MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
ii
LỜI CẢM ƠN
iii
MỤC LỤC
iv
DANH MỤC HÌNH
ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
x
MỞ ĐẦU
1
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
4
1.1. Đánh giá diễn biến của biến đổi khí hậu trên thế giới:
21
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
21
2.2. Nội dung nghiên cứu
21
2.3. Phương pháp nghiên cứu
22
2.3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
22
2.3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
22
2.3.3. Phương pháp dự báo
22
2.3.4. Phân tích số liệu trên excel
25
3.2.2. Hiện trạng sản xuất hai cây trồng chủ lực (lúa và ngô) tại tỉnh Thái
Bình
36
3.2.2.1. Hiện trạng sản xuất lúa tại tỉnh Thái Bình
37
3.2.2.2 Hiện trạng sản xuất ngô tại tỉnh Thái Bình
40
3.2.3. Diễn biến khí hậu, thời tiết tại tỉnh Thái Bình
42
3.2.4. Thiệt hại đến sản xuất lúa, ngô tại Thái Bình do ảnh hưởng của biến
đổi khí hậu
47
3.2.5. Hiện trạng sản xuất nông nghiệp huyện Tiền Hải
56
3.2.6. Những nhận biết về tác động biến đổi khí hậu đến sản xuất cây trồng
tại xã Đông Cơ – Tiền Hải
70
3.5.1. Các biện pháp thích ứng, ứng phó với BĐKH trong sản xuất
cây trồng chủ lực.
70
v
3.5.2. Đề xuất các giải pháp giảm nhẹ tác động và thích ứng với biến đổi khí
hâu trong sản xuất cây trồng chủ lực ở tỉnh Thái Bình
71
3.5.2.1. Những giải pháp chung
71
3.5.2.2. Đề xuất các giải pháp cụ thể cho tỉnh Thái Bình
72
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3.2 Năng suất một số cây hàng năm
35
3.3 Sản lượng một số cây hàng năm
36
3.4 Thông tin cây trồng chủ lực lúa và ngô tại điểm điều tra tỉnh Thái Bình
36
3.5 Diễn biến diện tích canh tác lúa tại tỉnh Thái Bình (1000 ha)
38
3.6 Năng suất trồng lúa tỉnh Thái Bình (tạ/ha)
39
3.7 Sản lượng trồng lúa tỉnh Thái Bình giai đoạn 2009-2013 (1000 tấn)
40
3.8 Diện tích trồng ngô tỉnh Thái Bình (1000 ha)
41
3.9 Năng suất trồng ngô tỉnh Thái Bình (tạ/ha)
63
3.17 Một số biện pháp thích ứng của nông dân trong nông nghiệp do tác
động của BDKH tại tỉnh Thái Bình
64
3.18 Tác động của nhiệt độ đối với cây lúa theo các giai đoạn dựa trên kết
quả điều tra
65
vii
3.19 Tác động của các yếu tố khí hậu đối với cây ngô theo các giai đoạn
dựa trên kết quả điều tra
66
3.20 So sánh sự thay đổi năng suất lúa Xuân – tỉnh Thái Bình trong kịch
bản B2 BĐKH với năng suất năm tham chiếu (2013)
3.21
68
So sánh sự thay đổi năng suất lúa Mùa – tỉnh Thái Bình trong kịch
bản B2 BĐKH với năng suất năm tham chiếu (2013)
69
9
2.1. Cấu trúc mô DSSAT
24
3.1. Bản đồ vị trí hành chính của tỉnh Thái Bình
27
3.2. Bản đồ phân bố lượng mưa ở Thái Bình
28
3.3. Lượng mưa trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình
29
3.4. Nhiệt độ trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình
29
3.5. Số giờ nắng trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình
30
3.6. Diễn biến năng suất lúa tỉnh Thái Bình (tạ/ha)
39
PTNT
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghịêp
Phát triển nông thôn
NN & PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NBD
Nước biển dâng
MARD
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
MONRE
Bộ Tài nguyên và Môi trường
GOS
Tổng Cục Thống Kê
IPCC
Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Sản xuất nông nghiệp ở nước ta nói chung và sản xuất nông nghiệp tại tỉnh
Thái Bình nói riêng đang đứng trước nhiều thách thức do tác động của biến đổi khí
hậu ( BĐKH). Những thay đổi bất thường về thời tiết và các hiện tượng thời tiết
cực đoan đang tác động mạnh mẽ đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp trong
khi khả năng ứng phó của cộng đồng và người dân còn nhiều hạn chế.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một nội dung mới, mặc dù trên thế giới đã có
nhiều nghiên cứu về BĐKH nhưng ở Việt Nam thì mới chú trọng trong những
năm gần đây. Diễn biến của BĐKH ngày càng thể hiện phức tạp, nó tác động đến
hầu hết các lĩnh vực trong sản xuất đời sống, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp.
