòng Nghiên cứu và Phát triển Lúa cũng chịu trách nhiệm sản xuất 2.500 tấn hạt
giống lúa nguyên chủng hàng năm (Sommart jongwanich, 2009). Nghiên cứu và
sản xuất lúa chất lượng cao cũng đặc biệt được quan tâm tại Thái Lan. Để tăng
cường tính cạnh tranh trên thị trường lúa gạo thế giới, Thái Lan đã có những
chương trình nghiên cứu lớn, hàng năm đầu tư hàng trăm triệu đô la Mỹ cho việc
phát triển những giống lúa thơm, hạt dài và có chất lượng cao (Vannavichit et al.,
2004). Tiêu chí chọn giống của Thái Lan là các giống lúa trung ngày và dài ngày,
hạt gạo dài, trong, có chất lượng cao, giống lúa nổi tiếng nhất là Khao Dawk Mali
hầu hết là giống bản địa hoặc giống lúa được lai tạo tại các cơ sở nghiên cứu. Ấn
Độ, Bangladest, Pakistan là các nước có nguồn gen lúa chất lượng phong phú,
đáng chú ý nhất là giống lúa Basmati 370. Hiện nay các nước này đang tích cực
thực hiện chương trình cải tiến giống lúa, tạo ra các giống lúa mới có năng suất,
chất lượng cao và mang gen chất lượng của giống Basmati (Abbas, 1998).
Không chỉ ở Châu Á, ở Mỹ công tác nghiên cứu các giống lúa cũng được
chú trọng, không chỉ quan tâm đến việc chọn lọc, lai tạo để đưa ra các giống lúa
có năng suất cao mà còn nghiên cứu về chất lượng và dinh dưỡng trong hạt gạo
của các giống để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Có rất nhiều nhà khoa học trên khắp thế giới đã và đang nghiên cứu các
giống lúa nhằm mục đích đưa ra những giống lúa có năng suất cao, phẩm chất
tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, thâm canh phù hợp với
từng khu vực.
1.2.2. Nghiên cứu tại Việt Nam
Công tác giống là biện pháp tối ưu nhất để tăng năng suất cây trồng, sử
dụng giống tốt có thể cho năng suất cao hơn so với giống bình thường từ 10 30% hoặc cao hơn nữa. Trong khi đó, việc áp dụng các biện pháp khác như kỹ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
thuật canh tác hay đầu tư phân bón chỉ có thể làm cho năng suất của giống tăng
không quá 7%. Nhận thấy tầm quan trọng của giống trong hoạt động sản xuất
nông nghiệp nên nước ta đã có chính sách đầu tư thích đáng cho công tác
nghiên cứu, thu thập, chọn lọc, lai tạo và khảo nghiệm, kiểm nghiệm giống.
Các Viện, Trung tâm nghiên cứu, Trường Đại học,... đã được đầu tư về nhân
lực, tài chính, khoa học kỹ thuật và đã tuyển chọn ra nhiều giống mới có năng
suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu được sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất
lợi để đưa vào sản xuất đại trà. Chính vì vậy mà trong khoảng 20 năm trở lại
Bình, Thái Nguyên, Yên Bái và một số địa phương khác (Trần Văn Đạt, 2014).
Nghiên cứu ứng dụng về cây lúa trong thời gian qua đóng góp vào sự
phát triển nông nghiệp Việt Nam là kết quả với sự hợp tác giữa nhà quản lý, các
tổ chức nghiên cứu ứng dụng trong nước và hợp tác quốc tế và đã đạt được nhiều
thành tựu đáng kể: thu thập đánh giá nguồn vật liệu giống lúa địa phương phục
vụ chọn tạo giống lúa cho vùng núi Tây Bắc Việt Nam của Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) với phương pháp điều
tra, thu thập, phân loại giống địa phương và chọn lọc cá thể theo chu kỳ để làm
vật liệu di truyền lai tạo giống lúa cho vùng núi phía Bắc Việt Nam như : G4, G6,
G10, G13, G14, G19, G22, G24; nghiên cứu các giống lúa phẩm chất cao phục
vụ đồng bằng sông Cửu Long của Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu
Long với phương pháp ứng dụng công nghệ sinh học (marker phân tử, nuôi cấy
túi phấn) kết hợp với khảo nghiệm đồng ruộng để chọn tạo giống lúa ngắn ngày,
năng suất cao, chất lượng gạo tốt như OM1490, OM2517, OM3536, OM2717,
OM2718, OM3405, OM4495, OM4498, OM2514 trồng rộng rãi ở vùng sản xuất
ngập lũ đồng bằng Sông Cửu Long...(Vũ Ngọc Dương, 2008).
Các giống Nếp 87, Nếp 87-2, Nếp 97 là những giống Nếp được chọn tạo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16