Hiện nay các nghiên cứu đánh giá tác động ở Việt Nam đa phần trên quy mô
vùng, toàn quốc. Các số liệu hiện chủ yếu mang tính chất định hướng.
Với bờ biển dài, địa hình phức tạp, đa dạng về điều kiện khí hậu, Việt
Nam được đánh giá là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất do tác
động tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH). Trong đó, nông nghiệp sẽ là ngành
chịu tác động nặng nề hơn bất cứ ngành nào khác bởi lẽ đối tượng sản xuất là cây
trồng, vật nuôi rất nhạy cảm với điều kiện thời tiết, khí hậu.
Thái Bình là tỉnh sản xuất nông nghiệp trọng điểm của vùng ĐBSH, trong
đó Lúa và Ngô là 2 cây lương thực có hạt chính và được trồng trên tất cả các loại
đất dùng cho mục đích sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Theo số liệu thống kê của
tỉnh Thái Bình, trong những năm gần đây diện tích lúa có xu hướng giảm dần
(diện tích Lúa 2 vụ trong toàn tỉnh năm 2009 là 167.100 ha đã giảm xuống còn
161.800ha năm 2013). Ngược lại với Lúa, diện tích Ngô trên địa bàn tỉnh lại có
xu hướng tăng dần (diện tích Ngô tăng từ 8.500 ha năm 2009 lên 9.300 ha năm
2013). Diện tích đất lúa giảm chủ yếu do 2 nguyên nhân chính là: (i) phát triển
đô thị và sản xuất công nghiệp; (ii) do nguyên nhân tác động của BĐKH như xói
mòn, sạt lở đất tại các vùng bãi bồi ven các con sông, xâm lấn mặn ở các vùng
1
Thái Bình”.
2
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng sản xuất nông nghiệp và một số cây trồng chủ
lực (lúa, ngô) tại tỉnh Thái Bình.
- Xác định được diễn biến, xu hướng và các biến đổi khí hậu, thời tiết ở
Thái Bình và lân cận trong thời gian qua và các dự báo có thể theo kịch bản biến
đổi khí hậu
- Bước đầu xác định được một số tác động và mức độ thiệt hại do hậu quả
của biến đổi khí hậu, thiên tai, thời tiết đến sản xuất một số cây trồng chủ lực
(lúa, ngô).
- Góp phần cung cấp cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp giảm thiệt hại
do tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất các cây trồng chủ lực (lúa, ngô)
của Thái Bình
Yêu cầu của đề tài
- Nêu được đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến hiện trạng sản
xuất cây trồng chủ lực chính của tỉnh Thái Bình.
- Nêu được tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất các cây trồng chủ
lực nói chung và cây trồng (lúa, ngô).
- Tập hợp được các kinh nghiệm của cán bộ địa phương và nông dân về
các ứng phó bất thuận của thời tiết, khí hậu đến sản xuất các cây trồng (lúa, ngô).
- Dự báo năng suất, sản lượng của các cây trồng lúa, ngô theo kịch bản
biến đổi khí hậu B2 ( kịch bản trung bình, MONRE 2011)
- Đề xuất các giải pháp đảm bảo sản xuất các loại cây trồng chủ lực (lúa,
ngô) tại tỉnh Thái Bình ứng phó với BĐKH.
3
phân bổ các nguồn tài nguyên thiết yếu và có tầm chiến lược quan trọng như
nước, đất trồng trọt..., làm trầm trọng thêm các thách thức an ninh phi truyền
4
thống khác đang nóng bỏng hiện nay như an ninh lương thực, an ninh năng
lượng, khoảng cách giàu-nghèo..., từ đó làm gia tăng nguy cơ bất ổn định, xung
đột, khủng bố, làm sâu sắc thêm các mâu thuẫn chính trị-xã hội ở nhiều nơi trên
thế giới. Dự báo đến năm 2025, khoảng 5 tỷ người có thể sẽ sống trong những
khu vực có nguy cơ căng thẳng, xung đột liên quan đến sự khan hiếm nước và
lương thực. Cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước về chi phối, kiểm soát các
nguồn tài nguyên thiết yếu của thế giới có chiều hướng gay gắt hơn có thể dẫn tới
đối đầu về quân sự liên quan đến việc phân bố lại các nguồn lực của thế giới.
Trước những diễn biến và ảnh hưởng tiêu cực mang tính toàn cầu của biến
đổi khí hậu, các nước trên thế giới đã có nhiều động thái tích cực nhằm ngăn
chặn những hiểm họa khôn lường mà biến đổi khí hậu có thể gây ra cho loài
người. Năm 1979, Hội nghị Khí hậu quốc tế lần thứ nhất đã ra tuyên bố kêu gọi
chính phủ các nước nhận thức về mức độ nghiêm trọng và tiến hành các hành
động nhằm giảm thiểu các tác động làm biến đổi khí hậu do con người gây ra.
Một loạt các hội nghị liên chính phủ thảo luận về vấn đề biến đổi khí hậu đã
được tổ chức từ những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 như: Hội nghị
Villach (10/1985), Hội nghị Toronto (6/1988), Hội nghị Ottawa (2/1989), Hội
nghị Tata (2/1989), Hội nghị và tuyên bố Hague (3/1989), Hội nghị bộ trưởng
Noordwijk (11/1989), Hội nghị Cairo (12/1989), Hội nghị Bergen (5/1990), và
Hội nghị Khí hậu thế giới lần thứ 2 (11/1990).
Cùng với các bằng chứng khoa học được đưa ra ngày càng nhiều, các hội
nghị liên quan đến biến đổi khí hậu và các tác động của nó ngày càng nhận được
sự quan tâm của các nhà khoa học cũng như cộng đồng quốc tế. Năm 1988, Ủy
ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) được UNEP và WHO thành lập.
- Khí nhà kính
- Bụi (Aerosols)
HOẠT ĐỘNG
TRÁI ĐẤT,
CON NGƯỜI
Tác động và tồn thương
Hệ sinh thái
Nguồn nước
An ninh lương thực
Định cư và trật tự xã hội
Sức khỏe cộng đồng
Phát triển kinh tế xã hội
Giảm thiểu
- Quản lý vĩ mô
- Xóa mù chữ
- Sức khỏe cộng đồng
- Công bằng xã hội
- Công nghệ
- Dân số
- Phát triển sản xuất và xây
dựng
- Hoạt động văn hóa xã hội
Thích ứng
con người. Con người khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên để sản xuất sản
phẩm, từ đó phát thải ra quá nhiểu chất thải, làm thay đổi và phá vỡ bầu khí
quyển dẫn đến thay đổi về khí hậu, đặc biệt là sự ấm lên của trái đất.
- Băng tan và nước biển dâng:
Nhiệt độ toàn cầu tăng lên làm cho băng ở vùng Bắc Cực tan nhanh. Kết quả
nghiên cứu IPCC cho thấy lượng băng che phủ Bắc cực giảm mạnh, trung bình
trên 2,7%/thập kỷ. Nhiều vùng trước đây được che phủ bằng lớp băng dầy, nay
đã bị tan rã và trở nên trơ trọi. Nhiều tảng băng lớn, thậm chí tương đương với
diện tích nước Bỉ đang trôi trên đại dương và đang hướng về nước Úc (IPCC,
2007). Băng tại Bắc Cực – khu vực tích trữ nguồn nước lớn nhất cả nước bị tan
rã làm cho mực nước biển dâng cao. Kết quả thống kê của IPCC và các cơ quan
nghiên cứu của Mỹ, Úc cho thấy nước biển toàn cầu dâng trung bình 1.8mm/năm
giai đoạn 1961-2003 và 3,1 mm/năm giai đoạn 1993-2003. Nước biển toàn cầu
đã dâng 0,31 m trong một thế kỷ gần đây. IPCC và các quốc gia trên thế giới
trong đó có Việt Nam đều dự báo rằng mực nước biển tiếp tục tăng trong những
thập kỷ tiếp theo và có thể đạt 100cm vào năm 2100.
Hình 1.3. Diễn biến nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng và băng tan 1850-2000
(IPCC, 2007)
8
- Thiên tai và các sự cố thời tiết bất thường:
Có thể nói rằng tính bất thường và mức độ thiên tai ngày càng trở nên
trầm trọng hơn trên khắp thế giới nhất là những giai đoạn gần đây.
350
300
250
200
Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có nhiệt độ tháng I tăng chậm hơn so
9
với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng từ 0,6 tới 0,90C trong 50 năm). Tính
trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 1,20 C trong 50
năm qua. Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng từ 0,3 đến 0,50C trong 50 năm qua trên
tất cả các vùng khí hậu của nước ta. Nhiệt độ trung bình năm tăng từ 0,5 đến 0,60
C trong 50 năm ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ,
Tây Nguyên và Nam Bộ còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ
thấp hơn, chỉ vào khoảng 0,30C trong 50 năm.
Xu thế chung của nhiệt độ là tăng ở hầu hết các khu vực trên cả nước, tuy
nhiên có những khu vực nhỏ thuộc vùng ven biển Trung Bộ và Nam Bộ như các tỉnh
Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Tiền Giang có xu hướng giảm của nhiệt độ. Đáng lưu
ý là ở những nơi này, lượng mưa tăng trong cả hai mùa: mùa khô và mùa mưa.
Mức thay đổi nhiệt độ cực đại trên toàn Việt Nam nhìn chung dao động
trong khoảng từ -30 C đến 30C. Mức thay đổi nhiệt độ cực tiểu chủ yếu dao động
trong khoảng từ -50 C đến 50C. Xu thế chung của nhiệt độ cực đại và cực tiểu là
tăng, tốc độ tăng của nhiệt độ cực tiểu nhanh hơn so với nhiệt độ cực đại, phù
hợp với xu thế chung của biến đổi khí hậu toàn cầu.
Lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng ít hoặc không thay đổi đáng kể
ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam
trong 50 năm qua. Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến hơn 10%
trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng từ 5 đến 20% ở các vùng
khí hậu phía Nam trong 50 năm qua. Xu thế diễn biến của lượng mưa năm tương
tự như lượng mưa mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các
vùng khí hậu phía Bắc. Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa
mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác ở nước ta, nhiều
nơi đến 20% trong 50 năm qua.
0,5
0,5
6
-6
-2
Đông Bắc Bộ
1,5
0,3
0,6
0
-9
-7
Đồng bằng Bắc Bộ
1,4
0,5
20
20
20
Tây Nguyên
0,9
0,4
0,6
19
9
11
Nam Bộ
0,8
0,4
0,6
27
Nam không có xu hướng biến đổi rõ ràng. Khu vực đổ bộ của các cơn bão và áp
thấp nhiệt đới vào Việt Nam có xu hướng lùi dần về phía Nam lãnh thổ nước ta;
số lượng các cơn bão rất mạnh có xu hướng gia tăng; mùa bão có dấu hiệu kết
thúc muộn hơn trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của bão
đến nước ta có xu hướng mạnh lên.
Hạn hán, bao gồm hạn tháng và hạn mùa có xu thế tăng lên nhưng với
mức độ không đồng đều giữa các vùng và giữa các trạm trong từng vùng khí hậu.
Hiện tượng nắng nóng có dấu hiệu gia tăng rõ rệt ở nhiều vùng trong cả nước,
đặc biệt là ở Trung Bộ và Nam Bộ.
* Phát thải khí nhà kính
Biến đổi khí hậu phụ thuộc chủ yếu vào mức độ phát thải khí nhà kính,
tức là phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, các kịch bản biến đổi
khí hậu được xây dựng dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu.
Các kịch bản phát thải khí nhà kính được xây dựng dựa trên các cơ sở: (1) Sự
phát triển kinh tế ở quy mô toàn cầu; (2) Dân số thế giới và mức độ tiêu dùng; (3)
Chuẩn mực cuộc sống và lối sống; (4) Tiêu thụ năng lượng và tài nguyên năng
lượng; (5) Chuyển giao công nghệ; (6) Thay đổi sử dụng đất.
* Kịch bản nước biển dâng
Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, mực nước
biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 đến
82cm; thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 49 đến 64cm. Trung bình
toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 57 đến 73cm (Bảng 1.2)
12
Bảng 1.2. Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm)
Khu vực
2060
2070
2080
2090
2100
11-
15-
20-
25-
31-
36-
42-
49-
12
17
18
24
32
39
48
56
65
12-
17-
23-
30-
37-
45-
52-
60-
61-
13
19
26
35
44
53
63
74
12-
17-
24-
31-
38-
46-
44-
51-
59-
14
20
27
35
44
54
64
75
13-
19-
25-
32-
Nam có thể tăng lên 300C và mực nước biển có thể dâng 1m. Theo đó, khoảng 40
nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập. Theo dự đoán của Chương
trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), các tác động trên sẽ gây thiệt hại rất
lớn về kinh tế và khiến khoảng 17 triệu người không có nhà. Theo nghiên cứu
của ngân hàng thế giới (WB), Nước ta với bờ biến dài và hai vùng đồng bằng
lớn, khi mực nước biển dâng cao từ 0,2 - 0,6m sẽ có từ 100.000 đến 200.000ha
đất bị ngập và làm thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Nước biển dâng
13
lên 1m sẽ làm ngập khoảng 0,3 - 0,5 triệu ha tại Đồng bằng sông Hồng và những
năm lũ lớn khoảng 90% diện tích của Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập từ 4 - 5
tháng, vào mùa khô khoảng trên 70% diện tích bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn
hơn 4g/l. Ước tính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng
số 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực Quốc gia và
ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân. Biến đổi khí hậu làm thay đổi điều kiện
sinh sống của các loài sinh vật, dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài và
ngược lại làm xuất hiện nguy cơ gia tăng các loài “thiên địch”. Trong thời gian 2
năm trở lại đây, dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá ở Đồng bằng sông Cửu Long
diễn ra ngày càng phức tạp ảnh hưởng đến khả năng thâm canh tăng vụ và làm
giảm sản lượng lúa. ở miền Bắc trong vụ Đông Xuân vừa qua sâu quấn lá nhỏ
cũng đã phát sinh thành dịch, thời cao điểm diện tích lúa bị hại đã lên đến
400.000ha, gây thiệt hại đáng kể đến năng suất và làm tăng chi phí sản xuất. Biến
đổi khí hậu có thể tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa, quy hoạch
vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên
đất, đa dạng sinh học bị đe dọa, suy giảm về số lượng và chất lượng do ngập nước
và do khô hạn, tăng thêm nguy cơ diệt củng của động vật, làm biến mất các nguồn
gen quý hiếm. Một số loài nuôi có thể bị tác động làm giảm sức đề kháng do biên
độ dao động của nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố ngoại cảnh khác tăng lên. Sự thay
đã nghiên cứu nhìn chung có xu hướng giảm. Có những vụ, năng suất lúa có thể
giảm trên 15% do biến đổi khí hậu. Theo kịch bản NBD 1m, sản lượng lúa nước
có nguy cơ bị suy giảm lên đến 7,1 triệu tấn chỉ tính riêng ở các tỉnh vùng
ĐBSCL; Chỉ tính riêng 1 vụ, mức thiệt hại là trên 3 triệu tấn lúa và ước tính thiệt
hại là 17 nghìn tỷ đồng ( giá lúa 2012).
Về kết quả nghiên cứu mô hình hóa, mô phỏng: Mô hình hiệu chỉnh cho
thấy các mô hình mô phỏng ở ĐBSH có sự khác biệt thấp so với kết quả theo dõi,
quan trắc từ thí nghiệm; nhưng các mô hình mô phỏng ở ĐBSCL có sự khác biệt
lớn so với kết quả quan trắc từ thí nghiệm và cần có các đánh giá chi tiết và thời
gian dài hơn. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, đối với cây ngô: mức độ
tổn thương trong sản xuất ngô ở cả 2 vùng đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) và
Đồng bằng Sông Cửu Long nằm ở mức 1 đến mức 3 và sản xuất ngô vùng
ĐBSH dễ bị tổn thương hơn so với vùng ĐBSCL (chỉ số tổn thương đối với cây
15
ngô ở vùng ĐBSH: 0,4; giao động từ 0,3-0,6; vùng ĐBSCL: 0,3; dao động từ
0,18-0,41); - Đối với cây đậu tương sự suy giảm diện tích trồng đậu tương trong
những năm vừa qua là do các yếu tố cạnh tranh khác, không phải do biến đổi khí
hậu. Mức độ tổn thương trong sản xuất đậu tương ở cả 2 vùng nằm ở mức 1 đến
mức 3. Chỉ số tổn thương đối với cây đậu tương ở vùng ĐBSH: 0,3; giao động từ
0,2-0,5; vùng ĐBSCL: 0,3; giao động từ 0,17-0,55.
1.3. Tổng quan một số phương pháp nghiên cứu đánh giá tác động của biến
đổi khí hậu
Có nhiều quan điểm lượng hóa và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu,
tuy nhiên các chuyên gia cũng đi tới được một thống nhất, để lượng hóa và đánh
giá các tác động từ biến đổi khí hậu nên đánh giá các tổn thất từ các nhóm giá trị
chịu tổn hại. Tổng hợp của Trần Văn Thể và CS ( 2009) cho thấy các quan điểm
gián tiếp của BĐKH đến cây trồng, vật nuôi. Phương pháp này có thể sử dụng để
tính toán tổn thất trực tiếp do thiên tai đến các cây trồng hoặc thông qua các mô
hình hóa để tính toán thay đổi về năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế trong
tương lai (Barbier E.ZB., 1994; Dixon J.A an et al, 1996 và EEPSEA 2008)
- Phương pháp chi phí sức khoẻ (Cost of Illness) do tác động của biến đổi
khí hậu nhưng phương pháp này không được sử dụng phổ biến khi đánh giá tác
động của biến đỏi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp do nông nghiệp mang tinh
chất thời vụ, những tồn thất về y tế do thiên tai nhưng không đúng thời vụ gieo
trồng sẽ không được tính là tác động do biến đổi khí hậu (Mirasgedis and V.
Hontou and et al, 2008)
- Phương pháp chi phí thay thế (Replacement Cost Method) cũng được sử
dụng để đánh giá tác tác động trực tiếp do hậu quả của biến đổi khí hậu như thiên
tai, phá hỏng các công trình, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp (Bolt
K.G. 2006).
- Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được (Damage Cost Avoided
Method): Các hệ sinh thái có chức năng bảo vệ, phòng tránh các thiệt hại đối với
con người. Chức năng bảo vệ này có giá trị tương đương với những gì có thể mất
đi nếu không được nó bảo vệ. Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được sử dụng
các giá trị của tài sản được bảo vệ hoặc những chi phí cho các hoạt động nhằm
tránh những thiệt hại đó, để đo lường lợi ích của hệ sinh thái (EPA, 2005)
17
- Phương pháp mô hình chọn lựa (Choice Modelling Method): Phương
pháp mô hình chọn lựa (CM) căn cứ vào sự ưa thích được thể hiện (stated
preference) của cá nhân thông qua phỏng vấn. Phương pháp này bắt nguồn từ
phân tích kết hợp, người được hỏi sẽ đứng trước nhiều tập hợp lựa chọn. Từ mỗi
tập hợp lựa chọn, người được hỏi sẽ chọn ra phương án mà họ ưa thích. Bằng
cách đặt cho mỗi thuộc tính một mức giá hoặc mức chi phí thì các ước lượng về